Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Giáo dục Hoàng tử

Thái Tông rất chú trọng đến việc giáo dục các hoàng tử. Ông thường xuyên răn dạy hậu duệ của mình phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, tăng cường tu dưỡng bản thân và nắm vững đạo trị quốc. Trong các bộ gia huấn qua các triều đại, gia huấn của đế vương chiếm một vị trí đặc biệt, mà đại diện tiêu biểu chính là bài “Giới Hoàng Thuộc” (Lời răn dạy người trong hoàng tộc) của Thái Tông. Trong “Giới Hoàng Thuộc”, Thái Tông răn dạy: “Trẫm tức vị thập tam niên hĩ, ngoại tuyệt du quan chi nhạc, nội khước thanh sắc chi ngu. Nhữ đẳng sinh vu phú quý, trường tự thâm cung. Phu đế tử thân vương, tiên tu khắc kỷ. Mỗi trứ nhất y, tắc mẫn tàm phụ; mỗi xan nhất thực, tắc niệm canh phu. Chí vu thính đoạn chi gian, vật tiên tứ kỳ hỉ nộ. Trẫm mỗi thân lâm thứ chính, khởi cảm đạn vu tiêu lao. Nhữ đẳng vật bỉ nhân đoản, vật thị kỷ trường, nãi khả vĩnh cửu phú quý, dĩ bảo trinh cát, tiên hiền hữu ngôn: ‘Nghịch ngô giả thị ngô sư, thuận ngô giả thị ngô tặc.’ bất khả bất sát dã.”

Tạm dịch:

Trẫm lên ngôi đã 13 năm, bên ngoài dứt bỏ thú vui du ngoạn, bên trong từ chối sự giải trí của thanh sắc. Các con sinh ra trong giàu sang, lớn lên nơi cung cấm. Là con của đế vương hay thân vương, trước tiên cần phải biết khắc chế bản thân. Mỗi khi mặc một chiếc áo, hãy thương xót người phụ nữ nuôi tằm; mỗi khi ăn một bữa cơm, hãy nhớ đến người nông dân cày cấy. Đến như khi nghe lời tâu trình hay quyết đoán việc gì, chớ để lòng yêu ghét, giận dữ của bản thân chi phối. Trẫm mỗi khi tự mình xử lý chính sự, đâu dám ngại sự lo toan vất vả. Các con đừng khinh miệt điểm yếu của người khác, cũng đừng cậy vào ưu điểm của bản thân, có thế mới giữ được giàu sang vĩnh cửu, bảo trì được sự chính trực cát tường. Tiên hiền có câu: ‘Người nghịch ta ấy là thầy ta, kẻ thuận ta ấy là giặc ta’. Điều này không thể bắt bẻ được.

Thái Tông đã lấy chính tấm gương cần mẫn chính sự của mình để răn dạy những người trong hoàng tộc “sinh trong giàu sang, lớn lên nơi cung cấm” phải biết tự tiết chế, trân trọng tài vật và không được xa hoa. Ông nhắc nhở rằng mỗi khi mặc áo, ăn cơm đều không được quên công lao khó nhọc của tằm phụ, nông phu.

Khi xem xét và quyết định việc gì, không được để ý muốn chủ quan đã có từ trước hay cảm xúc vui giận dẫn dắt; phải khiêm tốn và giỏi lắng nghe những ý kiến khác biệt. Các con không được vì người khác có khuyết điểm mà xem thường, cũng không được vì mình có sở trường mà kiêu ngạo. Phải xem người dám phản đối mình là thầy, xem kẻ xu nịnh mình là giặc. Chỉ có như vậy mới có thể giữ vững sự phú quý lâu dài, giữ được chính trực và tốt lành.

Tự ví với Nghiên Thuấn

Năm 18 tuổi, Thái Tông khuyên cha khởi binh, trải qua hơn 10 năm chinh chiến trên lưng ngựa. Sau khi đăng cơ năm 29 tuổi, ông đã quyết định “yển vũ tu văn” (ngừng việc binh đao, chú trọng văn trị), đặc biệt lưu tâm đến đạo trị quốc, để dân chúng được nghỉ ngơi và phục hồi sức lực.

Sách “Tân Đường Thư” có ghi lại: Thái Tông muốn thấu hiểu sự được mất của các triều đại trước, nên đặc biệt hạ chiếu cho Ngụy Trưng, Ngu Thế Nam, Chử Lượng và Đức Ngôn giải thích, thu thập và biên soạn lại những nguyên nhân hưng thịnh hay suy vong của các đời đế vương trong kinh sử.

Tuân theo chiếu chỉ của Thái Tông, Ngụy Trưng và Ngu Thế Nam đã chỉnh lý các sử liệu về việc trị quốc và tham chính của các đế vương từ thời các Thánh quân thượng cổ như Nghiêu, Thuấn, Vũ trở về sau. Họ đã chắt lọc tinh hoa từ Lục Kinh, Tứ Sử và Chư tử Bách gia, từ hơn 14.000 bộ sách cổ với 89.000 quyển để “lựa chọn trong quần thư, cắt bỏ những phần rườm rà bừa bãi”.

Đến năm Trinh Quán thứ năm (năm 631), bộ sách đã hoàn thành, bao gồm 65 bộ với khoảng hơn 50 vạn chữ, lấy tên là “Quần Thư Trị Yếu”. Đây là bộ sách hướng dẫn các lý thuyết và phương pháp trị quốc trọng yếu, hội tụ trí tuệ, phương pháp, hiệu quả và kinh nghiệm trị quốc của các bậc cổ Thánh Tiên hiền trong hàng ngàn năm.

Đường Thái Tông rất yêu thích bộ sách này vì tính “uyên bác mà ngắn gọn” của nó. Ông nói rằng: “Khiến Trẫm có thể xét việc xưa mà không mê muội trước việc nay, chính là công sức của các khanh vậy!”. Sau đó, ông đã ban thưởng vô cùng hậu hĩnh cho họ.

“Quần Thư Trị Yếu”, bản khắc chữ rời bằng đồng năm Nguyên Hòa thứ hai Nhật Bản, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Văn hóa Phương Đông thuộc Đại học Tokyo. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Thái Tông tự ví mình với Nghiêu, Thuấn, lòng luôn lo nghĩ cho chúng sinh. Mỗi khi gặp thiên tai nhân họa, Thái Tông luôn tự trách mình trước tiên, kính Trời cầu Thần, đại xá thiên hạ, thậm chí còn tự mình nuốt chửng châu chấu để giảm bớt và gánh chịu nghiệp lực cho nhân dân, giúp đất nước vượt qua hoạn nạn.

Năm Trinh Quán thứ hai, vùng kinh sư Trường An xảy ra đại hạn, châu chấu bay rợp trời. Thái Tông đích thân vào vườn thượng uyển để quan sát hoa màu. Khi nhìn thấy châu chấu, ông dùng tay bắt lấy vài con và nói: “Con người lấy ngũ cốc để duy trì mạng sống, ngươi lại ăn sạch nó, chính là gây hại cho bách tính. Nếu dân có lỗi, trách nhiệm là ở một mình Trẫm. Nếu ngươi có linh tính, thì đừng hại dân nữa, hãy đến ăn tim Trẫm đây này!”

Nói đoạn, ông định nuốt chửng con châu chấu vào bụng. Các đại thần đi cùng vội vàng can ngăn: “Sợ sẽ sinh bệnh, không nên ạ.” Thái Tông đáp: “Trẫm chính là đang hy vọng dời tai họa này sang thân mình, sợ gì bệnh tật?” Nói rồi liền nuốt con châu chấu vào bụng. Kể từ đó, dưới thời Thái Tông, không bao giờ còn nạn châu chấu nữa. (Trích “Trinh Quán Chính Yếu – Vụ Nông đệ tam thập”). Ngoài ra, Thái Tông còn ban bố “Hạn Hoàng Đại Xá Chiếu” (Chiếu đại xá vì hạn hán và nạn châu chấu) để giảm bớt gánh nặng cho trăm họ.

Một phần bức “Thập bát học sĩ đồ bính” của họa sĩ thời Tống, tranh lụa màu, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc gia Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Chương 4: Vua hiền tôi sáng

Quan lại tự giác thanh liêm, cẩn trọng

Trong những năm Trinh Quán khi Thái Tông tại vị, vua sáng tôi hiền, bách tính an cư lạc nghiệp. Từ trên xuống dưới đều toát lên khung cảnh thịnh thế: kính Trời trọng Đạo, tu thân dưỡng đức, khiêm nhường lễ độ, người người thân thiết. Thời hoàng kim Trinh Quán khiến ngàn đời sau không ngớt lời ca ngợi đó rốt cuộc có diện mạo thế nào? Sách sử đã ghi chép như thế này:

“Quan lại đa tự thanh cẩn. Chế ngự vương công, phi chủ chi gia, đại tính hào hoạt chi ngũ, giai úy uy bình tích, vô cảm xâm khi tế nhân. Thương lữ dã thứ, vô phục đạo tặc, linh ngữ thường không, mã ngưu bố dã, ngoại hộ bất bế. Hựu tần trí phong nhẫm, mễ đấu tam tứ tiễn, hành lữ tự kinh sư chí vu lĩnh biểu, tự sơn đông chí vu thương hải, giai bất lương, thủ cấp vu lộ. Nhập sơn đông thôn lạc, hành khách kinh quá giả, tất hậu gia cung đãi, hoặc phát thì hữu tặng di. Thử giai cổ tích vị hữu dã.” (Trích “Trinh Quán Chính Yếu – Chính thể đệ nhị”)

Đại ý là:

Quan lại liêm khiết, tự giác giữ mình; hàng vương công quý tộc, thân thích nhà vua và các đại gia tộc hào môn đều kính sợ uy thế của quân chủ mà không dám ức hiếp, nhũng nhiễu dân lành.

Thương gia và lữ khách có thể yên tâm ngủ ngoài đồng nội; trộm cướp vắng bóng, nhà tù thường xuyên để trống, trâu ngựa thả rông khắp nơi; cửa nhà không cần then cài khóa chốt. Suốt nhiều năm liền ngũ cốc dư dật, một đấu gạo chỉ có giá ba, bốn đồng. Khách đi đường từ kinh thành đến tận vùng Ngũ Lĩnh, hay từ phía Đông ngọn núi ra đến tận biển Đông đều không cần mang theo lương khô, vì dọc đường luôn có nguồn cung cấp. Khi vào các thôn làng phía Đông, lữ khách đi ngang qua đều được tiếp đãi nồng hậu, lúc rời đi còn thường được tặng quà mang về.

Tất cả những điều này là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Một thịnh thế thái bình như vậy khiến người thời nay cảm thấy khó tin, không tưởng, nhưng đó lại chính là một trang sử chân thực, thật sự tồn tại về Đại Đường hơn 1300 năm trước.

Tranh Đường Thái Tông do người thời Thanh vẽ trên lụa màu. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

“Trực ngôn vô ẩn” (Nói thẳng không che giấu)

Thái Tông nhiều lần yêu cầu các quan viên phải thẳng thắn can gián, dám chạm đến uy nghiêm của hoàng đế, tìm ra những chính sách sai lầm, lấy lịch sử làm gương, chuyên tâm trị quốc. Trong chiếu thư “Cầu trực ngôn thủ Chiếu” có viết: “Trẫm văn Nghiêu Thuấn chi quân, tự ngu nhi ích trí; Kiệt Trụ chi chủ, độc trí dĩ thiêm ngu. Cố dị thuận nghịch vu trung ngôn, tắc thù vinh nhục vu đế đạo… . Sở dĩ hư kỷ ngoại cầu, phi trung nội tỉnh. Ngôn nhi bất dụng, Trẫm sở cam tâm; dụng nhi bất ngôn, thùy chi trách dã? Tự tư dĩ hậu, các tất nãi thành. Nhược hữu thị phi, trực ngôn vô ẩn.”

Tạm dịch:

Trẫm nghe nói bậc quân chủ như Nghiêu, Thuấn, dù tự nhận mình ngu muội nhưng lại càng thêm sáng suốt; kẻ đứng đầu như Kiệt, Trụ, dù tự cho mình tài giỏi nhưng lại càng thêm u mê. Bởi lẽ, việc phân biệt lời can gián là thuận hay nghịch sẽ dẫn đến sự khác biệt về vinh hay nhục trong đạo trị quốc… Vì vậy, Trẫm luôn khiêm nhường cầu thị bên ngoài, tự soi xét nội tâm. Lời nói ra mà không dùng được, Trẫm cam lòng chịu trách nhiệm; nhưng nếu điều cần dùng mà không ai nói, thì đó là lỗi của ai? Từ nay về sau, các khanh hãy dốc hết lòng thành. Nếu có điều gì thị phi, hãy nói thẳng không được che giấu.

Những năm Trinh Quán, vì sao bên cạnh Thái Tông lại quy tụ được nhiều nhân tài kinh bang tế thế đến vậy? Ngoài việc Thái Tông biết nhìn người, biết bao dung, giỏi dùng người, tấm lòng quảng đại ra, thì việc tuyển người dùng người còn vô cùng “thận trọng”, tuyệt đối không cho phép những kẻ bất tài trà trộn vào trong hàng ngũ.

Hầu hết trọng thần của Thái Tông đều là những người chính trực, thanh liêm, nhà nghèo như tắm rửa; họ một lòng phò tá Thái Tông, cống hiến tận tụy cho đến hơi thở cuối cùng. Chính nhờ những sách lược này của Thái Tông mà nhà Đường từ thuở sơ khai với muôn vàn khó khăn đã nhanh chóng tiến tới thời kỳ “Trinh Quán chi trị” phồn thịnh. Sự bùng nổ của thời đại ấy đã tạo nên một triều đại đệ nhất Trung Hoa — hoàng triều Đại Đường uy phong lẫm liệt.

24 công thần Gác Lăng Yên. (Ảnh do The Epoch Times chế tác)

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/16/6/23/n8030388.htm