Trang chủ Right arrow Loại khác

Nhân vật Thiên cổ anh hùng Trung Quốc - Đường Thái Tông (2): Hùng tài chớm nở

29-01-2026

Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Chân dung Đường Thái Tông, tranh màu trên lụa, trước nằm trong bộ sưu tập của Nam Huân Điện cố cung Bắc Kinh, nay thuộc Bảo tàng Cố cung Quốc gia ở Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Chương 2: Nam chinh Bắc chiến, đánh đâu thắng đó

Phần thứ nhất: Thành tựu về mặt quân sự bình định đất nước

Cái nhìn toàn diện về chiến cuộc

Những năm đầu Đại Đường mới lập, lãnh thổ chỉ giới hạn ở vùng Quan Trung và Hà Đông. Từ năm đầu Vũ Đức (năm 618), Đường Cao Tổ Lý Uyên thân là Hoàng đế, trấn thủ Trường An. Nhưng quần hùng trong thiên hạ cũng đồng thời tồn tại, vương triều Lý Đường cần phải chinh chiến khắp nơi, bình định bốn phương mới có thể nhất thống thiên hạ. Đương thời, những người xưng Vương xưng Đế, cầm quân hùng bá một phương có khá nhiều.

Thời Lý Uyên khởi binh, hai cha con Tiết Nhân Cảo chiếm giữ vùng Lũng Hữu, xưng Đế, quốc hiệu Tần. Lưu Vũ Chu xưng Đế, quốc hiệu Hán, là một nhánh lực lượng quan trọng ở miền Bắc của vùng Sơn Tây, trực tiếp uy hiếp đến nơi chiếm cứ của Lý Đường là Thái Nguyên. Vương Thế Sung chiếm cứ Hà Nam, xưng Đế, quốc hiệu Trịnh, không thể xem thường. Đậu Kiến Đức thành lập chính quyền, quốc hiệu Hạ, xưng hùng ở vùng Hà Bắc, không ai bì nổi. Ở dải trung du, hạ du của Trường Giang, nhóm người như Tiêu Tiển, Đỗ Phục Uy, Phụ Công đều nóng lòng chờ đợi thời cơ. Biên giới phía Bắc thì có giặc Đột Quyết, thế lực vô cùng lớn mạnh, như hổ đói đang nhòm ngó Trung Nguyên. Trung Nguyên bị thiên hạ tranh giành, tàn sát khốc liệt, ai có thể quét sạch quần hùng thì mới có thể thống lĩnh thiên hạ, xưng Vương trị quốc. Chính như cái gọi là: “Binh chinh thiên hạ, Vương giả trị quốc”.

Trong những trận chiến chính yếu góp phần thống nhất thiên hạ của Đại Đường, Thái Tông hoặc là trực tiếp tham gia và khởi tác dụng quan trọng trong đó, hoặc là trực tiếp nắm giữ ấn soái, đặc biệt là đích thân thống lĩnh quân Đường trong mấy trận đánh bại Tiết Nhân Cảo, Tống Kim Cương, Lưu Vũ Chu, Vương Thế Sung, Đậu Kiến Đức, Lưu Hắc Thát. Đó đều là những trận chiến quan trọng nhất, cũng là những lần đại chiến hình thế nguy cấp nhất, chiến sự gian nan nhất trong suốt quá trình thống nhất Đại Đường. Sau mỗi lần chiến tranh thắng lợi, Thái Tông xem trọng việc trấn an kẻ đầu hàng, thu nạp người tài, ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Thái Tông bởi lập nhiều chiến công, về sau được Cao Tổ phong là Thiên Sách Thượng Tướng, địa vị ở trên tất cả các công hầu.

Bản đồ lãnh thổ những năm Trinh Quán thời Đường Thái Tông. (Ảnh: Cửu Xảo Tử/Wikipedia)

Hùng tài chớm nở

Năm Đại Nghiệp thứ 11, Tùy Dạng Đế bị 10 vạn quân thiết kỵ của Đột Quyết bao vây ở Nhạn Môn, không cách nào đột phá vòng vây, chỉ có thể buộc chiếu thư lên trên khúc gỗ, thả xuống sông Phần cho chiếu thư trôi theo dòng nước, hy vọng có người nhìn thấy chiếu thư sẽ đến cứu viện. Thái Tông năm đó chỉ mới 16 tuổi, hưởng ứng lệnh triệu tập mà tòng quân dưới quyền của tướng Vân Định Hưng. Khi đó, dưới trướng Vân Định Hưng chỉ có hai vạn tân binh, hơn nữa phần nhiều đều là bộ binh. Thái Tông kiến nghị lên Vân Định Hưng: Đột Quyết dám bao vây Thiên tử, là cho rằng chúng ta không có quân cứu viện. Chi bằng chúng ta giãn quân ra thành hàng dài, kéo dài mấy chục dặm, để quân địch ban ngày nhìn thấy cờ xí phấp phới, buổi tối nghe thấy tiếng chiêng trống, sẽ lầm tưởng là đại quân áp sát, như vậy mới có thể không đánh mà thắng. Còn nếu chúng biết thực hư của ta, hai quân giáp mặt đánh nhau, thì thắng bại khó đoán trước được.

Vân tướng quân tiếp thu kế nghi binh của Thái Tông, quân Đột Quyết nhìn thấy quân Tùy cuồn cuộn không dứt, quả nhiên cho rằng lượng lớn cứu viện của quân Tùy kéo đến, bèn giải vây bỏ chạy.

Lý Thế Dân đánh trống khua chiêng đẩy lùi quân địch. (Ảnh: Tào Túy Mộng/The Epoch Times)

Hồi Lý Uyên trấn giữ Thái Nguyên, Thái Tông 18 tuổi. Tướng giặc Cao Dương là Ngụy Đao Nhi, tự hiệu Lịch Sơn Phi, vô cùng kiêu dũng, dẫn binh đến tấn công Thái Nguyên. Lý Uyên dẫn binh đánh trả, không may lọt sâu vào trận địa địch, không cách nào đột phá ra khỏi vòng vây. Thái Tông dùng kỵ binh hạng nhẹ phá vây mà tiến vào, giương cung bắn địch, quân địch tán loạn, cứu thoát Lý Uyên từ trong vạn người. Sau đó, bộ binh của quân địch lại kéo đến, Lý Uyên và Thái Tông lại hăng hái đánh trả, đại phá quân địch.

Lúc đó khí số nhà Tùy đã tận, khởi nghĩa dấy lên khắp nơi, khói lửa chiến tranh mù mịt, dân chúng lầm than. Thái Tông chuẩn bị thành lập nghĩa binh, ngày ngày cứu trợ bách tính, đối xử trọng hậu với binh sĩ, bỏ tiền nuôi hiệp khách. Nhân sĩ giang hồ, nghĩa sĩ hiệp khách, ai nấy đều tự nguyện dốc hết sức mình, chuẩn bị chu đáo cho nghĩa binh Lý Đường khởi nghĩa.

Tháng 5 năm Đại Nghiệp thứ 13 (năm 617), Thái Tông lòng mang thiên hạ, mong mỏi cứu vớt người dân thoát khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng; lo nghĩ cho chúng sinh, bày mưu tính kế; thừa thiên ý, thuận lòng dân, khuyên cha khởi binh. Lý Uyên sau đó ở Tấn Dương lấy khẩu hiệu Cần Vương Thảo Tặc (giúp vua đánh dẹp gian tặc) chính thức khởi binh, mở ra một triều đại mới là Đại Đường. Cùng với nghĩa binh, Thái Tông dẫn quân đánh chiếm được Tây Hà. Ông được phong làm Hữu lĩnh Đại Đô đốc, hữu tam quân đều thuộc Thái Tông quản lý, rồi được tấn phong là Đôn Hoàng Quận Công.

Tháng 7, Thái Tông theo Lý Uyên xuất chinh, giằng co với hai vạn tinh binh của Tống Lão Sinh – tướng nhà Tùy ở Ấp Hoắc tỉnh Sơn Tây. Đúng lúc mưa hoài không dứt, lương thực cạn kiệt, Cao Tổ thảo luận với trưởng sử Bùi Tịch, chi bằng tạm thời trở về Thái Nguyên, sau này lại mưu đồ khởi sự. Thái Tông cầu xin cha đừng rút quân. Thái Tông nói: “Vốn dĩ phát động đại nghĩa là vì để cứu vớt bách tính, trước hết cần phải đánh vào Hàm Dương, hiệu lệnh thiên hạ; mới gặp kẻ địch nhỏ đã rút quân trở về, e rằng những người gia nhập nghĩa quân sẽ phải giải tán trong một sớm. Quay về trấn giữ vùng Thái Nguyên chỉ có một thành, đây chẳng qua chỉ là hành vi của giặc cỏ mà thôi, làm sao có thể bảo toàn bản thân đây!”. Nhưng Lý Uyên không nghe theo, ra lệnh đốc thúc nghĩa quân mau chóng lên đường. Thái Tông liền khóc lớn ở bên ngoài, tiếng khóc vang vào tận trong trướng. Lý Uyên đòi gặp hỏi nguyên nhân, Thái Tông nói: “Hiện nay, quân đội mượn chính nghĩa mà hành động, nếu như tiến quân, chiến đấu nhất định sẽ giành được thắng lợi, còn lui về thể nào cũng sẽ giải tán. Nghĩa quân rã đám trước, sau đó quân địch thừa cơ đuổi đánh, bỏ mạng chỉ trong khoảnh khắc, bởi vậy mà đau lòng”. Lý Uyên hiểu ra mà ngưng việc lui binh.

Tượng đứng của Đường Cao Tổ Lý Uyên, trước nằm trong bộ sưu tập của Nam Huân Điện cố cung Bắc Kinh, nay thuộc Bảo tàng Cố cung Quốc gia ở Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tháng 8 mưa tạnh, dẫn quân đi đánh chiếm Ấp Hoắc. Thái Tông sợ Tống Lão Sinh không xuất chiến, bèn dẫn theo vài kỵ binh đến dưới thành Ấp Hoắc, cầm theo roi ngựa khua tay ra dấu, giống như đã bao vây thành để chọc giận Lão Sinh. Lão Sinh quả nhiên tức giận, mở cửa thành xuất binh, đứng dựa vào cổng thành bài binh bố trận. Lý Uyên và Kiến Thành cùng dàn trận ở thành đông, Thái Tông và Sài Thiệu bày trận ở thành nam. Lão Sinh chỉ huy quân sĩ cấp tốc tiến lên, áp sát Cao Tổ trước, lúc này Kiến Thành đột nhiên ngã ngựa, Lão Sinh thừa cơ tiến công, quân của Lý Uyên và Kiến Thành vội vàng rút lại phía sau. Thái Tông từ điểm cao ở thành nam dẫn đầu hai đội kỵ binh vội vàng đi xuống, chia cắt đội quân của Lão Sinh, lại dẫn quân ra sức tấn công, quân địch đại bại, vứt bỏ vũ khí chạy trốn. Lão Sinh lui về đến cổng thành, cửa thành hạ xuống, Lão Sinh tay nắm lấy sợi dây thừng muốn leo lên thành, nhưng bị chém chết, thế là bình định được Ấp Hoắc.

Chân dung Sài Thiệu được miêu tả trong “Mặc Diệu Châu Lâm” của Thẩm Nguyên thời nhà Thanh, nay thuộc Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Đến Hà Đông, hào kiệt vùng Quan Trung tranh nhau đến tham gia nghĩa quân. Thái Tông xin tiến quân vào trong quan ải, đánh chiếm kho thóc Vĩnh Phong cứu tế dân nghèo, thu phục quần hùng và các hào kiệt đánh chiếm kinh đô, Cao Tổ khen hay. Thái Tông dẫn quân đi trước vượt qua Hoàng Hà, trước tiên bình định Vị Bắc. Quan dân và thân sĩ hào kiệt ở các vùng phụ cận kinh đô kéo đến doanh trại, mỗi ngày có đến mấy nghìn người xin được gia nhập nghĩa quân, già trẻ dắt díu nhau, đầy khắp doanh trại. Thái Tông thu nạp anh tài, chọn người tài mà dùng, người ở xa gần nghe thấy vậy, đều nô nức kéo đến đầu quân.

Quân Đường cắm trại ở Kính Dương, binh sĩ ưu tú có trên 9 vạn, đánh tan bọn kẻ cướp người Hồ là Lưu Diêu Tử, thu phục bộ hạ của y, để Ân Khai Sơn và Lưu Hoành Cơ đóng quân ở thành cũ Trường An. Bản thân Thái Tông dẫn quân chạy đến Tư Trúc, thủ lĩnh bọn cướp là đám Lý Trọng Văn, Hà Phan Nhân, Hướng Thiện Chí đều đến gặp mặt, dừng chân ở A Thành, thu được 13 vạn binh sĩ. Người dân Trường An đưa thịt rượu đến cửa trại tiếp đãi nghĩa quân nhiều không kể xiết, Thái Tông đều ân cần hỏi han, sau đó đích thân tiễn chân, quà cáp một mực không nhận. Quân lệnh nghiêm minh, vật nhỏ cũng không lấy. Tiếp sau dẫn đại quân bình định kinh thành, ông được đổi lại phong là Tần Quốc Công.

(Còn tiếp)

Dịch và chỉnh lý từ:

https://www.zhengjian.org/node/153194

https://www.epochtimes.com/gb/16/6/8/n7979143.htm

Epoch Times Tiếng Việt

« Bài trước

Ban Biên Tập Chánh Kiến

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.

Loạt bài