Tác giả: Cửu Số

[ChanhKien.org]

Bạn đọc nào quan tâm xin tìm đọc trên trang Chánh Kiến loạt bài viết “Giải mã văn hóa Trung Hoa” của tác giả Chính Ngộ. Chính nhờ đọc loạt bài này, cùng với những bài viết trước đó của tác giả Mai Hoa Nhất Điểm, và được hai vị ấy gợi mở, truyền cảm hứng sâu sắc, nên tôi mới bắt đầu viết loạt bài “Toán thuật mạn đàm”.

Bài viết đầu tiên trong loạt bài “Giải mã văn hóa Trung Hoa” đã khảo cứu về Hà Đồ và Lạc Thư. Trong đó có viết rằng: “Tương truyền vào thời Phục Hy trong Tam Hoàng thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những điểm đen trắng cấu thành một bức đồ; Phục Hy theo đó mà diễn ra Bát Quái, bức đồ này gọi là “Hà Đồ”. Rất nhiều người đều thử một quá trình suy luận như vậy, nhưng đều thất bại, từ đó cho rằng đây chỉ là truyền thuyết. Thực ra điều này là có thật, sau đây tôi sẽ trình bày về việc Bát Quái đã được suy ra như thế nào”. Bài viết này đã được đăng tải từ vài tháng trước rồi (thời điểm năm 2008).

Vậy Bát Quái rốt cuộc được suy ra từ Hà Đồ như thế nào? Có lẽ không ít người cũng sẽ hứng thú với chủ đề này. Tôi viết bài này nhằm thảo luận một chút về cách suy ra Bát Quái từ Hà Đồ. Cách trình bày ở đây hoàn toàn triển khai từ nền tảng số học, lần theo nhiều manh mối khác nhau, lập luận mang tính mới mẻ và độc đáo. Trên thực tế trong loạt bài “Toán thuật mạn đàm” này, tôi cố gắng không viện dẫn các quan điểm trong sách vở cổ, như vậy nội dung sẽ thuần túy và nhẹ nhàng hơn.

Hà Đồ dùng mười số, trong khi Bát Quái chỉ có tám. Loại bỏ số 5 và số 10 thì còn lại đúng tám số: 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9. Để xây dựng phép ánh xạ giữa Hà Đồ và Bát Quái, điều cốt yếu là xác lập hợp lý mối quan hệ tương ứng giữa các số và các quẻ.

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Một biến thành hai, hai biến thành bốn, bốn biến thành tám. Một nhân đôi thành hai; hai nhân đôi thành bốn; bốn nhân đôi thành tám.

Lấy 10 chia đôi được 5; lấy 5 chia đôi, bỏ phần lẻ (lấy phần nguyên) được 2; lấy 2 chia đôi được 1.

Phép cộng biểu thị Dương, phép trừ biểu thị Âm.

Có gấp bội, có chia đôi; có cộng thêm, có trừ bớt; như vậy từ Hà Đồ có thể diễn ra Bát Quái. Lấy số 10 làm khởi đầu, trước hết trải qua phép cộng hoặc trừ với số 5, tiếp đó trải qua phép cộng hoặc trừ với số 2, rồi lại trải qua phép cộng hoặc trừ với số 1. Sau ba lần biến đổi như vậy, từ số 10 có thể sinh ra tám con số; tám con số ấy có thể đối ứng với Bát Quái.

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi:

Lấy 10, cộng 5, được 15 (10+5=15), đó là Dương;
Lấy 10, trừ 5, được 5 (10-5=5), đó là Âm.

Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng:

Lấy 15, cộng 2, được 17, đó là Dương Dương (10+5+2=17);
Lấy 15, trừ 2, được 13, đó là Dương Âm (10+5-2=13);
Lấy 5, cộng 2, được 7, đó là Âm Dương (10-5+2=7);
Lấy 5, trừ 2, được 3, đó là Âm Âm (10-5-2=3).

Tứ Tượng sinh Bát Quái:

Lấy 17, cộng 1, được 18, lấy một nửa là 9, đây là Dương Dương Dương; (10+5+2+1=18→9)
Lấy 17, trừ 1, được 16 , lấy một nửa là 8, đây là Dương Dương Âm; (10+5+2−1=16→8)
Lấy 13, cộng 1, được 14, lấy một nửa là 7, đây là Dương Âm Dương; (10+5−2+1=14→7)
Lấy 13, trừ 1, được 12, lấy một nửa là 6, đây là Dương Âm Âm; (10+5−2−1=12→6)
Lấy 7, cộng 1, được 8, lấy một nửa là 4, đây là Âm Dương Dương; (10−5+2+1=8→4)
Lấy 7 trừ 1, được 6, lấy một nửa là 3, đây là Âm Dương Âm; (10−5+2−1=6→3)
Lấy 3, cộng 1, được 4, lấy một nửa là 2, đây là Âm Âm Dương; (10−5−2+1=4→2)
Lấy 3, trừ 1, được 2, lấy một nửa là 1, đây là Âm Âm Âm. (10−5−2−1=2→1)

Theo Tiên Thiên Bát Quái, mối quan hệ đối ứng giữa tên quẻ và các hào âm dương như sau:

Dương, Dương, Dương (☰), đó là quẻ Càn;
Dương, Dương, Âm (☱), đó là quẻ Đoài;
Dương, Âm, Dương (☲), đó là quẻ Ly;
Dương, Âm, Âm (☳), đó là quẻ Chấn;
Âm, Dương, Dương (☴), đó là quẻ Tốn;
Âm, Dương, Âm (☵), đó là quẻ Khảm;
Âm, Âm, Dương (☶), đó là quẻ Cấn;
Âm, Âm, Âm (☷), đó là quẻ Khôn.

Số 10 sau khi trải qua ba lần biến đổi, lấy giá trị bằng một nửa của kết quả thu được, sẽ chuyển thành các số: 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9.

10 biến thành 9, sau khi lần lượt thực hiện cộng 5, cộng 2, cộng 1 (10+5+2+1=18→9), ba phép cộng tương ứng với tổ hợp ba hào: Dương Dương Dương (☰), đó là quẻ Càn;
10 biến thành 8; sau khi lần lượt thực hiện cộng 5, cộng 2, trừ 1 (10+5+2−1=16→8), hai phép cộng và một phép trừ tương ứng với tổ hợp ba hào: Dương Dương Âm, đó là quẻ Đoài (☱);
10 biến thành 7, sau khi lần lượt thực hiện cộng 5, trừ 2, cộng 1 (10+5−2+1=14→7), tương ứng với tổ hợp ba hào: Dương Âm Dương, đó là quẻ Ly (☲);
10 biến thành 6, sau khi lần lượt cộng 5, trừ 2, trừ 1 (10+5-2−1=12→6); tương ứng với tổ hợp ba hào: Dương Âm Âm, đó là quẻ Chấn (☳);
10 biến thành 4, sau khi lần lượt trừ 5, cộng 2, cộng 1 (10−5+2+1=8→4), tương ứng với tổ hợp ba hào: Âm Dương Dương, đó là quẻ Tốn (☴);
10 biến thành 3, sau khi lần lượt trừ 5, cộng 2, trừ 1 (10−5+2−1=6→3), tương ứng với tổ hợp ba hào: Âm Dương Âm, đó là quẻ Khảm (☵);
10 biến thành 2, sau khi lần lượt trừ 5, trừ 2, cộng 1 (10−5−2+1=4→2), tương ứng với tổ hợp ba hào: Âm Âm Dương, đó là quẻ Cấn (☶);
10 biến thành 1, sau khi lần lượt trừ 5, trừ 2, trừ 1 (10−5−2−1=2→1), tương ứng với tổ hợp ba hào: Âm Âm Âm, đó là quẻ Khôn (☷);

Như vậy, chúng ta đã suy ra được Bát Quái từ Hà Đồ.

Theo trình tự của Tiên Thiên Bát Quái, tám quẻ được bố trí theo hình vòng tròn, theo chiều ngược kim đồng hồ, thứ tự là: quẻ Càn, quẻ Đoài, quẻ Ly, quẻ Chấn, quẻ Khôn, quẻ Cấn, quẻ Khảm, quẻ Tốn.

Đoài Càn Tốn
Ly Trung tâm Khảm
Chấn Khôn Cấn

Trong đồ hình Bát Quái được sắp xếp theo dạng vòng tròn, nếu thay mỗi quẻ bằng con số tương ứng với nó, rồi viết số năm vào chính giữa, ta sẽ thu được sơ đồ số như sau:

8 9 4
7 5 3
6 1 2

Điều thú vị là sơ đồ số này vốn dĩ đã tuân theo quy luật: mỗi cặp số đối ứng đều có tổng bằng mười. Nếu đổi chỗ hai số 2 và 8 thì sẽ thu được ngay đồ hình Lạc Thư. Cần lưu ý rằng đồ hình Lạc Thư này lại là bản đối xứng trái–phải (lật ngang) so với cách sắp xếp Lạc Thư thông dụng.

2 9 4
7 5 3
6 1 8

Cổ nhân có câu: Hãy xem xét ý nghĩa của nhan đề, rồi nhận rõ chủ đích của tác giả. Những nội dung trình bày trong bài này chỉ là kiến giải riêng của tác giả, xin quý độc giả chỉ tham khảo.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/55636