Ghi lại hành trình chín năm chứng thực Pháp kinh tâm động phách của các đệ tử Đại Pháp tại một địa khu ở Trung Quốc
Tác giả: Thiên Lý Liên Hoa Thảo
[ChanhKien.org]
Một giọt nước cũng có thể phản chiếu ánh sáng rực rỡ của mặt trời, mỗi sự việc bình thường trong Chính Pháp, cũng đủ để thể hiện ra vẻ đẹp của Pháp Luân Đại Pháp, cũng như tấm lòng cao thượng và sự thiện lương của đệ tử Đại Pháp. Dưới sự dạy bảo từ bi của Sư phụ, biết bao nhiêu đóa sen thánh khiết đã nở rộ trong lòng các đệ tử Đại Pháp? Không ai có thể đếm rõ được! Các đệ tử Đại Pháp tu luyện “Chân, Thiện, Nhẫn” đã tạo nên biết bao nhiêu kỳ tích trong quá trình chứng thực Pháp? Cũng không ai có thể đếm rõ được! Trong suốt 9 năm (kể từ khi bắt đầu cuộc bức hại ngày 20-07-1999), có vô số sự tích về các đệ tử Đại Pháp đã xả bỏ sinh tử, lần lượt nối tiếp nhau bước ra giảng chân tướng, những sự tích đó mỗi ngày đều xảy ra xung quanh chúng ta. Trong nhóm học Pháp của chúng tôi có mấy đồng tu đã may mắn được chứng kiến và trải qua những sự kiện trọng đại trong quá trình chứng thực Pháp tại thị trấn nhỏ của chúng tôi trong suốt 9 năm. Tại đây, chúng tôi sẽ ghi chép lại theo phương thức viết bài phóng sự, để lưu lại quá trình lịch sử này, và kể lại cho con người tương lai.
Đây là một thị trấn nhỏ nằm ở phía Bắc, có địa thế lưng tựa vào núi, mặt hướng ra sông. Sáng sớm tại công viên ở ven sông, có một nhóm người đang thong thả tập Thái Cực Quyền, một nhóm khác mặc trang phục màu xanh lá cây đang hát Đại Ương Ca, một người vợ đang dìu chồng bị liệt nửa người, một phụ nữ ăn mặc sành điệu dắt theo chú chó cưng, chiếc xe buýt chật kín những đứa trẻ đi tới trường. Tại phiên chợ sáng, những người bán hàng rong đang mặc cả từng đồng với những phụ nữ lớn tuổi. Ban ngày, những công nhân và nông dân cần cù chịu khó đang phải vất vả đổ mồ hôi để đổi lấy những chiếc bánh bao và đậu phụ mang về cho gia đình, những món ăn thiết yếu trong ba bữa ăn hằng ngày của họ. Ban đêm, trong những nhà hàng, quán rượu lấp lánh ánh đèn, những khách sạn sang trọng và tiện nghi, trong vũ trường tối tăm mờ ảo, một nhóm người đang tiến hành các hoạt động mua bán trao đổi tiền bạc, quyền lực, linh hồn và thể xác.
Trong một thị trấn nhỏ mà sự phồn vinh và tội ác cùng đồng tại, nỗi thống khổ và niềm hoan lạc cùng tồn tại…
Muôn vàn chúng sinh đang tấp nập, nhộn nhịp người qua kẻ lại này, rốt cuộc là từ đâu đến? Và muốn đi về đâu?
Ngay trong lúc hoang mang và tê liệt, như một tiếng sấm báo hiệu mùa xuân vang lên giữa miền đồng bằng, Đại sư Lý Hồng Chí đã đến nơi đây truyền Pháp! Từ đó, một khung cảnh rạng rỡ tươi đẹp bắt đầu lặng lẽ hiện ra ở thị trấn nhỏ này.
Trên bãi cỏ xanh mướt ở lối vào công viên, tấm biểu ngữ lấp lánh ánh vàng kim có dòng chữ: “Pháp Luân Đại Pháp Hảo, Chân Thiện Nhẫn Hảo” được treo lên. Trong tiếng nhạc hòa ái du dương, các học viên Pháp Luân Công đang diễn luyện 5 bài công pháp, thu hút những du khách xung quanh dừng chân để quan sát. Khi đó, không chỉ tại công viên, mà tại các cơ quan, trường học, quảng trường, và trong sân của các gia đình ở nông thôn v.v. âm nhạc của Pháp Luân Đại Pháp vang vọng khắp không trung, luyện công giúp mọi người trở nên rạng rỡ, trẻ trung và tràn đầy sức sống, đồng thời cũng chính là cứu vớt sinh mệnh. Chân Thiện Nhẫn giúp tâm hồn của con người tìm được bến đỗ, và có được sự thăng hoa về đạo đức. Sự thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp nhanh chóng được lan truyền khắp thị trấn nhỏ, người truyền người, tâm truyền tâm. Đại Pháp giống như làn gió xuân và giọt sương mai tưới mát trái tim khô cằn của con người, thức tỉnh lương tri của nhân loại. Trong vài năm ngắn ngủi, thị trấn nhỏ có hơn một vạn học viên Đại Pháp đang học Pháp Luân Công. Mọi người được tắm mình trong Phật ân hạo đãng, từ đó, con người mới thực sự có hy vọng.
1. Một bài thi đạt tiêu chuẩn
Sư phụ giảng:
“Những đệ tử nào đối mặt trước áp lực để bước ra chứng thực Pháp thật là vĩ đại”. (Tinh tấn yếu chỉ II – Tiến đến viên mãn)
Khi Đại Pháp gặp nạn, hàng trăm nghìn đệ tử Đại Pháp tại thị trấn nhỏ, sau khi suy xét một cách lý tính, đã hòa vào hồng lưu của Chính Pháp và nộp một bài thi đạt tiêu chuẩn gửi lên Sư phụ. Xuân Liên và Thu Liên chính là hai vị trong số đó.
Thời gian: Ngày 20 tháng 7 năm 1999
Có Thiện thì có Ác, có Người thì có Quỷ, có Thần thì có Ma. Đại Pháp hồng truyền, cứu độ thế nhân, chạm đến dây thần kinh của tà ác, tên đại ma đầu ở Trung Nam Hải đã gào lên: “Đảng cộng sản nhất định phải chiến thắng Pháp Luân Công”. Ngày 20 tháng 7 năm 1999 – một ngày mà cả người và Thần đều không thể nào quên, hai bên bờ Nam Bắc sông Trường Giang (ý nói khắp cả nước), bên trong và bên ngoài Vạn Lý Trường Thành, từ thành phố Tam Á ở đảo Hải Nam đến làng Bắc Cực của tỉnh Hắc Long Giang, từ bờ biển Đông Hải đến cao nguyên Thanh Tạng, phong vân đột biến, sóng dữ cuộn trào. Đài phát thanh, tivi và báo chí tuyên truyền một cách phô thiên cái địa rằng: “Pháp Luân Công là X giáo”, từ Trung ương đến chính quyền địa phương đã thành lập một cơ quan đặc vụ chuyên đàn áp Pháp Luân Công đó là “Phòng 610” (một tổ chức phi pháp do ác đảng thành lập để chuyên bức hại Pháp Luân Công). Từ các cơ quan Đảng và Chính phủ các cấp đến các đoàn thể xã hội như Công đoàn, Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ, từ các ủy ban dân cư (tổ dân phố) ở thành thị đến các ủy ban nhân dân ở nông thôn, toàn bộ đều được huy động để rà soát và điều tra các học viên Pháp Luân Công, ghi danh sách từng người, bắt đi chuyển hóa, viết hối quá thư, giấy cam kết, nếu không sẽ bị sa thải, khai trừ khỏi biên chế nhà nước , hoặc liên lụy đến người thân bạn bè con cái v.v. Tiếng còi hú của xe cảnh sát vang lên, bắt giữ những học viên Pháp Luân Công không từ bỏ tín ngưỡng của mình, trại tạm giam, trại giam giữ, trại lao động cải tạo, nhà tù trong thời gian ngắn đã chật cứng người.
Thị trấn nhỏ cũng giống như cả nước, khắp nơi đều chìm trong bầu không khí khủng bố. Ở thị trấn có dân số khoảng 200.000 người này, có hơn 10.000 người tu luyện Pháp Luân Công, một điều tốt có lợi cho sự an định xã hội, có lợi cho sức khỏe cả thân lẫn tâm của người dân như vậy, làm sao có thể trở thành “phản động” chỉ trong một đêm? Có biết bao người suy nghĩ mãi mà cũng không sao hiểu được.
Trong đêm tối, Thu Liên trằn trọc mãi, cả đêm không sao ngủ được. Một cô gái trẻ với tính cách vui vẻ, cởi mở, trên mặt luôn nở nụ cười, có sức khỏe tốt và xưa nay không biết u sầu, cũng trằn trọc, lật qua lật lại trên giường, và cảm thấy hoang mang. “Đại Pháp rốt cuộc có chính không? Sư phụ rốt cuộc như thế nào?” Cô ấy đắn đo suy nghĩ đi suy nghĩ lại.
Nhắc đến việc bản thân bước vào tu luyện Đại Pháp, cô không khỏi nghĩ đến Xuân Liên, người chị gái cùng một mẹ sinh ra của mình. Năm đó khi làn gió xuân của Đại Pháp thổi khắp mọi miền tổ quốc, mọi người như nhặt được vàng, người truyền người, tâm truyền tâm, Pháp Luân Đại Pháp đã cứu vớt bao sinh mệnh con người, Chân Thiện Nhẫn giúp người ta tìm thấy bến đỗ của tâm hồn, khiến đạo đức hồi sinh trở lại. Chính là chị gái đã mang theo băng hình giảng Pháp của Sư tôn và sách Đại Pháp từ nhà chồng cách đó 60 dặm trở về và mang vẻ đẹp của Đại Pháp đến cho người thân và bạn bè.
Chị gái có nét mặt thanh tú, là người nhã nhặn và điềm tĩnh, tính cách hiền lành dịu dàng như một chú cừu. Mười mấy tuổi, chị đã biết giúp đỡ bố mẹ giặt giũ quần áo và nấu cơm, san sẻ bớt gánh nặng cho bố mẹ đang phải bôn ba vất vả, bận rộn cả ngày để nuôi sống gia đình 9 người. Chị ấy là một học sinh giỏi luôn đứng trong top đầu của lớp, còn làm lớp trưởng, là tấm gương trong lòng mọi người. Sau khi lớn lên chị ấy làm việc ở một công ty. Kết hôn xong, chị hết lòng hiếu kính bố mẹ chồng, vì bệnh tật chị ấy đã bước vào tu luyện Đại Pháp. Sau khi tu luyện, bệnh viêm khớp dạng thấp và gai xương của chị ấy đã biến mất, toàn thân nhẹ nhàng, chứng kiến sự thần kỳ của Đại Pháp, mẹ chồng, chồng và con của chị ấy đều bước vào tu luyện. Thời gian đầu, họ đến công viên luyện công cùng mọi người, sau này, chị ấy mở trường mẫu giáo tại nhà. Vậy là, nhà chị đã trở thành điểm luyện công, có mười mấy học viên tại điểm luyện công học Pháp tập thể tại nhà chị ấy vào buổi tối, còn buổi sáng mọi người luyện công tập thể, và giao lưu chia sẻ với nhau.
Đối với các em nhỏ của trường mẫu giáo, ngoài việc hoàn thành việc dạy sáu môn học và các trò chơi theo yêu cầu của đề cương giảng dạy, chị còn tranh thủ thời gian rảnh để dạy các em học thuộc “Luận Ngữ” và “Hồng Ngâm”, trước giờ ngủ trưa từng tiểu đệ tử còn ngồi song bàn đả tọa. Trường mẫu giáo của chị gái càng làm càng phát đạt và nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ từ các bậc phụ huynh. Vào Pháp hội kỷ niệm 6 năm kể từ ngày Sư phụ đến địa phương chúng tôi truyền Pháp, các em nhỏ đã lên sân khấu đọc thuộc “Luận Ngữ” và “Hồng Ngâm”, những khuôn mặt ngây thơ thuần khiết và giọng nói tròn vành, trong trẻo ấy cho đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai…
Mọi người đều nói, người lương thiện có căn cơ tốt mới có thể đắc Pháp. Chị gái là một người tốt hiếm có, chị ấy tu luyện Đại Pháp, tu Chân Thiện Nhẫn làm một người tốt hơn nữa, vậy có gì sai?
Cô ấy còn nhớ rất rõ vào thời kỳ đầu đắc Pháp, là chị gái đã cất công đến giúp cô tìm điểm luyện công ở thị trấn nhỏ, những học viên Đại Pháp mà cô tiếp xúc ở đó đều chân thành và nhiệt tình như vậy. Cô quen một dì tên là Cổ Liên hơn 50 tuổi, trên thân mắc hai loại bệnh ung thư, đã bị bệnh viện phán “tử hình”, sau hai tháng học Pháp và luyện công, đều đã khỏi hoàn toàn một cách thần kỳ, khuôn mặt dì ấy trở nên hồng hào, tươi sáng, gặp ai dì ấy cũng bảo: “Là Đại Pháp đã cứu mạng tôi!”, công pháp tốt như vậy, khiến biết bao người dân nhận được lợi ích, tại sao lại muốn đàn áp?
Chính trong thời khắc quan trọng này, chị gái đã tới. Đó là vào buổi chiều ngày 12 tháng 08 năm 1999, chị gái mặc một chiếc áo phông ngắn tay màu hồng và một chiếc váy xinh xắn, dẫn theo con trai 8 tuổi, đến nhà Thu Liên. Chị ấy mang theo kinh văn “Phơi bày rõ” của Sư phụ, đến báo cho Thu Liên và nói: “Những thứ tuyên truyền trên đài phát thanh và tivi đều là bịa đặt, Pháp Luân Công là cao đức Đại Pháp nghìn năm khó gặp, vạn năm khó gặp, nhất định không được bỏ lỡ cơ duyên …”
Lúc bấy giờ, khi tuyên truyền Pháp Luân Công là X giáo, họ nói rằng Pháp Luân Công không cho uống thuốc và tự sát đã dẫn đến cái chết của 1.400 người. Chị gái nói: “Chúng tôi đã học cuốn ‘Chuyển Pháp Luân’ bao nhiêu lần rồi, nào có nói không cho uống thuốc, còn nữa, trong ‘Chuyển Pháp Luân’ đã giảng, tự sát cũng tính là sát sinh, không được phép…”, chị ấy còn kể lại cho Thu Liên nghe một bài tính toán của một Giáo sư y khoa có đồng cảm với Đại Pháp: Tỷ lệ tử vong bình thường hàng năm của Trung Quốc là 6/1000 người, 7 năm trở lại đây có khoảng 70 triệu người luyện Pháp Luân Công, ngay cả khi danh sách 1.400 người này đều là thật đi nữa, so với tỷ lệ tử vong thông thường cũng thấp hơn mấy trăm lần, điều này chứng tỏ Pháp Luân Công có lợi cho cả thân lẫn tâm của đông đảo các học viên. Theo số liệu công bố của Bộ Y Tế, mỗi năm Trung Quốc có 300.000 người tự sát, 2 triệu người tự sát không thành, giả như danh sách 1.400 trường hợp này đều là tự sát, so với tỷ lệ tự sát bình quân cả nước vẫn còn thấp hơn mấy chục lần.
Phật giáo, Đạo giáo, Cơ đốc giáo, trong bất kỳ chính giáo nào đều có người tu không tốt, cá biệt người nào đó liệu có thể đại biểu cho toàn bộ tôn giáo đó không? Liệu có phải là chính giáo hay không cần xem xét giáo lý của tôn giáo đó, mặt lợi và hại mà tôn giáo đó đem lại cho xã hội …
Tối hôm đó, Xuân Liên và Thu Liên cùng hai người con của họ cùng nhau học Pháp Luân Công, hai chị em chia sẻ với nhau đến tận đêm. Xuân Liên rất tín Sư tín Pháp, hiểu rõ Pháp lý, phân tích những vấn đề phức tạp một cách dễ hiểu, đánh tan lớp sương mù dày đặc bao phủ trong tâm Thu Liên.
Sáng sớm hôm sau, Thu Liên bảo chị gái ở lại thêm vài ngày, còn mình thì đi làm. Buổi tối hôm đó khi cô và con trở về nhà, trong phòng không có ai, từ trong ra đến ngoài đều được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, trên bàn để một mẩu giấy ghi: “Thu Liên à, chị có việc phải đi. Hãy nhớ, khi em không vượt được quan, cảm thấy khó, nhất định phải nhớ đến Sư phụ, bởi vì Sư phụ luôn ở bên cạnh em. Nhất định phải học Pháp nhiều, buông bỏ tâm người thường, coi bản thân là người luyện công, kiên định thực tu”, đồng thời còn đặt ngay ngắn gọn gàng cuốn “Chuyển Pháp Luân” và các sách Đại Pháp khác ở trên tủ cao. Cháu ngoại cũng viết một câu để lại: “Dì và em, hai người hãy cố lên nhé, đừng để bị rớt lại!”
Đọc xong những lời dặn dò và khích lệ vô cùng chân thành và tha thiết của hai người thân để lại, hai mẹ con Thu Liên khóc như mưa, người con nói: “Hai mẹ con mình mau chóng tinh tấn thôi!”, từ đó, họ nắm chắc thời gian tu luyện, bám sát tiến trình Chính Pháp.
Sau khi chị gái rời đi, Thu Liên lấy lại tinh thần phấn chấn trở lại, vừa làm việc, vừa tu luyện, vừa chăm sóc dạy bảo con cái, tranh thủ thời gian đọc sách và luyện công, chia sẻ vẻ đẹp của Đại Pháp cho người thân bạn bè, bảo mọi người hành xử phù hợp với Đại Pháp, ủng hộ Đại Pháp sẽ được phúc báo.
Thu Liên nghĩ: Trong thời gian này, Sư tôn không công bố một bài kinh văn nào, cũng có nghĩa là để chúng ta có một quá trình liễu giải sâu sắc về Đại Pháp, một quá trình suy ngẫm để kiên định vững tin, khi Đại Pháp gặp nạn, liệu có thể buông bỏ sự an nguy của bản thân bước ra chứng thực Pháp, duy hộ Pháp hay không, cũng chính là một khảo nghiệm nghiêm túc đối với mỗi đệ tử Đại Pháp. Tu luyện chính Pháp không phải là tu luyện cá nhân, cần phải phối hợp chỉnh thể. Do lúc đó ở địa phương thiếu tài liệu giảng chân tướng, nên Thu Liên đã quyết định bước ra, tìm đến các đồng tu ở địa phương…
Một hôm, có một người bạn là người thường bảo cô rằng ở bệnh viện nào đó có một bác sĩ luyện Pháp Luân Công, ông ấy tiếp đón các bệnh nhân rất ân cần, khi điều trị cho bệnh nhân rất nhẫn nại, cẩn thận chu đáo và có trách nhiệm. Ông thường mỉm cười với mọi người, thỉnh thoảng còn giảng chân tướng về Pháp Luân Công bị bức hại cho người bệnh, khi những bệnh nhân rời đi ông còn chân thành tặng họ một bộ tài liệu chân tướng. Nghe xong lời giới thiệu của người bạn, cô quyết định đi gặp vị bác sĩ này.
Một hôm vào buổi trưa tháng 12 năm 1999, Thu Liên đội tuyết rơi dày như lông ngỗng đạp xe đến bệnh viện tìm vị bác sĩ đó, vừa nhìn thấy người dáng vẻ cao cao, da dẻ mịn màng, thái độ hiền hòa, cô liền giải thích lý do đến. Bác sĩ Thành Tâm liền nói mà không chút ngại ngần: “Tài liệu hôm nay mang đến tôi đều tặng hết rồi, cô có thể theo tôi về nhà lấy không?” Thu Liên nói: “Được ạ!” Vị bác sĩ này nói một cách chân thành rằng ông là một cựu thanh niên trí thức (thanh niên trí thức thành phố về nông thôn trong thời kỳ Đại cách mạng Văn hóa), đắc Pháp khá sớm. Hai người họ vừa đi vừa giới thiệu hoàn cảnh và tình huống của mỗi người. Khi nói đến hình thế Chính Pháp ở thị trấn nhỏ, ông ấy nói một cách chân thành và khẩn thiết: “Phải trân quý mỗi ngày hiện tại của chúng ta, trợ Sư chính Pháp. Cô nhớ đường đi, sau này có việc gì thì tự mình đến nhé”.
Vào đến sân sau, vợ của bác sĩ Thành Tâm nhiệt tình kéo Thu Liên vào trong phòng, sưởi ấm đôi tay lạnh cóng đến mức đỏ ửng cho cô, sau đó bác sĩ Thành Tâm nâng niu tập tài liệu mang đến đưa cho cô và dặn dò cô phải chú ý an toàn, có việc gì thì cứ đến tìm. Do lúc đó ở địa phương chưa có điểm sản xuất tài liệu, tất cả tài liệu đều do Thành Tâm thu thập từ các địa phương khác mang về phân phát cho các đồng tu. Họ âm thầm lặng lẽ phối hợp. Mỗi người chịu trách nhiệm cho một khu vực nhỏ của mình, phối hợp làm việc Chính Pháp. Vợ chồng Thành Tâm thường mang tài liệu đến phân phát cho từng nhà từng hộ vào buổi tối. Mỗi lần phát một, hai trăm cuốn tài liệu. Trong thời gian hơn một năm, ở thị trấn nhỏ của chúng tôi có gần một nghìn đệ tử Đại Pháp, đã trải qua hành trình đầy cảm xúc giống như Xuân Liên và Thu Liên, kiên tu Đại Pháp tâm bất động, nộp lên Sư phụ một bài thi đạt tiêu chuẩn, kiên định chính niệm, bước vào dòng chảy của Chính Pháp.
Thời gian: Cuối năm 2000 đến Tháng 09 năm 2001
Tháng 01 năm 2001, tà ác tạo ra sự kiện “Tự thiêu ở Thiên An Môn”, thế lực tà ác ở thị trấn nhỏ cũng tiến hành cuộc bức hại điên cuồng với đệ tử Đại Pháp, trạm trưởng Thực Tâm, bác sĩ Thành Tâm v.v. cùng hơn 20 đệ tử Đại Pháp bị bắt giữ và bức hại phi pháp, tại thời khắc then chốt này, Sư phụ đã cho công bố kinh văn “Gửi toàn thể học viên Pháp hội Bắc Âu”, Sư phụ giảng:
“khi giảng rõ chân tướng, không nên đợi, không nên dựa vào [người khác], không nên trông chờ vào sự biến đổi của các nhân tố bên ngoài. Mỗi cá nhân chúng ta đều đang sáng tạo lịch sử cho tương lai; vậy nên, mỗi người, ngoài việc tham gia hoạt động tập thể khác, đều chủ động tìm chọn công tác mà làm; chỉ cần có lợi cho Đại Pháp, đều nên chủ động làm, chủ động thực hiện”.
Sau đó, Sư phụ còn lần lượt cho công bố các kinh văn “Đại Pháp kiên cố không thể phá”, “Đệ tử Đại Pháp trong thời kỳ Chính Pháp” v.v. Thu Liên và các đồng tu giống như con thuyền lạc lối tìm thấy phao tiêu chỉ đường, những lời dạy bảo của Sư phụ đã cấp thêm sức mạnh và dũng khí cho đệ tử. Thu Liên cảm thấy, đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp nên tự mình gánh vác trách nhiệm, không thể nào cúi đầu trước tà ác, thế là sau khi tan làm, cô ấy đã dùng bút và giấy mà bản thân tự mua, chép tay lại cuốn tài liệu đã mang về từ địa phương khác sau đó đem đi in rồi phát cho đồng tu, giải quyết được vấn đề thiếu hụt tài liệu của các đồng tu xung quanh. Cũng trong thời gian này, hàng trăm nghìn đệ tử Đại Pháp ở thị trấn nhỏ đã dùng các cách khác nhau làm các việc giảng thanh chân tướng và chứng thực Đại Pháp.