Cổ trấn Pháp duyên (1): Phong cảnh thị trấn Hắc Sơn



Đường Lý

[ChanhKien.org]

Nhận được lời mời của một người bạn, tôi bắt xe buýt từ Tây An đến thị trấn Hắc Sơn thuộc Thương Châu, nằm sâu trong vùng núi Tần Lĩnh ở phía nam tỉnh Thiểm Tây. Tới Thương Châu tiến vào địa giới Hắc Sơn, tôi bị thu hút bởi cảnh đẹp trước mắt, dòng suối uốn quanh đỉnh núi, cỏ cây tươi tốt. Khi đó tôi liền nghĩ đến câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Bạch Cư Dị: “Ngã hữu thương sơn quân vị kiến, thanh tuyền bạch thạch tại hung trung” (Dịch nghĩa: Tôi thấy núi Thương Sơn mà bạn không thấy, nước xanh đá trắng trong lòng tôi). Khi cùng bạn leo núi, vượt sông, đến thăm các bô lão trong làng, tôi càng hiểu rõ thêm và cảm nhận sâu sắc hơn về thị trấn cổ Hắc Sơn, nơi đây hoàn toàn không phải là “vùng núi nghèo hoang vu” như thế nhân vẫn nói, mà là một điểm danh lam thắng cảnh có lịch sử văn hoá lâu đời và nguồn gốc Pháp duyên thâm sâu!

“Lục Thủy” bao quanh cổ trấn, “Ngũ Long” nằm tại núi Hắc Sơn

Hắc Sơn là một thị trấn nhỏ nằm trong núi bao gồm chín ngôi làng tập hợp xung quanh các khu vực Trương Loan, Dược Vương Bình, Bạch Miếu, Tây Xuyên, Đông Xuyên, Phàn Xuyên, Trương Bình, sông Nhị Cốc và Hắc Sơn, trung tâm là đường núi Hắc Sơn. Phía Đông đường Hắc Sơn bắt đầu từ miếu Ngọc Hoàng, phía Tây đến cầu treo trên cao, uốn lượn bốn dặm, phía sau núi Hắc Sơn là bờ sông Hà Bắc, trải qua lịch sử năm tháng lâu đời mà tự nhiên hình thành nên đường Hắc Sơn.

Sáu dòng sông chảy quanh cổ trấn là một đại kỳ quan của núi Hắc Sơn. Sông Tứ Xuyên và sông Dược Vương Bình giao nhau tại cây cầu treo trên cao tạo thành dòng sông chính là sông Hậu ở Hắc Sơn, kênh Cổ Mộ, sông Phàn Xuyên chảy xuyên qua cây cầu nhỏ từ Bắc sang Nam, đổ thẳng vào sông Hậu, sông Bán Diện chảy theo phía Nam vào sông Hậu, sông Thoát Bì hòa vào sông Hậu ở đầu phía Đông.

Các dãy núi tại phía Tây, Nam, Bắc đường Hắc Sơn bị các dòng sông phân thành năm triền núi độc lập, từ trên cao nhìn xuống, giống như năm con rồng xanh nằm uốn lượn, “đầu rồng” từ các phương khác nhau đều hướng về sông Hậu núi Hắc Sơn, được ví như “Ngũ Long tư thủy” (Năm con rồng phun nước). Tại phía Đông đường Hắc Sơn có một đỉnh núi bằng phẳng hình thang song song với con đường, có tên là “Trại Tử Pha”, tạo thành một bức bình phong phía đông con đường. Dòng sông Hậu Hắc Sơn do sáu con sông hợp thành chảy men theo núi Trại Tử Pha một nửa vòng về bên phải, rồi lại chảy về hướng Đông Nam tới Trương Bình.

Theo truyền thuyết, “Trại Tử Pha” là một Kim ấn (dấu ấn bằng vàng) của Ngọc Hoàng đại đế bị thất lạc tại nhân gian, vậy nên được gọi là “Ấn Sơn”. Ngôi đền Ngọc Hoàng được người xưa xây dựng tại khúc quanh sông Lộc Hà phía Nam núi Ấn Sơn, có thể là bắt nguồn từ truyền thuyết này! Bên kia sông đối diện với đền Ngọc Hoàng có một tòa hí lâu (nhà hát biểu diễn hí kịch), con đường mòn đi bộ uốn lượn đi qua giữa miếu và tòa hí lâu. Từ trên cao nhìn xuống, hồ nhỏ hình bán nguyệt cùng tòa hí lâu, con đường mòn đi bộ, miếu cổ tạo thành một bức hoạ uốn lượn hình Thái cực, miếu cổ và tòa hí lâu vừa vặn nằm ở hai điểm âm dương của hình Thái cực. Con sông ở phía trước hình “Thái cực” có ba phiến đá dài mảnh màu nâu đỏ nằm xuôi theo dòng nước, được gọi là “Thiết môn hạm” (cánh cửa sắt). Như vậy “Kim ấn”, “Thái cực” và ba phiến đá “Thiết môn hạm” đã bảo tồn cảnh quan Hắc Sơn qua vạn năm không biến đổi, trở thành một kỳ quan cổ trấn!

Miếu cổ khắp thị trấn, đời đời kính Thần Phật

Vào thời cổ xưa, thị trấn Hắc Sơn là con đường giao thông trọng yếu nối liền giữa Tây An và Hồ Bắc, xe ngựa và khách thương nhân đi lại tấp nập, văn hoá truyền thống theo đó du nhập vào. Vì vậy, văn hoá tín Thần, thờ Phật, kính Đạo và tôn sùng Khổng Tử, Mạnh Tử đã được lưu truyền từ xa xưa.

Nghe nói trước thời Nam Tống, có một vị cao tăng phát hiện ra vùng đất này phong thủy thịnh vượng, đã xây dựng hai ngôi chùa tại Tiều Gia, nơi rộng nhất ở phía tây đường Hắc Sơn – Thượng Tự và Hạ Tự (gọi chung là chùa Hắc Sơn). Mặc dù trong sử sách không có ghi chép chi tiết về ngôi chùa, nhưng sau khi ngôi chùa bị cháy, người ta đã khai quật được những viên đá làm móng nhà và xà nhà, qua đó có thể hình dung được sự uy nghiêm của điện thờ Phật, sự hoành tráng của ngôi chùa cùng ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Phật giáo thời bấy giờ ở vùng đất này.

Trên đường Hắc Sơn đã từng có năm ngôi đền cổ. Tại “đầu rồng “ ở cầu treo phía bắc sông Tứ Xuyên và “đầu rồng” ở cầu phía bắc sông Phàn Xuyên, mỗi nơi xây một ngôi đền Long Vương; tại “đầu rồng” ở đoạn đường giữa có đền Thần Tài (còn được gọi là Ngũ Thánh điện, Thất Thánh cung), thờ phụng các tượng Thần Tài, Hoả Thần, Dược Vương, Ngưu Vương, Mã Vương, Trùng Vương .v.v.. Phía bên phải ngôi chùa có lầu gác nhỏ hai tầng thờ Tôn Đại Thánh, được gọi là “Đại Thánh lâu”, trên lầu có một chiếc chuông lớn. Đối diện ngôi chùa có một toà hí lâu cao lớn, bên trên treo một tấm biển khổng lồ với ba chữ lớn “Ca Vũ Lâu”, ba chữ này khắc lại chữ của cử nhân họ Vương đời nhà Thanh dùng chổi thay bút viết nên. Ở giữa ngôi chùa và toà hí lâu là một quảng trường lớn có thể chứa hàng trăm người, nơi đây đã từng là trung tâm văn hoá giải trí của thị trấn; tại “đền Ngọc Hoàng” ở đầu phố đông, ba toà Thần điện và ba bức tượng Thần là những chế tác ấn tượng nhất trong các đền thờ Thần tại đây, chiếc chuông lớn của ngôi chùa nặng hơn nghìn cân; bên phải đền Ngọc Hoàng là đền Thần Tài, bốn mùa khói hương nghi ngút.

Các ngôi đền cổ lấy đường núi Hắc Sơn làm trung tâm tỏa ra xung quanh. Bên phải cây cầu treo trên cao: hai ngôi đền cách nhau hai dặm là “đền Bồ Tát” và “đền Lão Quân” nằm ở hai đầu núi, đền Ngọc Hoàng và toà hí lâu được xây dựng tại khu đất trống rộng lớn dưới núi. Cách hai, ba dặm về phía Tây còn có một ngôi đền Hoả Thần, đi tiếp về phía Tây đến ngọn núi cao gọi là “Hàn Tử” có ngôi đền Đại Thánh, tại Thượng Sa Bình có “đền Ngọc Hoàng”; phía bên trái cây cầu treo trên cao tại nơi cao nhất là đỉnh Ngọc Hoàng có “đền Ngọc Hoàng”, tại Dược Vương Bình có “đền Dược Vương” và toà đại hí lâu, tại Vương Gia Câu có “đền Đại Thánh”, thôn Bạch Đền có “đền Quan Vương”, Nhị Lĩnh Lương có đền Long Vương, Đồng Am Tử có đền Ngọc Hoàng, về hướng sông Phàm, đi một dặm về phía bắc có đền Đại Thánh, đi năm dặm về phía bắc có đền Bồ Tát, Hồng Thổ Lĩnh có đền Đại Thánh; phố đông Trương Bình: tại động Bạch Long có xây đền “Bạch Vân Từ” (đền Bạch Long Vương), tại núi Cửu Hổ sơn có “đền Địa Tạng Bồ Tát”, tại Sa Trường Câu có “đền Thái Sơn Vương” (đền Diêm La), tại cửa sông Giới Thạch có “đền Bồ Tát”. Còn các đền nhỏ thờ thổ địa luôn được xây trên đỉnh núi, đầu đường thì không có gì lạ.

Tại Hắc Sơn, các ngôi đền lớn nhỏ rải rác khắp nơi, vì vậy tại nơi đây cứ “cách năm dặm có một ngôi đền lớn, cách ba dặm có một ngôi đền nhỏ”. Có một số nơi nhờ đền mà nổi danh, ví như: Song Đền Tử, Bạch Đền Tử, Ngũ Dặm Đền, Ngọc Hoàng Đỉnh, đền Ngọc Hoàng v.v… Đáng tiếc là tôi không tìm được nhiều ghi chép lịch sử về những ngôi đền này. Nhưng có thể khẳng định một điểm: Vào trước năm 1949, ngoại trừ chùa Hắc Sơn đã bị thiêu hủy ra, các ngôi đền khác đều được bảo tồn tốt (hoặc trong lịch sử từng được tu sửa). Mỗi toà đền đường đều được chạm trổ tinh xảo, xà cột hoa lệ, nguy nga lộng lẫy, mỗi một bức tượng Thần đều được điêu khắc tinh mỹ, dáng vẻ uy nghiêm, mỗi bức bích hoạ đều sống động như thật, toát lên thần thái. Vì vậy, mỗi công trình kiến trúc đều là một viên minh châu sáng lấp lánh chứa đựng văn hoá. Mỗi dịp lễ tết, hội chùa, các nghi lễ tế tự đều được cử hành long trọng, các thôn làng xung quanh tụ hội, tụng kinh ca hát, hương khói nghi ngút, đèn nến lấp lánh, vô cùng náo nhiệt mà vẫn trang nghiêm, thần thánh.

Tại một thị trấn nằm nơi thâm sơn cùng cốc cách xa chốn thành thị mà có tổng cộng 27 ngôi chùa và đền (thống kê chưa đầy đủ) gồm hai ngôi chùa Phật giáo, bốn ngôi đền Bồ Tát, năm ngôi đền Ngọc Hoàng, năm ngôi đền Đại Thánh, bốn ngôi đền Long Vương, hai ngôi đền Thần Tài, một ngôi đền Quan Đế và sáu ngôi đền thờ Thần tiên, còn có bốn toà đại hí lâu và vô số ngôi đền nhỏ thờ Thổ địa, thật là hiếm thấy!

Các ngôi chùa đền truyền thừa đời đời nền văn hoá Thần truyền Trung Hoa, mỗi ngôi đền, mỗi bức tượng Thần đều gắn với một câu chuyện cảnh tỉnh thế nhân. Người ta thờ cúng bái lạy Thần Phật, không chỉ để cầu sự phù hộ của chư Thần Phật, mà còn biểu thị lòng kính ngưỡng đối với chư Thần Phật. Ví dụ các câu chuyện về Bồ Tát đại từ đại bi, Ngọc Hoàng đại đế chí cao vô thượng, Tôn Đại Thánh trừ ác khuyến thiện, Quan Vương Gia trung nghĩa anh dũng, đều là các câu chuyện quen thuộc mà mọi người thường nghe. Vào trước năm 1949, người dân ở đây vào mỗi dịp mùng một, mười lăm âm lịch đều đến các chùa đền để dâng hương kính Thần, trên bàn thờ mỗi gia đình đều có bài vị của “Thiên Địa Quân Đế Sư”. Con người trải qua bao thế hệ kính Thần lễ Phật, tin tưởng thiên lý thiện ác hữu báo, tuân theo đạo đức, nhân lễ nghĩa trí tín. Phong tục dân gian ở đây rất đơn giản, lòng người lương thiện, có rất nhiều câu chuyện tốt đẹp được kể lại về đồ rơi trên đường không ai nhặt, ban đêm không cần đóng cửa. Vì vậy, núi Hắc Sơn đã từng là một nơi thắng cảnh mà các tôn giáo Nho Thích Đạo cùng nhau phát triển, tỏa sáng trong nền văn hoá truyền thống Trung Hoa!

Tuy nhiên điều đau lòng là phong trào “phá trừ mê tín” sau năm 1949, phong trào “Đại nhảy vọt” năm 1958 và phong trào “Phá tứ cựu” thời cách mạng văn hóa khiến cho nền văn hoá trân quý ở nơi đây bị phá hủy gần như sạch trơn. Các bức tượng Thần bị đập phá, các ngôi đền chùa (ngoại trừ một vài nơi được sử dụng làm kho chứa ngũ cốc và trường học) về cơ bản đã bị phá bỏ, hai chiếc chuông lớn đã bị đập vỡ trong đại phong trào “Luyện sắt thép”. Nhưng hết thảy những điều này cũng không thể nào ngăn cản và cắt đứt lòng tôn kính Thần Phật của người dân nơi đây!

Tại núi Hắc Sơn, việc truyền thừa văn hóa không thể không kể đến công lao của bao thế hệ các tăng nhân xuất gia, cư sĩ Phật giáo, đạo sĩ trong đền (Đạo cô), thầy giáo trường tư thục, nhà thư hoạ, nhà điêu khắc, các lang y cho đến các thầy phong thủy, thầy bói. Ngoài ra, các nghệ nhân dân gian nơi đây cũng có những cống hiến quan trọng, diễn hí kịch Tần Xoang, gõ trống Thanh La nhảy điệu múa Hoa Cổ, hát nhạc hiếu, thuyết (bình) sách, dùng các câu chuyện lịch sử để giáo hoá dân làng và con cháu phải tuân theo các mỹ đức truyền thống Trung Hoa. Hàng năm có các hoạt động văn hóa dân gian như múa lân, múa rồng, rước đèn, không chỉ khiến cuộc sống người dân sinh động, mà còn không ngừng cổ vũ, hội tụ và củng cố tín ngưỡng của người dân đối với Thần Phật.

Thời kỳ Dân quốc, khi nền giáo dục chuyển từ dạy tư thục vào trường học, “trường học Hắc Sơn” được xây dựng đã làm nên những thành tích chói lọi cho sự phát triển giáo dục và truyền bá văn hóa ở Hắc Sơn. Trường học đã bồi dưỡng ươm mầm hàng nghìn vạn nhân tài cho xã hội và người dân nơi đây, một số lượng lớn học sinh ra trường, hầu hết họ đều trở thành những người tài giỏi có thành tựu trong sự nghiệp: Giáo sư, bác sĩ, học giả, chuyên gia, nhà thư pháp, hoạ sĩ cùng các nhà quản lý các cấp, trong đó có ba giáo sư đại học và hai cán bộ cấp sở.

Sơn trấn bị quên lãng, thế nhân đang đợi Pháp

Cùng với sự hình thành của tuyến đường Tây An đến Thương Châu và Sơn Dương và sự trỗi dậy của nền kinh tế thương mại hàng hoá, vai trò quan trọng của Hắc Sơn trong giao thông vận tải, kinh tế và thương mại đang giảm sút. Hơn nữa ở đây không có các nhà máy công nghiệp và hoạt động du lịch, vì vậy, thị trấn Hắc Sơn ngày nay trở thành một góc bị các nhà sử học, các ban ngành văn hóa và giới văn nhân lãng quên. Hắc Sơn hầu như không được ghi chép trong biên niên sử địa phương của huyện, trở thành một vùng núi xa xôi, hẻo lánh, lạc hậu và nghèo nàn.

Kinh tế núi Hắc Sơn tương đối lạc hậu, hơn nữa có rất nhiều người vẫn sống cuộc sống khá thanh bần. Chính vì sự “lạc hậu” và “phong bế” này khiến cho người dân nơi đây ít bị đầu độc bởi “thuyết vô thần” và trào lưu cuộc sống vật chất, dù là người lao động làm công ở ngoài hay ở trong thôn làm ruộng vườn, họ vẫn luôn kiên trì tín ngưỡng đối với Thần, giữ vững đạo đức làm người, duy trì phong tục tập quán thuần phác của tổ tiên. Tựa hồ trong tăm tối vô minh có Thần linh đang bảo hộ những người dân nơi đây để họ kiên trì chờ đợi một sự kiện lớn sắp xảy ra tại nhân gian!

Hầu hết các tôn giáo và những nhà tiên tri trong và ngoài nước đều cảnh báo con người thế gian: Vào thời mạt kiếp nhân loại sẽ xuất hiện đại đào thải. Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi niết bàn giáo huấn đệ tử của ông: Vào thời kỳ mạt pháp (tức là thời đại ngày nay khi đạo đức con người đã bại hoại) nhân loại sẽ có đại kiếp nạn, Pháp mà Ông truyền không thể cứu người được nữa. Khi ấy, Chuyển Luân Thánh Vương lấy danh hiệu Phật Di Lặc hạ thế sẽ đến nhân gian truyền Pháp cứu độ chúng sinh. Phật giáo tôn Chuyển Luân Thánh Vương là vị Phật tương lai (tôn Thích Ca Mâu Ni là vị Phật hiện tại). Chuyển Luân Thánh Vương chính là Cứu Thế Chủ trong truyền thuyết dân gian tại khắp nơi trên thế giới, Cơ Đốc giáo tôn Ngài là “Vạn Vương Chi Vương”, các nhà hiền triết tại nhân gian tôn Ngài là Thánh nhân vĩ đại.

Quốc sư triều nhà Minh là Lưu Bá Ôn đã tiên đoán mức độ nghiêm trọng của đại kiếp nạn, rằng: “Người nghèo một vạn lưu một ngàn, người giàu một vạn lưu hai ba”; và tiên đoán sự kiện Chuyển Luân Thánh Vương truyền Pháp cứu độ thế nhân là: “Lúc sắp kết thúc, vạn Tổ hạ giới, nghìn Phật lâm phàm, phổ thiên Tinh Đẩu, La Hán quần Chân, mãn thiên Bồ Tát, khó thoát kiếp này. Chính là vị Phật tương lai hạ thế truyền đạo, thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ, nếu không gặp con đường vàng kim này thì khó tránh kiếp nạn này, bị tước quả vị, sau cùng Di Lặc phong bế hết 81 kiếp”.

Lời tiên đoán dự ngôn trên được giải như sau: Vào thời kỳ mạt Pháp chúng sinh vũ trụ (bao gồm cả các vị Thần trên trời và con người trên mặt đất) sẽ có đại kiếp nạn, chỉ có vị Phật tương lai (Chuyển Luân Thánh Vương) hạ thế truyền Pháp (cũng chính là Pháp Luân Đại Pháp) mới có thể cứu độ chúng sinh vũ trụ (bất cứ tín ngưỡng nào khác không thể làm được việc này); khi đó những người thế gian đang đợi vị Phật tương lai truyền Pháp cứu độ (vốn dĩ) đều là các vị vạn Tổ, nghìn Phật, mãn thiên Bồ Tát … luân hồi chuyển sinh tại nhân gian, trong đó bao gồm cả bạn, tôi và họ; nếu như bỏ qua cơ duyên (không gặp con đường vàng kim) được nghe Đạo (đồng hoá với Đại Pháp), thì dù bạn (nguyên) là Thần trên trời hay dưới đất đều sẽ bị đào thải.

Hôm nay, toàn thế giới đều biết: Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền lấy “Chân – Thiện – Nhẫn” làm Pháp lý tối cao, từ bi cứu độ thế nhân, chính là sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử nhân loại mà các đại Giác Giả và nhà tiên tri nói đến! Đây chính là nguyên nhân mà ở Trung Quốc có gần 100 triệu người, toàn thế giới có hơn một trăm quốc gia có người dân đang tu luyện Pháp Luân Đại Pháp (tức Pháp Luân Công). Vì vậy, điều mà chư Thần muốn người dân Hắc Sơn kiên trì chờ đợi bao đời chính là Pháp Luân Đại Pháp!

Năm 1996, sau khi Tống Tú Quyên, người liên lạc của trạm phụ đạo Pháp Luân Công tại Thiểm Tây và Tây An đến Hắc Sơn hồng Pháp, thị trấn nhỏ này đã có mười mấy học viên Pháp Luân Công hàng ngày luyện công tập thể trên đường núi Hắc Sơn. Âm nhạc Đại Pháp du dương, động tác luyện công tao nhã đã trở thành một điểm thắng cảnh độc đáo của núi Hắc Sơn. Trong ba năm trước “ngày 20/7/1999”, đa số người thân trong thôn đều thấy được vẻ đẹp của Đại Pháp, tỏ lòng kính ngưỡng đối với Đại Pháp và chiểu theo tiêu chuẩn “Chân, Thiện, Nhẫn” làm người tốt. Đạo đức ngày càng thăng hoa trở lại, các tệ nạn xã hội trước đây bị áp chế, nơi đây hình thành nên một trường năng lượng chân chính. Vì vậy, khi Đại Pháp bị bức hại, người dân không tát nước theo mưa, đây chính là lý do căn bản khiến cuộc sống của người dân Hắc Sơn gần 20 năm nay vẫn thuần phác, mưa thuận gió hoà. Bởi vì Thần sẽ mang phúc báo cho những địa phương và những con người tin tưởng, thiện đãi Đại Pháp!

Khi kết thúc bài viết này, tôi ngộ ra được: vì sao Thần sắp đặt cho Hắc Sơn địa thế phong thủy cực tốt và một nền văn hoá huy hoàng trong lịch sử? Đó là vì tín ngưỡng đối với chư Thần của người dân núi Hắc Sơn có thể truyền thừa qua bao thế hệ, làm bước đệm cho hôm nay họ nhận thức được Đại Pháp! Tại sao thị trấn Hắc Sơn vào thời cận đại lại trở nên “phong bế”, “lạc hậu”, cách xa những thứ ô nhiễm “hiện đại hoá” của thành thị? Đó là Thần vì để người dân núi Hắc Sơn kiên trì giữ vững lòng thiện lương và chân thành của tổ tiên! Bởi vì những người tín Thần, những người thiện lương sẽ thừa nhận “Chân – Thiện – Nhẫn”, từ đó mà được Đại Pháp cứu độ. Đây chính là từ bi của Sáng Thế Chủ!

Dù người dân Hắc Sơn sống trong dãy núi Tần Lĩnh, nhưng Thần Phật không quên họ, Sáng Thế Chủ càng không quên họ. Không có một con đường núi nào cách thị trấn quá xa, người dân thuần phác, lương thiện. Đại Pháp chiếu sáng con đường quy chân, người nghèo mặc vải bố cũng có thể tu thành tiên. Những người được sống, làm việc tại nơi đây đều có duyên phận lớn, đại phúc phận! Hy vọng người dân núi Hắc Sơn có thể trân quý cơ duyên vạn cổ Đại Pháp hồng truyền này, minh bạch phân biệt rõ thị phi, tránh xa tà ác; thành tâm niệm chín chữ chân ngôn “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo!”, đây là Đại Pháp cao thượng giúp con người thế gian vượt qua kiếp nạn, giúp sinh mệnh thăng hoa, tín ngưỡng và đồng hoá Đại Pháp thì nhất định sẽ có tương lai vô cùng tốt đẹp!

Chúc các bạn bình an!

[Chú dẫn] Nguyên văn bài thơ “Đáp Thôi Thập Bát” của Bạch Cư Dị đời Đường :

劳将白叟比黄公,
今古由来事不同。
我有商山君未见,
清泉白石在胸中。

Hán Việt:

Lao tương bạch tẩu bỉ hoàng công,
Kim cổ do lai sự bất đồng。
Ngã hữu thương sơn quân vị kiến,
Thanh tuyền bạch thạch tại hung trung。

Dịch nghĩa:

Khó so sánh Bạch tẩu với Hoàng Công,
Sự việc từ xưa đến nay không giống nhau.
Tôi thấy núi Thương Sơn mà bạn không thấy,
Nước xanh đá trắng trong lòng tôi.

Dịch từ: http://www.zhengjian.org/node/154891


Ngày đăng: 18-03-2021