Tác giả: Lâm Lâm
[ChanhKien.org]
“Một bên hoa nở vườn tiên, một bên ngọc đẹp không hoen ố màu, bảo rằng chẳng nợ duyên đâu, thì sao lại được gặp nhau kiếp này, bảo rằng sẵn có duyên may, thì sao sau lại nhạt phai tâm tình…” Đi cùng vẻ đẹp buồn thương da diết trong ca khúc nhạc phim “Uổng ngưng mi”, “Hồng Lâu Mộng” đã phổ biến khắp vùng Hoa Hạ. Người say mê tập sách Hồng lâu từng có một câu như thế này: “Đã đọc ‘Hồng Lâu Mộng’, thì không còn đọc sách nào khác được nữa”. Nhưng cũng có người e ngại độ dài, mà cả đời chưa đọc qua “Hồng Lâu Mộng”.
Xâu chuỗi “Hồng Lâu Mộng” là câu chuyện tình yêu giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc, vận mệnh bi thảm của Kim Lăng thập nhị thoa (mười hai cô gái ưu tú hàng đầu ở Kim Lăng – nay là Nam Kinh), sự hưng suy của bốn gia tộc Giả, Vương, Sử, Tiết, những câu thơ khúc vịnh được trình bày một cách đẹp đẽ, kết cấu văn chương khéo léo kỳ lạ, nội dung phong phú, nhân vật đông đảo mà đặc trưng lại rõ ràng, các lĩnh vực được đề cập đến bao gồm: trang phục ẩm thực, văn học nghệ thuật, phép tắc lễ nghi, tập tục lễ tế, đồ dùng trà thuốc, văn hóa tôn giáo, kiến trúc sân vườn, v.v., không chỉ đã tiết lộ rất nhiều trạng thái khác nhau nơi nhân gian mà còn thể hiện ra văn hóa truyền thống Trung Hoa huy hoàng xán lạn, nhã tục đan xen.
Nhưng đây chỉ là hình thức, không phải tinh thần, nếu bỏ qua phần tinh thần mà chỉ tập trung vào hình thức thì sẽ không nhìn thấy dụng ý chính và linh tính của “Hồng Lâu Mộng”. Chỉ có vượt lên trên văn chương và tình tiết câu chuyện, thì mới có thể thực sự hiểu được ý cảnh (cảnh giới tư tưởng tác giả thể hiện ra trong tác phẩm), mà ý cảnh ấy được truyền tải chính xác qua mấy từ ngắn gọn lại là chỗ khiến câu chuyện dài nhiều chương mục đạt được sự chân thật sống động. Đọc “Hồng Lâu Mộng” thì không thể làm ngơ ý định ban đầu của tác giả cũng như thông điệp thật sự được truyền đạt trong cuốn sách, đó mới là giá trị đích thực của nó, còn không thì không thể hiểu được “Hồng Lâu Mộng”. Có lẽ do thuyết vô thần của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), hoặc có lẽ do người đời thực sự quá mê, những điều đáng để người đọc “Hồng Lâu Mộng” thăm dò và suy xét đã bị xem nhẹ và chối bỏ, hiếm có ai đề cập đến.
1. Chân Sĩ Ẩn giác ngộ
Hồi thứ nhất, Chân Sĩ Ẩn trong mơ gặp một tăng nhân và một đạo sĩ, bèn đến trước mặt hành lễ xin chỉ giáo, mong khiến bản thân thoát khỏi nỗi khổ trầm luân, đủ thấy huệ căn của ông không tầm thường. Tăng nhân và đạo sĩ gọi trần thế là “hố lửa” nhưng lại không đưa ra lời chỉ dạy nào. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ này đã tạo tiền đề cho sau này. Gia cảnh Chân Sĩ Ẩn tuy không thuộc hàng đại phú đại quý, nhưng cũng đủ ăn đủ mặc. Tính tình ông điềm đạm, không tham công danh và rất yêu thương che chở vợ con. Vốn nghĩ có thể như vậy mà sống đến già, ai biết vận mệnh không theo ý người, tai họa không cầu mà đến. Chân Sĩ Ẩn chịu đựng nỗi đau sau khi lạc mất con gái yêu, lại gặp phải hỏa hoạn, gia sản mất hết, khó sống qua ngày. Sau khi dắt vợ đến nương nhờ cha vợ lại bị chế giễu tính kế, trong chớp mắt cuộc đời rơi xuống đáy vực.
Ngay khi ấy, đạo sĩ lại xuất hiện, hát cho ông nghe bài “Hảo liễu ca”:
Người đời đều cho Thần Tiên hay, mà chuyện công danh mãi vẫn say; Xưa nay tướng soái nơi nào đây? Một dãy mồ hoang cỏ mọc đầy.
Người đời đều cho Thần Tiên hay, nhưng hám vàng bạc lòng không khuây; Sớm tối chỉ mong tích cho đầy, đến lúc đầy rồi nhắm mắt ngay!
Người đời đều cho Thần Tiên hay, nhưng thích vợ đẹp lòng không khuây; Anh sống ái ân kể suốt ngày, chết rồi lại bỏ theo người ngay.
Người đời đều cho Thần Tiên hay, nhưng lo con cháu lòng không khuây; Xưa nay cha mẹ thực khờ thay, con hiền cháu thảo ai thấy đây?
Đạo sĩ ngay sau đó lại giảng rằng: Phải biết muôn việc trên đời này, “hảo” (hoàn hảo) chính là “liễu” (không/vô), “liễu” chính là “hảo”. Nếu không “liễu” thì không “hảo”, mà muốn “hảo” thì phải “liễu”.
Chân Sĩ Ẩn gặp phải tai họa đã nhìn thấu thế sự vô thường, lòng người tráo trở, trải qua lần điểm hóa này, liền triệt để tỉnh ngộ, trút bỏ mọi ưu tư, phóng khoáng nói: “Đi thôi!” Bèn cầm lấy túi vải trên vai của Đạo sĩ, khoác lên vai mình, cùng Đạo sĩ nhẹ nhàng ra đi, từ đó không về nhà nữa. Chân Sĩ Ẩn ngộ tính tốt, một bài thơ của Đạo sĩ đã có thể độ hóa được ông.
Câu chuyện “Chân Sĩ Ẩn giác ngộ” ngắn gọn súc tích được viết ở đầu sách, thoạt nhìn tựa như một mở đầu nho nhỏ, nhưng chính là một bài văn lời nhẹ ý sâu, đặt định quan điểm chủ yếu cho toàn bộ tác phẩm. Tuy rằng ngộ tính của Giả Bảo Ngọc có kém một chút, nhưng trải qua nhiều lần điểm hóa, cuối cùng cũng đã giác ngộ. Đầu đuôi liên tiếp tương thông làm nổi bật chủ đề của toàn bộ cuốn sách: giàu nghèo sang hèn, tụ tan ly hợp, yêu hận tình thù nơi nhân thế đều là mộng ảo, tạo hóa trêu ngươi, chốc lát mà bao nhiêu biến đổi, bể khổ vô biên quay đầu là bờ, mong người nhìn thấu hồng trần mê ảo, thanh tỉnh giác ngộ, sớm ngày thoát khỏi khổ nạn.
2. Thái Hư ảo cảnh thức tỉnh Bảo Ngọc
Thần Anh Thị giả của cung Xích Hà trên Tiên giới vì “bất giác lòng phàm rực cháy”, “muốn xuống trần gian trải nghiệm ảo cảnh”, do đó đã được Cảnh Ảo Tiên Tử ghi lại tên. Thần Anh Thị giả chuyển sinh đến nhân gian trở thành Giả Bảo Ngọc, trong mệnh chàng được định sẵn sẽ bị kiếp nạn tình si. Bảo Ngọc là con em gia đình quý tộc, được gia đình yêu thương chiều chuộng, tuy rằng bản tính thiện lương, nhưng không thích đọc sách, chẳng hiểu sự đời, cả ngày cùng chúng tỉ muội nha hoàn vui chơi đùa nghịch, quả thực là rơi vào trong đám phụ nữ. Chàng tuổi hãy còn non trẻ, tự cảm thấy cũng không lỗ mãng dâm tà, nhưng mà ngày ngày trầm luân, nhất là chìm đắm vào tình cảm sâu đậm cùng Lâm Đại Ngọc.
Lâm Đại Ngọc là chuyển thế của Giáng Châu Tiên tử. Nàng vốn là một cây cỏ Giáng Châu mọc bên cạnh Tam Sinh Thạch trên bờ sông Linh Hà ở phương Tây, lúc héo tàn được Thần Anh Thị giả dùng nước cam lộ bón tưới, sau này được tinh hoa trời đất cùng mưa móc dưỡng nuôi, đã thoát khỏi hình cỏ chất cây, tu thành hình người con gái. Nàng “suốt ngày rong chơi ngoài cõi trời Ly Hận, đói thì ăn quả Mật Thanh (quả chứa tình riêng bí mật), khát thì uống nước biển Quán Sầu (nước rót vào nỗi buồn)”, có thể thấy trong mệnh của cô gái này tràn ngập tình yêu nam nữ và ưu sầu oán hận. Giáng Châu Tiên tử muốn báo đáp ơn huệ tưới cam lộ của Thần Anh Thị giả, nhưng nàng lại không có nước cam lộ, vì vậy Lâm Đại Ngọc đã dùng nước mắt cả một đời để hoàn trả Bảo Ngọc. Nói là báo ân, nhưng thực ra là hoàn trả một đám những thứ vô dụng, thậm chí đã trở thành một ma chướng cho Thần Anh Thị giả!
Cảnh Ảo Tiên Tử “ngụ ở tầng trời Ly Hận, trong biển Quán Sầu, là Cảnh ảo Tiên cô nơi núi Phóng Xuân, động Khiển Hương thuộc Thái Hư ảo cảnh”. Nàng “phụ trách chuyện tình ái nam nữ nơi nhân gian, quản lý những nữ oán nam si nơi trần thế”. Vì để đánh thức Thần Anh Thị giả, để chàng phản bổn quy chân, quay lại cõi tiên, Cảnh Ảo Tiên Tử đã điểm hóa Bảo Ngọc trong mộng.
Hồi thứ 5, Bảo Ngọc được hạ nhân hầu ngủ trên giường của cháu dâu Tần thị (nhũ danh Khả Khanh), vừa nhắm mắt đã ngủ thiếp đi. Trong mộng chàng được dẫn đến một nơi thanh tĩnh, bỗng nghe tiếng một người phụ nữ hát sau núi rằng:
Mộng xuân theo mây tan, Hoa bay theo nước chảy; Gửi lời chúng gái trai, hà tất tìm khổ sầu?
Đây là lời mở màn của Cảnh Ảo Tiên Tử. Cảnh Ảo Tiên Tử mời Bảo Ngọc đi một chuyến đến cảnh giới hiện tại của chính mình. Bảo Ngọc “rất vui sướng”, vui vẻ đi theo. Họ đến một nơi có cái bảng đá nằm ngang, trên có bốn chữ “Thái Hư ảo cảnh”, hai bên có viết đôi câu đối:
Giả tố chân thời chân diệc giả, Vô vi hữu xứ hữu hoàn vô (Khi cái giả làm cái thật thì thật cũng giả, Nơi cái không làm cái có thì có cũng là không).
Đi qua cổng chào đến một cửa cung, phía trên treo tấm hoành phi có bốn chữ lớn: “Nghiệt Hải Tình Thiên”, lại có đôi câu đối:
Hậu địa cao thiên, kham thán cổ kim tình bất tận; Si nam oán nữ, khả liên phong nguyệt trái nan thường (Trời cao đất dày, than thở tình cổ kim không hồi kết; nam si nữ oán, thương thay nợ gió trăng khó đền bồi).
Bảo Ngọc không hiểu “cái gì là tình cổ kim, cái gì là nợ gió trăng”, muốn “lĩnh hội cho rõ”, không nghĩ rằng đã “chiêu mời ma tình vào cao hoang.” (Cao hoang là hai cái huyệt ở trong người, câu “bệnh vào cao hoang” thường dùng để chỉ bệnh không chữa được.) Đi vào lớp cửa thứ hai, Bảo Ngọc nhìn thấy: Si tình ti, Kết oán ti, Dạ mộng ti, Triêu đề ti, Dạ oán ti, Xuân cảm ti, Thu bi ti. Cảnh Ảo Tiên tử dẫn Bảo Ngọc tiến vào “Bạc mệnh ti”, câu đối hai bên viết thế này:
Xuân hận thu bi giai tự nhạ, hoa dung nguyệt mạo vi thùy nghiên (Xuân hận thu sầu đều tự chuốc, mặt hoa da phấn đẹp vì ai).
Trong ti có hơn mười cái tủ lớn, trên giấy niêm phong là tên các tỉnh thành. Bảo Ngọc nhìn thấy tỉnh nhà của mình có “Kim Lăng Thập Nhị Thoa chính sách”, “Kim Lăng Thập Nhị Thoa phó sách” và “Kim Lăng Thập Nhị Thoa hựu phó sách”, tiện tay lật xem nội dung trong sách, thấy trên mỗi bức họa đều đối ứng với một bài thơ, đều là tiên đoán vận mệnh của các cô gái, nhưng chàng cũng không nghĩ nhiều.
Cảnh Ảo Tiên Tử thấy Bảo Ngọc không hiểu những lời trong sách, bèn dẫn chàng đến một tiên cung hoa lệ. Các tiên tử cùng ra chào đón. Sau khi vào trong nhà, Bảo Ngọc “ngửi thấy một mùi hương thơm dịu”. Cảnh Ảo Tiên Tử cho biết mùi hương ấy được gọi là “Quần phương tủy” (tinh túy của các loài hoa). Nha hoàn bưng trà đến, trà “mùi thơm vị lạ, rất thuần khiết mỹ hảo”, Cảnh Ảo Tiên Tử nói: Trà này tên là “Thiên Hồng Nhất Quật” (ý tứ là ngàn nữ nhân cùng khóc), trên vách tường trong nhà có một câu đối:
U vi linh tú địa, vô khả nại hà thiên (ý tứ là nơi cõi người xuất sinh nhiều người xinh đẹp toàn tài, tính tình trong sáng thuần khiết, nhưng đáng tiếc thiên ý khó dò, vận mệnh lắm gian truân.)
Mấy vị Tiên tử cùng ngồi tiếp khách có tên là: Si Mộng Tiên cô, Chung Tình Đại sĩ, Dẫn Sầu Kim nữ, Độ Hận Bồ đề, v.v. Nha hoàn bày tiệc rượu, Bảo Ngọc thấy rượu thơm ngọt khác thường, Cảnh Ảo Tiên Tử nói rượu ấy gọi là “Vạn Diễm Đồng Bôi” (ý tứ là muôn sắc đẹp cùng buồn). Trong lúc uống rượu lại có mười hai ca nữ đến hát mười hai khúc trong vở “Hồng Lâu Mộng”, còn đưa cho Bảo Ngọc bản gốc của “Hồng Lâu Mộng”. Thấy rằng:
[Hồng Lâu Mộng dẫn tử (Mở đầu Hồng Lâu Mộng)]: Khai mở Hồng mông, ai làm ra giống tình? Tất cả đều chỉ vì phong nguyệt tình nồng. Làm sao thoát được ý trời, ngày ngày buồn đau, thời thời cô quạnh, thử cách giải bỏ nỗi niềm ngu dại. Vì những điều trên mà diễn vở “Hồng Lâu Mộng” thương vàng tiếc ngọc.
Các khúc còn lại lần lượt là: Chung thân ngộ (Lỡ nhau một đời), Uổng ngưng mi (Uổng giọt lệ đọng trên mi), Hận vô thường (Hận cuộc đổi thay), Phân cốt nhục (Cốt nhục phân ly), Lạc trung bi (Buồn trong vui), Thế nan dung (Đời không dung), Hỉ oan gia (Kết hôn với oan gia), Hư hoa ngộ (Hiểu rằng hoa đẹp là hư ảo), Thông minh lụy (Bị cái thông minh liên lụy), Lưu dư khánh (Điềm lành sót lại), Vãn thiều hoa (Cảnh xuân về cuối), Hảo sự chung (Việc hay đến lúc hết).
[Kết thúc: Phi điểu cát đầu lâm (Chim bay về rừng)]: Làm quan, gia nghiệp suy tàn; những ai phú quý, bạc vàng sạch trơn; ban ơn, thoát chết có đường; phụ tình, báo ứng tỏ tường đấy thôi; Nợ mạng lấy mạng đền bồi; Ai nợ nước mắt, lệ rơi cạn dòng. Oan oan tương báo chẳng phải không, phân ly tụ hợp định xong từ đầu. Tra kiếp trước biết đời sau, tuổi già phú quý thuộc vào vận may. Nhìn thấu suốt, nhập cửa Không; Si mê chẳng hiểu uổng công một đời. Về rừng như chim hết mồi, bỏ nơi đất trống sạch không mọi bề.
Sau khi ca nữ hát xong khúc chính lại hát khúc phụ, tuy rằng Bảo Ngọc thấy “hồn xiêu phách lạc”, nhưng “chẳng thấy có ích lợi gì cả”. Cảnh Ảo Tiên Tử thở dài: “Đứa nhỏ ngốc này vẫn chưa ngộ!”
Bảo Ngọc bảo ca nữ ngừng hát, “nói say rượu muốn ngủ”, Cảnh Ảo Tiên tử đưa Bảo Ngọc vào một gian phòng phụ nữ, có một mỹ nhân xinh đẹp quyến rũ tên là Khả Khanh đang chờ sẵn. Cảnh Ảo Tiên Tử nói: “Dưới trần gian có biết bao nhà phú quý, những gió trăng bên cửa sổ, mây khói chỗ buồng thêu ấy, đều bị bọn trai dâm gái đãng đó làm nhơ bẩn hết cả. Đáng giận hơn là, xưa nay bao nhiêu kẻ ăn chơi phù phiếm đều lấy ‘hiếu sắc mà không dâm’ để che đậy, còn bảo ‘tình mà không dâm’, đó chỉ là những lời che sai giấu xấu mà thôi. Hiếu sắc tức là dâm, biết tình lại càng dâm. Vì thế, cuộc gặp gỡ ở Vu Sơn, chuyện vui vẻ mây mưa, đều do chuộng sắc ham tình mà gây nên. Ta ưa anh, vì chàng là một người dâm nhất thiên hạ xưa nay.”
Khi Bảo Ngọc biện giải bản thân không như thế. Cảnh Ảo Tiên Tử lại nói: “Như chàng là trời sinh đã mang một mối si tình, bọn chúng tôi gọi thế là ‘ý dâm’. Hai chữ ‘ý dâm’, chỉ có thể ngầm hiểu chứ không thể truyền miệng, trong tư tưởng có thể hiểu được nhưng không thể nói ra thành lời. Hôm nay chàng đã đọc được hai chữ này, ở trong khuê các, chàng có thể là bạn tốt đấy, nhưng khi ra đời thì vẫn mang tiếng là người viển vông, quái gở, sẽ bị trăm miệng cười chê, muôn mắt lườm nguýt… Muôn vàn lời giải thích từ nay về sau là để chàng thay đổi suy nghĩ trước đây, chú ý vào đạo Khổng Mạnh, dấn thân vào con đường giúp đời giúp nước mới được. Nói xong bèn đẩy Bảo Ngọc vào phòng, dạy chàng làm chuyện mây mưa, đồng thời cảnh báo Bảo Ngọc: “Quang cảnh ảo cảnh khuê phòng chốn tiên còn như thế, huống chi tình cảnh ở cõi trần chứ?”
Hôm sau, Bảo Ngọc và Khả Khanh “tình cảm đằm thắm khăng khít, âu yếm dịu dàng, quấn quít không rời”. Hai người ra ngoài du ngoạn đến một nơi, thấy “gai góc đầy đường, hùm lang thành đàn, trước mặt có một dòng suối đen chắn đường, không có cầu sang”. Đương lúc dùng dằng, chợt thấy Cảnh Ảo Tiên Tử đuổi theo đến, nói: “Đây là bến mê. Sâu hàng vạn trượng, rộng hàng ngàn dặm, không có thuyền đi qua, chỉ có một cái bè gỗ, Mộc cư sĩ cầm lái, Hôi thị giả đẩy sào, không nhận bạc vàng báo đáp, nhưng ai có duyên mới qua được. Nay chàng tình cờ đến suối này, nếu không may ngã xuống đó thì thực phụ những lời dặn dò ân cần của ta lúc trước!” Lời còn chưa dứt, từ trong bến mê hiện ra vô số dạ xoa quỷ biển, không nói không rằng định lôi Bảo Ngọc xuống, Bảo Ngọc kêu la thất thanh: “Khả Khanh cứu ta!” Theo đó giật mình tỉnh mộng.
Theo lý mà nói, tiên nữ so với phàm nữ chẳng khác nào vàng ngọc so với đất đá, người đã từng thấy tiên nữ đáng ra không nên bị mê hoặc bởi nữ nhân nơi thế gian nữa. Đáng tiếc, Bảo Ngọc ngu dốt, vẫn chưa hiểu ra điều này, tính xấu không đổi, vẫn tiếp tục sống một đời ngây ngô dại dột.
3. Thái Hư ảo cảnh thức tỉnh Bảo Ngọc lần thứ hai
Từ khi lạc mất Thông Linh Bảo Ngọc, Bảo Ngọc hồn bay phách lạc mắc phải một căn bệnh ngây ngốc kỳ quái, động một tí là ngất xỉu. Lần này, Bảo Ngọc lại bất tỉnh nhân sự. Có hòa thượng kịp thời đến để trả lại Thông Linh Bảo Ngọc, Bảo Ngọc mới có thể tỉnh dậy, tuy nhiên Bảo Ngọc lại bị lời nói của nha hoàn kích thích khiến cho hôn mê, còn hòa thượng trả lại viên ngọc ấy cũng không biết đã đi đâu mất.
Trong hồi 116, Bảo Ngọc hôn mê, linh hồn lìa khỏi xác, được vị hòa thượng đưa trả ngọc dẫn đến một nơi hoang vu, chàng nhìn thấy Vưu Tam Thư đã qua đời, sau đó trông thấy một cổng chào, dường như đã từng thấy trước đây. Trên tấm biển ghi: “Chân Như Phúc Địa”, hai bên có đôi câu đối:
Giả khứ chân lai chân thắng giả, vô nguyên hữu thị hữu phi vô (ý tứ là sau khi nhìn thấu được cái giả mới là cái chân thật sự, khi đó cái giả biến thành thật, cái không biến thành cái có).
Vừa đi qua cổng chào, lại thấy một cổng cung điện nữa. Trên cổng đề bốn chữ lớn nằm ngang: “Phúc Thiện Họa Dâm” (làm điều thiện thì được phúc, buông thả dục vọng thì gặp họa). Hai bên có câu đối:
Quá khứ vị lai, mạc vị trí hiền năng đả phá; Tiền nhân hậu quả, tu tri thân cận bất tương phùng (Quá khứ vị lai, chớ bảo trí hiền có thể đả phá được; Nhân trước quả sau, phải biết dù gần gũi cũng chẳng gặp được nhau.)
Bảo Ngọc thấy Uyên Ương cô nương đã mất vẫy tay gọi mình, liền vội chạy tới, nhưng chỉ thấy một dãy điện phụ. Trong đó có một tòa điện nguy nga, trên biển đề: “Dẫn Giác Tình Si” (Dẫn dắt kẻ si tình đến chỗ giác ngộ). Hai bên có câu đối:
Hỉ tiếu bi ai đô thị giả; Tham cầu tư mộ tổng nhân si (Vui cười, buồn tủi đều là giả; Tham cầu, thương nhớ đều bởi si mê.)
Cổng nửa đóng nửa mở, đẩy cửa bước vào, Bảo Ngọc nhìn thấy mười mấy cái tủ lớn, không khỏi nhớ lại hồi nhỏ đã từng mộng thấy đi đến nơi này. Trong tủ lớn, Bảo Ngọc nhìn thấy quyển Kim Lăng Thập Nhị Thoa chính sách, Kim Lăng Thập Nhị Thoa phụ sách. Sau khi đi ra, lại nhìn thấy Đại Ngọc, Tình Văn, Tần Thị đều đã qua đời, nhưng họ đều không nhận ra chàng.
Đột nhiên có mấy lực sĩ khăn vàng xuất hiện xua đuổi Bảo Ngọc, lại thấy ai giống như Tích Xuân cùng một đám con gái đi đến. Đợi những lực sĩ khăn vàng đến gần, đám con gái này lại hóa thành quỷ quái đến đuổi đánh Bảo Ngọc. Bảo Ngọc hoảng hốt chạy trốn, đang lúc cấp bách, hòa thượng xuất hiện cứu nguy, quỷ quái lập tức biến mất, lại hiện ra chỗ hoang vu lúc đầu.
Hòa thượng chỉ điểm cho Bảo Ngọc: “Còn sao nữa, con đã xem sách rồi, còn chưa hiểu rõ sao? Tình duyên trên thế gian đều là những thứ ma chướng đó. Chỉ cần nhớ kỹ những việc đã trải qua, sau này ta sẽ giải thích rõ ràng cho con.” Rồi ông đẩy linh hồn Bảo Ngọc trở về thân xác. Khi này Bảo Ngọc tỉnh lại.
Bảo Ngọc đã trải qua chuyện tình cảm không như ý, cảnh nhà sa sút, nhiều phen chết đi sống lại, trải qua lần điểm hóa này, tính tình đã thay đổi rõ rệt, không chỉ chán chê công danh quan lộ, mà đối với tình cảm nam nữ cũng xem nhẹ rất nhiều, đến cuối cùng đã xuất gia tu Đạo.
4. Văn chương kiệt tác thức tỉnh thế nhân
Nội dung của “Hồng Lâu Mộng” giống như Không Không Đạo nhân đã nói: “Không phải việc thiện chính của bậc đại hiền đại trung sửa sang triều chính, chỉnh đốn phong tục, trong đó chẳng qua là chuyện của một vài người con gái kỳ quặc, hoặc là đa tình hoặc là si tình, hoặc là tài đức tầm thường, chứ không có cái tài năng đức hạnh của Ban Cố hay Thái Diễm.” Tuy nhiên, như Thạch Đầu đã nói: “Ngày nay, người nghèo ngày ngày lo cơm áo; người giàu lại mang tâm sợ thiếu thốn, rảnh rỗi một chút là lại nghĩ ngay đến mấy việc tham lam, dâm dục, yêu đương, sắc đẹp, ham của tìm sầu, còn hơi sức nào mà đọc những sách sửa sang chỉnh trị đó nữa.” Chỗ khéo léo độc đáo của “Hồng Lâu Mộng” là ở văn chương thông tục gần gũi dễ hiểu, vừa người hợp lòng, lại không động chạm đến quan quyền chính trị nên càng dễ dàng lưu truyền rộng rãi.
Những tủ lớn ở các ti trong “Nghiệt Hải Tình Thiên” đều là số mệnh đã được an bài của con người. Có thể thấy, việc tụ tan ly hợp, yêu hận tình thù, thói đời ấm lạnh nơi thế gian đều là nhân quả, là do Thần linh trên trời cùng ma quỷ cõi trần thao túng, người thế gian nào khác chi con rối bị giật dây chiểu theo kịch bản mà diễn kịch. Thần Anh Thị giả ban ơn cho cây cỏ Giáng Châu, đã thúc đẩy nên tình duyên giữa Đại Ngọc và Bảo Ngọc, cái cần hoàn trả là nước mắt, không đau buồn thì lấy nước mắt ở đâu? Đã định sẵn là bi kịch! Càng huống hồ cảnh giới của Giáng Châu Tiên tử đã quyết định trong mệnh của nàng chỉ có tình sầu đau khổ, không có số hưởng phúc; Sách Kim Lăng Thập Nhị Thoa trong “Bạc mệnh ti”, nên phúc ít mạng mỏng của những người con gái ấy cũng đã được định trước trong mệnh rồi, còn về lý do tại sao lại nằm trong “Bạc mệnh ti”, thì vẫn cần truy tra thêm nữa. Rất nhiều người thất vọng phát ra tiếng thở dài: Một chuyến rong chơi một giấc mộng! Nhưng khi họ trầm mê trong “nơi phú quý ấm êm, chốn hương sắc phồn hoa” thì rất khó có nhận thức như thế này, Giả Bảo Ngọc cũng như vậy, có thể thấy danh lợi tình sắc rất mê hoặc lòng người, che chắn mắt người. Có người nói “Hồng Lâu Mộng” là viết về bi kịch tình yêu, những người có tình không thể thành chồng vợ. Đổi góc độ khác mà nhìn, miêu tả về bi kịch tình yêu là để phơi bày cái si mê tình sắc mang đến cho người ta tổn thương và thống khổ, ý muốn khuyên người chớ si tình. Trong sách, hòa thượng và đạo sĩ gọi những nam nữ si tình xuống thế gian là “quỷ sắc si tình”, “quỷ nghiệt phong lưu”, đều là những xú danh, tới đây nhìn lại Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, đều chính là rảnh rỗi không việc tự tìm sầu não vậy.
Lấy tình cảm mà xem “Hồng Lâu Mộng”, điều nhìn thấy là sắc tình vướng mắc và kết thúc bi kịch; dùng lý tính mà xem “Hồng Lâu Mộng”, điều nhìn thấy là sau khi trải qua tai nạn mà đắc đạo và kết cục viên mãn. Những câu đối và tên gọi các nơi trong Thái Hư ảo cảnh đều là những ám thị và điểm hóa. Cảnh Ảo Tiên Tử đã chỉ rõ chính lộ cho Bảo Ngọc: “Muôn vàn lời giải thích từ nay về sau là để chàng thay đổi suy nghĩ trước đây, chú ý vào đạo Khổng Mạnh, dấn thân vào con đường giúp đời giúp nước mới được”. Nói theo cách bình dân thì là: Nhất định phải nhìn thấu, buông bỏ tư tình nam nữ trước đây, đặt tâm vào tu dưỡng đạo đức, thực hành chính đạo giúp nước giúp đời. Có lẽ đây cũng là một lời nhắn gửi đến độc giả.
Giấc mộng nơi lầu hồng như hoa trong gương, trăng đáy nước, thế nhân đều ở trong giấc mộng này. Mặc dù không thể dẫn từng người đến thiên cung điểm hóa, để Tào Tuyết Cần viết bộ sách “Hồng Lâu Mộng” này cũng là một biện pháp giải quyết mọi việc trong một lần. “Hồng Lâu Mộng” là tác phẩm văn chương kiệt tác để khuyên răn thức tỉnh thế nhân, trong giả có thật, trong thật có giả, vừa có khả năng đưa người ta nhập sâu vào thế tục, lại có thể dẫn người thoát đời. Tiên duyên người người đều có, thức tỉnh phụ thuộc vào ngộ tính, hiểu được “Hồng Lâu Mộng”, có thể tự do tự tại nơi thế gian. Nếu muốn tìm kiếm sự giải thoát triệt để, cũng không nhất thiết phải xuất gia, vì trong thế gian có chính Pháp đại Đạo, không cần phải thoát ly thế tục cũng có thể tu luyện, chẳng hạn như Pháp Luân Đại Pháp.
Tuy nhiên, rất nhiều người biết rõ đời người như mộng vẫn không dám thức tỉnh, phần lớn là vì họ không nhìn thấy tương lai, chưa từng nhìn thấy những người giác ngộ kia cuối cùng đã đi đâu, hay được điều tốt đẹp gì. Quả thật, những người giác ngộ chính là Phật, Đạo, Thần, Tiên, khác xa con người như trời với đất, không thể dễ dàng xuất hiện. Chẳng qua có một điều rõ ràng chính là, hầu hết con người trên thế gian này đều đến từ trời, nếu có thể giác ngộ, tất sẽ đến từ đâu thì quay về đó, tiền đồ chắc chắn tốt đẹp!
5. Việc trong mộng liệu có chân thật
Thuật thôi miên của phương Tây có thể cho phép người ta trong trạng thái ngủ mà linh hồn xuyên qua thời gian và không gian, nhìn thấy tiền kiếp của chính mình. Một số người từng trải qua trải nghiệm cận tử nói rằng khi bản thân ở trong trạng thái “tử vong”, linh hồn ở không gian khác nhìn thấy người thân đã qua đời, nhìn thấy thiên sứ, Thần linh, lại còn cùng họ trao đổi qua lại, một số thậm chí còn được giao sứ mệnh trước khi trở về thể xác và hồi phục sức khỏe. Nhiều nhà tiên tri công bố những dự đoán của họ trên phương tiện truyền thông, có một số người dự đoán chính xác, trong đó có cả những dự đoán được nhìn thấy trong mộng.
Điều đặc biệt đáng chú ý là, trong giới tu luyện nói về nguyên thần (linh hồn) rời khỏi thân thể. Rất nhiều người tu luyện trong nước ngoài nước từ trước đến nay, bao gồm tín đồ Phật giáo, tín đồ Đạo giáo, tín đồ Cơ Đốc giáo, đệ tử Pháp Luân Đại Pháp, đã kể về việc trong khi đang ngủ hoặc trong khi đả tọa thì nguyên thần (linh hồn) rời khỏi thân xác thịt đi đến không gian khác, họ tiến vào Thần giới, Tiên cảnh, nhìn ngắm cảnh đẹp, giao tiếp, tiếp xúc gần với Phật, Đạo, Thần, Tiên. Hiện tượng này không phải chỉ xảy ra một hai lần. Trong tài liệu lịch sử có rất nhiều ghi chép, cũng đã được công bố trên các phương tiện truyền thông, còn có người biên tập thành sách. Rõ ràng, những “giấc mộng” ly kỳ này vốn không phải là mộng, càng không phải là ảo giác, mà là trải nghiệm thực sự của linh hồn.
Một số người có thể hỏi, nếu những sự việc đó đều là chân thật, tại sao mắt người không nhìn thấy? Thực ra, trước tiên chúng ta nên tự xét bản thân. Mắt người có những hạn chế sinh lý, những thông tin mà nó có thể tiếp nhận và phân biệt được là vô cùng hạn chế, chỉ có thể nhận biết ánh sáng, mà còn chỉ trong một phạm vi nhất định, nó không thể nhận biết ánh sáng không nhìn thấy được. Còn có phân tử, nguyên tử, neutron cho tới những hạt nhỏ hơn thì mắt người đều không nhìn thấy, vậy mà các thiết bị khoa học đã dò ra được rồi. Ngoài đó ra, mắt người không thể nhận thấy âm thanh, mùi, nhiệt, điện, từ, v.v. Các cơ quan tiếp nhận của cơ thể người vô cùng hữu hạn. Hiện tại có người nói về giác quan thứ sáu. Ai có thể khẳng định trong vũ trụ không có giác quan thứ bảy, thứ tám, thứ chín, thứ mười có thể nhận biết sự vật chứ!
Vũ trụ vô cùng rộng lớn, Trái Đất thì nhỏ bé làm sao, năng lực của con người lại yếu đuối như vậy, không thể đem hình thức tồn tại của Trái Đất áp dụng cho các hành tinh khác trong vũ trụ, cũng không thể dùng năng lực của con người tùy tiện đo lường toàn bộ vũ trụ. Nếu con người có thể vượt qua giới hạn của nhục thân, nói không chừng những năng lực bên ngoài nhục thân sẽ được giải phóng, kích hoạt, nhờ đó mà nhận thức được càng nhiều sự vật trong vũ trụ hơn nữa. Có lẽ đây là lý do khiến những người kia chỉ có thể nhìn thấy những cảnh tượng kỳ diệu và Thần linh trong khi ngủ hoặc thiền định.
“Hồng Lâu Mộng”, còn được gọi là “Thạch Đầu Ký”, tác giả mở đầu bằng những lời thẳng thắn trực tiếp: “Bởi vì sau khi trải qua một đời mộng ảo, nên cố ý giấu những việc thực, mượn lời “thông linh” mà viết ra bộ “Thạch Đầu Ký” này; cho nên gọi là “Chân Sĩ Ẩn” v.v.” Tác giả tiếp tục nói: “Hơn nữa trong sách dùng những chữ “mộng” chữ “ảo”, để chỉ điểm con mắt người xem, cũng là ý định ban đầu của quyển sách này”. “Hồng Lâu Mộng” được viết ra là có lý do. Những việc mộng ảo được nói đến trong sách nguyên từ những cảnh mộng mà đích thân tác giả trải qua, mà loại mộng này hẳn không phải mộng thông thường; chắc phải mang ý nghĩa phi thường, nếu không, tác giả đã không thể dành thời gian mười năm nỗ lực thể hiện và trau chuốt bộ tiểu thuyết dài tập này. Vì vậy, tác giả tin rằng, những việc mộng ảo được nói đến trong “Hồng Lâu Mộng” cực kỳ chân thực, cực kỳ đáng tin, đáng được chúng ta nghiêm túc cẩn thận đối đãi.
Trên đây chỉ là một chút tâm đắc cá nhân. Tin rằng “Hồng Lâu Mộng” khai mở trí thức cho người ta không chỉ giới hạn trong những điểm này, đợi mọi người khám phá.