Bầu trời của lịch sử: Hằng Nga



Tác giả: Thiện Dũng

[ChanhKien.org 19-2-2019] Trên vùng đất Thần Châu, nền văn minh 5000 năm của dân tộc Trung Hoa là nền văn hóa Thần truyền đặt định cơ sở cho Chính Pháp hồng truyền. Rất nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng hiện nay đã chuyển sinh thành đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp. Trong đó, mọi người đều biết đến truyền thuyết về Hậu Nghệ và Hằng Nga, đời này họ lần lượt bước vào tu luyện Đại Pháp, phối hợp tham gia hạng mục Chính Pháp trong thời gian dài, khởi tác dụng chính diện tích cực trong chứng thực Pháp, cứu độ chúng sinh. Trên thế gian bất cứ sự vật gì đều không tồn tại ngẫu nhiên, phải có nhân thì mới có quả. Hôm nay, tôi muốn kể về một giai đoạn truyền kỳ kết duyên chuyển sinh đời đời kiếp kiếp của Hậu Nghệ và Hằng Nga.

Chương 1

Cách đây 3000 năm, Thương Thang diệt nhà Hạ đóng đô ở Bặc Đô (Thương Khâu, tỉnh Hà Nam), truyền đến đời vua thứ 5 là Thương Hiếu, vua có bảy người con gái, Hằng Nga chuyển sinh thành công chúa cả tên là Vi Cơ, 16 tuổi gả cho Thế Tập Hầu tước Hạo Tử (Hậu Nghệ), sau khi tổ chức đại lễ thành hôn ở kinh đô, nàng theo gia đình chồng về đất phong Triều Ca (Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam), Hầu tước Tử Hạo được phong mấy ngàn mẫu ruộng tốt ở đất Ốc Dã, gia binh gần 5.000 người, đồng thời thống lĩnh đội quân 75.000 người của triều Thương. Lúc đó, dân số triều Thương khoảng 5 triệu người, quân thường trực khoảng 180.000 người, phạm vi địa bàn hoạt động ở vùng trung và hạ lưu sông Hoàng Hà. Kinh tế, văn hóa và quân sự khá phát triển. Các quân vương đời đời nối tiếp nhau dẫn quân chinh chiến khắp nơi, mở mang bờ cõi, lập chiến công huy hoàng. Triều Thương kế thừa văn hóa triều đình trước đồng thời phát triển và sáng tạo ra “chữ Giáp Cốt”. Quân vương triều Thương kính thiên trọng Đạo, thuật bói toán giáp cốt được lưu truyền rộng rãi, các chế tác đồ đồng, đồ gốm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Người thời đó đã trồng cấy thóc gạo để cung cấp cho các gia đình hoàng gia và quý tộc ăn. Lễ nhạc thịnh hành trong các tầng lớp xã hội, đặc biệt là tầng lớp cao.

Sau khi Tử Hạo và Hằng Nga thành thân được mấy chục năm, một buổi đầu thu hai người cùng ngồi trong đình ở phủ Hầu tước, Tử Hạo nói: “Ta ở thế nhân phúc lộc đầy đủ, nhưng đời người ngắn ngủi, không thể dài lâu, buồn thay!” Hằng Nga nói: “Phu quân là người chí lớn, sao lại nhụt chí như thế?! Nếu đã có nguyện vọng này, thiếp tuy là nữ nhân, cũng biết rõ chỉ có cách tìm tiên nhân tu đạo mới có thể thoát được sinh tử, trường tồn với đất trời”. Tử Hạo nói: “Công chúa nói rất phải, nhưng không biết Thần tiên ở nơi nào mà tìm?” Hằng Nga nói: “Thiếp cũng không biết, hay là tìm Quốc sư coi bói xem?” Hằng Nga bèn sắp xếp chuyến đi trở về kinh thành, tìm Quốc sư triều Thương coi bói, nàng mang về quẻ bói đại khái như sau: Đại Đạo vốn không có đường, cầu Đạo phải chân thành, đến phía tây sẽ gặp pháp duyên, một lòng hướng Đạo ắt sẽ thành. Vậy là Tử Hạo phái rất nhiều gia binh đi về phía tây để tìm kiếm Đạo pháp tiên duyên (phương pháp tu Đạo), bản thân cũng ngày đêm thắp hương thỉnh cầu.

Đầu mùa hè, Tử Hạo cưỡi chiến xa dẫn theo 800 kỵ binh tuần tra khắp vùng đất do ông cai quản, tình cờ gặp một kỳ nhân, thấy người này mặc áo bào đen, tóc bạc, khuôn mặt hồng hào, tướng mạo khôi ngô, hai mắt sáng rực như sao, hoàn toàn khác với người bình thường nơi thế tục. Tử Hạo xuống chiến xa, bước tới trước mặt dị nhân, cung kính hành lễ nói: “Không biết tiên nhân định đi đâu?” Dị nhân đưa mắt nhìn Tử Hảo, ung dung nói: “Vì sao ngươi biết ta là Thần tiên?” Tử Hạo cúi người nói: “Con nhìn tiên nhân khí độ siêu phàm, hai mắt sáng rực, chắc chắn không phải khí chất của người thường, cho nên mới cả gan đến hỏi, mong rằng Thần tiên thứ lỗi. Con có tâm hướng Đạo, khổ sở tìm Đạo mà không gặp, mong Thần tiên hóa độ!” Nói xong lại cung kính hành đại lễ với dị nhân. Dị nhân trầm mặc một hồi rồi nói: “Ngươi là người phú quý, công thành danh toại, vì sao lại cầu Đạo?” Tử Hạo nói: “Đời người ngắn ngủi, không biết đi về đâu, con một lòng hướng Đạo, chỉ mong được giải thoát”. Dị nhân nói: “Theo ta tu Đạo cần phải bỏ hết danh lợi, ân ái ở thế gian, ngươi có làm được không?” “Người tu Đạo nhất định xả bỏ mọi thứ”. Dị nhân nghe xong mỉm cười nói: “Ba ngày nữa hãy đợi ta ở đây, ta chính là Quảng Thành Tử!” rồi quay đầu rời đi. Tử Hạo về phủ giao lại chức vụ triều đình, sắp xếp việc trong nhà ổn thỏa. Trước khi từ biệt, ông đến cổng lớn của phủ Hầu tước, Hằng Nga đứng cạnh cửa, cúi người hành lễ nói: “Phu quân, lần này đi không biết bao giờ mới gặp lại, phu quân hãy bảo trọng! Đợi đến khi phu quân tu thành đại Đạo, xin phu quân hóa độ!” Tử Hạo thần sắc ưu tư trả lời: “Ta nhất định sẽ không phụ kỳ vọng của nàng…”

Tử Hạo (tôi) cưỡi xe ngựa đến nơi hẹn với Quảng Thành Tử, một mạch đi về hướng tây, đến núi Không Động (thuộc tỉnh Cam Túc). Thấy địa thế núi Không Động hùng vĩ, rừng cây bát ngát, sương mù dày đặc, núi non trùng điệp, xanh biếc, mây khói tuôn trào, hoang xơ ít bóng người. Sau khi vào động tiên trong núi hành lễ bái sư xong, Quảng Thành Tử nói: “Môn của ta chính là Tiên Thiên Hỗn Nguyên Tu Đạo Đại Pháp, kế thừa Nguyên Thủy Thiên Tôn, không ai biết được. Pháp đại Đạo, hóa sinh vạn vật, huyền diệu cao thâm, kỳ diệu không thể diễn tả; Pháp tu Đạo, nhiều vô số, huyền diệu cao thâm, mở ra cánh cửa kỳ diệu; Pháp thành Đạo, chủ tể thiên địa, huyền diệu cao thâm, ảo diệu vô tận. Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên (Tạm dịch: người tuân theo đất, đất tuân theo trời, trời tuân theo đạo, đạo tuân theo tự nhiên). Tuân theo địa pháp, đức dày tải vật; tuân theo thiên pháp, xoay chuyển càn khôn; tuân theo Đạo pháp, tiêu dao giữa bát hoang vô cực. Đây là thể ngộ của ta, ngươi trước tiên hãy tham khảo, sau này sẽ giảng chi tiết về Đạo pháp”.

Tôi tu luyện ở trong căn nhà đất ba gian dưới núi, sau lại khai hoang một ít đất trồng ngô, ngũ cốc, đậu để ăn. Cứ ba ngày lại lên núi nghe sư phụ giảng pháp một ngày, sau khi trở về thì đả tọa thực tu, ngày đêm, đông hạ hấp thu khí tinh hoa của trời đất. Cách một thời gian phải uống một viên đan dược do sư phụ đặc chế để gia tăng tốc độ tịnh hóa nhục thể, dần dần thần hóa. Đan dược màu đỏ sậm, vị rất đắng, sau khi uống cần kết hợp với phương pháp dẫn khí để lưu thông kinh mạch, cả ngày cả đêm đả tọa hóa giải vận hành của dược lực. Dược lực đến tận cùng lỗ chân lông trên bề mặt da của cơ thể thì bài xuất ra chất keo màu nhạt to cỡ hạt ngô, tùy theo số lần dùng đan dược, loại vật chất này dần dần biến thành chất keo màu trắng trong suốt. Da biến thành trắng nõn, thân thể dần dần trở nên nhẹ. Tôi liên tục nghe sư phụ giảng Đạo, tinh tấn không ngừng, sau 50 năm, thân thể đã có thể nâng lên, bay lên dễ dàng, các loại công năng, pháp thuật cũng triển hiện.

Sư phụ cùng lúc giảng Đạo và dạy ngoại công cho tôi. Sư phụ nói: “Đạo là vật, mờ mờ ảo ảo, Đạo sinh thái cực, bao hàm vạn sự vạn vật thế gian. Trong con người có chính và tà, trong tam giới cũng có tiên và ma, vạn vật đều tuần hoàn trong thiên lý Đạo pháp. Khi có kẻ xấu bắt đầu phạm thiên ý gây họa loạn, cần có người tu Đạo chúng ta thế thiên hành Đạo, duy hộ thiên lý nhân đạo. Từ nay về sau, con sẽ học pháp trừ ma giữ gìn Đạo, ngoài chưởng pháp và kiếm pháp, còn có phép bùa chú. Trong ba pháp này ẩn chứa huyền cơ tạo hóa thiên địa, trong đó có ý lục dã bát hoang cửu cửu quy chân. Ta truyền thụ cho con rất nhiều pháp môn, biết được thuật pháp cũng giống như binh khí. Lúc thi triển pháp hãy nghĩ tới quy luật nhân quả, phổ độ chúng sinh, hãy thận trọng khi sử dụng!” Tôi cúi lạy đáp: “Xin tuân lời tôn sư chỉ dạy”.

Sự phụ truyền thụ cho tôi chưởng pháp có tên là Hỗn Nguyên chưởng pháp, tổng cộng có 6 chiêu 48 đường, khi phát công thì có thể tiêu trừ ma lực âm tà, hóa giải thành khí hỗn độn. Kiếm pháp tên là Độn Thiên kiếm pháp, có 9 chiêu 81 bộ, kiếm pháp cuối cùng cần đạt đến trình độ tay không có kiếm nhưng trong tâm có kiếm, dùng kiếm vô hình, diệt yêu ma không phát ra tiếng động; khi cầm kiếm trong tay, vận chính khí thiên địa chém hạ tất cả âm quỷ. Còn phép bùa chú lại căn cứ theo pháp ra hiệu lệnh, sai khiến chính thần trong thiên địa, tuân theo pháp của thiên địa, bảo vệ chúng sinh trong thiên hạ.

Tôi ban ngày luyện tập chưởng pháp, kiếm pháp và phép bùa chú, cả đêm thì ngồi đả tọa, tinh tấn không ngừng, chỉ nhìn thấy trên núi bốn mùa nối tiếp nhau, năm tháng đổi thay, thời gian trôi qua.

Một hôm, tôi vào động tiên trong núi, sư phụ nói: “Tử Hạo, con có biết con theo ta tu luyện đã bao nhiêu năm rồi không?” Tôi đáp: “Con chưa từng tính, xin sư phụ khai thị”. Sư phụ nói: “Đã hơn 200 năm rồi. Những năm này, đồ nhi tinh tấn không ngừng, ta rất hài lòng, tuy nhiên tu Đạo còn có chỗ khiếm khuyết, con hãy xuống núi đi vân du, giải hết duyên trần, luyện đan dược để bổ trợ cho Đạo pháp, tôi hành lễ nói: “Đệ tử tuân lệnh sư phụ”.

Tôi sửa soạn hành lý, tay cầm Độn Thiên kiếm từ biệt sư phụ, xuống núi một mạch đi về phía đông, sau khi ăn hết lương thực mang theo thì hàng ngày vừa đi vừa xin ăn. Tôi vượt sông Hoàng Hà tiến vào lãnh thổ nhà Thương, thời thế thay đổi, trên đường đi thấy cảnh vật và người đã đổi thay. Đến đất xưa Triều Ca, những chuyện trước kia lần lượt hiện ra trước mắt, nơi từng là phủ Hầu tước xưa kia nay đã trở thành nha môn của triều đình, gia đinh trước cửa ngày trước nay đã là quân lính nhà Thương đứng canh gác. Nghỉ chân một hồi lâu, tôi tiếp tục hành trình về phía đông.

Đến hồ Hồng Trạch, mặt hồ sóng nước dập dềnh, lau sậy ngút mắt, khói nước mênh mông. Tôi ngồi đả tọa trên một tảng đá bên hồ, giữa mùa hè, vạn vật sinh sôi, chim kêu hoa nở, xanh non mỡ màng, tôi dần nhập định thâm sâu, không còn nghe thấy tiếng động. Chợt nghe thấy âm thanh của trẻ nhỏ, nhìn thấy trên bờ hồ có hai, ba đứa trẻ đang nô đùa, một đứa trẻ đi vào vùng nước sâu, đột nhiên một con vật lớn cách đáy nước không xa lao nhanh tới. Tôi lập tức xuất định chộp lấy đứa trẻ khỏi mặt nước, cầm Độn Thiên kiếm đâm vào con vật lớn ở dưới nước, con yêu quái to lớn bị kiếm khí làm bị thương nổi lên khỏi mặt nước, hóa ra là một con trăn lớn, thân của nó dài gần 30 mét, to gần 5 mét. Nó ngẩng đầu nói với tôi bằng ngôn ngữ của loài rắn, phát ra tiếng xì xì, hai mắt lớn mầu đỏ vàng, con ngươi màu nâu sậm. Nhìn thấy tôi đứng bên bờ sông, con ngươi của nó lập tức thu nhỏ lại, tôi lại đâm kiếm lần nữa, con trăn lớn lập tức lặn sâu xuống nước bỏ chạy mất. Tôi đưa đứa trẻ trở về thôn, nghe người dân trong thôn kể rằng những năm gần đây trong thôn thường vô cớ bị mất trâu, dê và cả trẻ nhỏ. Đêm đến tôi quan sát trong định, thấy con trăn lớn này đã tu hành gần 1000 năm, nó được sinh ra ở đầm Vân Mộng phía tây nam (vùng Vân Mộng, Hồ Bắc), dùng yêu pháp làm hại nhân gian, tôi liền dò theo yêu khí tìm đến nơi ở của nó.

Đầm Vân Mộng chu vi gần nghìn dặm, ao hồ sông suối rất nhiều, cỏ cây dày đặc, các loài động thực vật phong phú, trong đó còn có các loài thú lớn như voi, tê giác, hổ… sinh sống. Giờ tý, gió nổi lên, sương khói mênh mang trong đầm. Tôi dùng pháp nhãn nhìn thấy con trăn lớn đang ẩn thân trong một hang động bên núi, khu vực này là nơi hội tụ của các dãy núi, sông sâu nước cả, chằng chịt âm u, âm khí phủ đầy. Tôi đến miệng hang thấy từ trong hang có khí đen tuôn ra, xương trắng chất thành đống, tôi vận thần thông triệu hồn phách của con trăn lớn ra trước mặt, hồn phách của con trăn lớn mang hình dáng một bà lão cao 1,5m, đầu tóc rối bù, quần áo rách rưới, hai mắt đen như mực, mồm đầy răng nanh, móng tay sắc nhọn. Tôi nói: “Súc sinh, ngươi sao lại làm hại dân lành?” Con trăn yêu tinh nói với giọng khàn khàn, sợ hãi: “Tôi ở đây đã 1000 năm, sống cộng sinh với vùng sông nước này, tôi làm vậy chỉ vì tìm thức ăn giữ mạng sống mà thôi”. Tôi nói: “Thiên đạo luân hồi, pháp tắc uy nghiêm, há lại để súc sinh nhà người khinh nhờn, giết người hại mệnh tất phải lấy mạng ngươi”. Nói xong không đợi nó đáp lời, tôi liền cầm Độn Thiên kiếm chém đầu nó, hồn của nó hóa thành một luồng khí đen tiêu tán mất. Tôi lấy hai vật báu trên thân con trăn rồi phong kín cửa động lại.

Sau đó tôi tiếp tục đi vân du, đến núi Tiểu Thất. Tôi tìm một động thần tiên ngồi đả tọa, nhập định thâm sâu không biết đến thời gian. Một hôm tôi xuất định, cảm thấy một âm thanh thăm thẳm trong núi! Xem xét kỹ thì ra là tiếng thở dài của một cây sâm núi gần vạn năm. Tôi đến bên cây nhân sâm, linh thể trong thân cây nhân sâm hóa thành một ông lão cao 1m, mày râu bạc trắng, hành lễ với tôi, nói: “Chân nhân ở đây tu Đạo, vô ý quấy rối tiên nhân thanh tu!” Nói xong lại hành lễ. Tôi nói: “Không sao”. Linh thể của cây nhân sâm nói: “Tôi đã sống trong núi này vạn năm, tham ngộ thiên cơ, nhưng không đắc pháp, quả là đáng tiếc! Không biết tiên nhân có thể chỉ giáo cho tôi không?” Tôi mang nó vào trong động và giảng Đạo pháp cho nó vài ngày. Một hôm, cây nhâm sâm nói: “Đa tạ chân nhân ban pháp, tôi cảm tạ sâu sắc không quên, không đắc Đạo pháp, phí hoài vạn năm. Tôi tuổi thọ đã tận, nguyện mang thân thể ở thế gian dâng cho chân nhân, xin chân nhân độ hóa”. Tôi lại giảng Đạo pháp thiên tiên cho nhân sâm, nhân sâm hành đại lễ từ biệt tôi, vãng sinh vào tầng trời vô sắc giới.

Ngày hôm sau, tôi nhổ thân thể nhân sâm từ dưới đất lên. Cây nhân sâm có ba thân, nặng khoảng 10kg, sau đó tôi thu lượm tất cả các dược liệu cần thiết theo phương pháp luyện tiên đan của sư phụ rồi mang về núi Không Động.

Về đến núi Không Động thì đã đến mùa đông, tuyết rơi dày đặc, vạn vật náu mình, trong núi cũng bao phủ bởi một lớp tuyết trắng, tuyết phủ nghìn dặm. Tôi kể cho sư phụ toàn bộ quá trình vân du, sư phụ cho các dược liệu vào lò luyện, trầm mặc một lúc rồi nói: “Đạo pháp thiên thành! Việc đại thiện trên thế gian, chính là nghiêm khắc tiết chế bản thân hướng Đạo, đây là việc thiện lớn lao. Người tu Đạo có bổn phận diệt trừ yêu ma gây họa, duy hộ thiên Đạo, có cơ duyên đắc được sâm núi vạn năm, thật đáng mừng!” Tôi lấy ra cây sâm, lại lấy ra túi mật và nội đơn của yêu trăn nghìn năm đặt trước mặt sư phụ. Sư phụ xem xong nói: “Túi mật của yêu trăn có thể làm dược liệu chính, có công dụng giúp con người bài trừ tà khí, giải trừ độc tính, giúp tỉnh táo tinh thần; sư phụ lại cầm viên nội đơn màu xanh nhạt nặng khoảng 1kg của yêu trăn lên rồi nói: “Thứ này tập hợp linh khí của trời đất, có thể giải trừ độc tính của trăm loại côn trùng và thú vật. Sau khi dùng Đạo pháp luyện hóa thì có thể sử dụng linh thể ở trong đơn để hộ pháp”. Sau đó sư phụ lại giảng cho tôi phương pháp luyện chế nhân sâm, Đạo pháp luyện hóa nội đơn của yêu trăn. Những ngày tiếp theo ngoài việc hàng ngày tu hành ra, tôi mất 81 ngày dùng các loại dược liệu quý giá luyện chế cây nhân sâm thành 100 viên Cửu Chuyển Huyền Tham, lấy sáp bọc lại; lại mất 3 năm đem hóa luyện nội đan của trăn tinh thành pháp khí, bỏ vào trong hộp gỗ để dùng về sau. Tôi liên tục nghe sư phụ giảng pháp tu Đạo, ở trong núi thanh tu, thanh lọc bản tính, phản bổn quy chân, lánh xa thế tục, đạt đến cảnh giới siêu phàm.

Chương 2

Vật đổi sao rời, thời không biến ảo, thoáng chốc lại qua 200 năm, tôi từ biệt sư phụ xuống núi đi vân du. Vân du đến Đông Hải, biển trời xanh ngắt, sóng lớn vỗ bờ, hải âu bay lượn, trong lòng tôi thấy khoáng đạt. Men theo bờ biển vài ngày, tôi gặp một một cậu thanh niên, sắc mặt xanh xao, môi tím bầm, bước đi lảo đảo, dáng vẻ như người bị trúng độc rất nặng, tôi đến gần hỏi: “Có phải cậu sức khỏe không tốt? Có cần chữa trị không, ta có đan dược cấp cứu của tiên gia, có thể trị khỏi bệnh này”. Cậu thanh niên đó nghe xong hành lễ nói: “Tôi là Thanh Mộc đệ tử của Thái Ất chân nhân, phụng lệnh sư phụ đến Đông Hải long cung mượn pháp khí đỉnh lô (cái vạc), khi quay về bị thủy yêu làm hại trúng yêu độc, đang trở về Tiên Sơn vừa may gặp chân nhân, xin chân nhân cứu giúp”. Tôi liền bắt mạch xem bệnh, lấy ra một viên đan giải độc được luyện chế từ nội đơn của yêu trăn nghìn năm cho anh ta uống, lại dùng trâm bạc trích máu bài độc, điều trị hai ngày thì khí độc trong thân thể tan dần, Thanh Mộc cảm tạ cáo từ tôi rồi trở về núi theo lệnh sư phụ.

Tôi vân du đến núi Thái Sơn. Núi Thái Sơn hùng vĩ tráng lệ, dưới chân núi suối chảy ào ạt, núi cao sông dài, trời cao trong xanh, gió mát hây hẩy, núi đứng sừng sững một mình. Thấy nơi này non xanh nước biếc, mây mù ẩn hiện, khung cảnh thần tiên, là nơi thích hợp để tu Đạo, tôi liền tìm một động phủ trong các ngọn núi của Thái Sơn, đả tọa tĩnh tu ở đó.

10 ngày sau, trong định tôi cảm giác ngọn núi phía đông có oán khí ngút trời, tiếng khóc chói tai, tôi giải trừ định ấn, đứng dậy bay đến đỉnh núi gần đó. Tôi thấy một cô gái trẻ đang đi lên núi, vừa đi vừa khóc, tiếng khóc vô cùng bi thiết, đến đỉnh núi lại khóc to hơn, thấy cô ấy đi đến bờ vực định gieo mình xuống tìm cái chết, tôi bay đến phía sau cách cô ấy mấy trượng, nhẹ nhàng nói: “Cô nương hãy khoan đã, ta có lời muốn nói”. Cô gái trẻ giật mình quay đầu lại, hai mắt trợn tròn, nước mắt lưng tròng, vẻ mặt đầy kinh ngạc hỏi: “Ngài là ai, vì sao lại ở đây?” Tôi đáp: “Ta là người tu Đạo, ở trong núi tĩnh tu, nghe thấy tiếng khóc bi thiết của cô nương, dường như có oan tình, nên đến đây hỏi”. Cô gái hành lễ nói: “Tiểu nữ đã thất lễ. Tôi sống ở thôn dưới núi, cha mẹ nhận của người họ Triệu 10 lạng bạc để gả tôi cho hắn. Tôi không đồng ý, không nghe theo, nên tìm đến cái chết”. Nói xong cô gái lấy tay bưng mặt khóc thút thít. Tôi nói: “Đạo sinh âm dương, hóa sinh vạn vật, tất cả đều tuân theo pháp tắc thiên lý. Con người sinh ra có số mệnh, tất cả đều có nhân duyên. Thân thể là do cha mẹ ban cho, nên nghe theo mệnh trời, nghe theo lời cha mẹ”. Cô gái ngừng khóc đáp: “Tôi từ khi sinh ra đã ngưỡng mộ Đạo tu tiên, không muốn làm ô uế thân trong sạch, nếu ngài là Thần tiên, xin ngài hóa độ”, nói xong cúi đầu hành lễ với tôi, lớn tiếng nói: “Xin Thần tiên hóa độ!” Trong phút chốc tôi đột nhiên nhớ lại lời hứa 400 năm trước. Nhìn cô gái này tóc đen óng ả, mắt phượng mày ngài, da trắng nõn nà, ánh mắt trong veo như mặt nước mùa thu. Lại dùng thần thông quan sát, cô gái này hóa ra là Hằng Nga chuyển sinh đời sau! Tôi liền nói: “Cô nương có duyên tu Đạo, nhưng căn cơ còn thấp, cần chịu nhiều khổ nạn mới có thể thành Đạo. Hằng Nga nói: “Con xin xả thân cầu Đạo!”

Tôi đưa “Hằng Nga” về sơn động rồi nói: “Người tu hành tất phải xả bỏ những ràng buộc tình ái nơi hồng trần, không lưu lại một chút nào. Xả bỏ hết tâm người thường, khổ tu tinh tấn, vô tâm vô vật, trống không nhập định, phản bổn quy chân, chứng ngộ chân Đạo”. Hằng Nga đáp: “Xin tuân theo lời Thần tiên dạy bảo…” Từ tôi đó hàng ngày giảng Đạo, đến tối khi Hằng Nga đả tọa, tôi tìm một động phủ trên đỉnh núi gần đó đả tọa tu định. Hoa nở hoa tàn, xuân qua hạ đến, vào mùa thu Hằng Nga đi hái quả dại, tìm thấy một con hồ ly nhỏ bị thương, thỉnh cầu tôi chữa trị, con hồ ly khỏi bệnh nhưng không rời đi mà ở lại với Hằng Nga, vì để tâm đến con hồ ly mà Hằng Nga dần dần có chút buông lơi tinh tấn.

Một hôm, tôi thấy Thanh Mộc đến trước động hành lễ nói: “Gia sư Trúc Đỉnh luyện đan thành công, sai Thanh Mộc mang tặng chân nhân một viên tiên đan để cảm ơn ân cứu mạng của ngài hôm đó, viên đan này được Tây Vương Mẫu trên núi Côn Luân ban thưởng ở tiên hội Giao Trì”. Tôi nhìn thấy viên đan này là tiên đan thiên Đạo, người tu đại Đạo như tôi không thể dùng được, liền đem cất viên đan đi.

Đến mùa đông, Hằng Nga đóng cửa động bế quan, ngồi đả tọa tu định trong động, tiểu hồ ly cũng vào trong động, để phòng tiểu hồ ly chết đói, Hằng Nga lén trộm một viên đan nhân sâm vạn năm cho tiểu hồ ly ăn. Sau khi ăn viên đan đó, linh tính của tiểu hồ ly tăng mạnh, cũng có thể tịch cốc điều khí như Hằng Nga. Mùa xuân năm sau, tôi nhìn tiểu hồ ly nói: “Con hồ ly này đã ăn đan dược và điều khí, nó không còn là con vật bình thường nữa, thêm một thời gian nữa nó sẽ trở thành yêu ma làm loạn thế gian, con cũng khó thoát tội!” Hằng Nga vô cùng lo sợ, cầu xin không giết tiểu hồ ly. Tôi thấy tâm người thường của Hằng Nga còn nặng, liền nói: “Phàm phu cõi tục, thất tình đủ cả, mê mất bản tính chân ngã, trầm luân trong biển nghiệp. Người tu Đạo cần thanh tu ngộ chân, xả bỏ chấp trước hồng trần, con còn nặng tình như thế, không phải là hành vi của người tu luyện, làm trái với Đạo, e rằng khó thành chính quả, con xuống núi đi”. Hằng Nga van xin ba ngày không còn cách nào đành rời đi. Nửa ngày sau, tiểu hồ ly đến trước động của tôi, do dự ngập ngừng, thấy tôi nhìn về hướng nó, nó quỳ chân trước xuống đất, vẫy đuôi liên hồi, kêu chít chít gấp gáp. Thấy bộ dạng tiểu hồ ly, tôi hiểu ngay sự tình, liền cưỡi gió bay lên không trung, tới sườn núi trước đây gặp Hằng Nga, nhìn thấy Hằng Nga đứng bên sườn núi.

Tôi gọi lớn tên cô gái, Hằng Nga hờ hững quay đầu, thần thái bi lụy, trên khuôn mặt nhợt nhạt hai hàng lệ lặng lẽ chảy xuống. Khuôn mặt cô giống như bông hoa mảnh mai nở ra trong gió tuyết, vẻ đẹp khiến người ta đau xót. Hằng Nga đột nhiên dứt khoát, quyết đoán lao người nhảy xuống sườn núi. Lúc sắp rơi đến đáy vực, tôi dùng pháp thuật định trụ cô ấy lại, dần dần chầm chậm hạ Hằng Nga xuống đáy vực, tôi đến bên cạnh khẽ gọi tên cô gái, Hằng Nga mở mắt nói: “Con đã chết thật rồi sao?” Tôi nói: “Nợ nghiệp chưa trả hết, không thể rời đi”. Hằng Nga nói: “Ngài đã không truyền pháp cho con, tại sao lại cứu con! Thân thể này không thể tu Đạo, lại để cho tình dục chốn nhân gia ô uế, chi bằng sớm kết thúc sự đau khổ!” Tôi nói: “Con đã chết một lần, nghiệp duyên thế gian đã giảm bớt, có thể chính thức thụ pháp tu Đạo. Vì tội nghiệp đời trước của con chưa sạch hết, không làm như thế thì không thể tiếp tục tu Đạo, bây giờ nghiệp to lớn kia đã tiêu đi, có hy vọng tu thành pháp thiên Đạo”. Hằng Nga vẫn còn hơi nghi hoặc, tôi nghiêm nghị nói: “Còn không mau đứng dậy lên núi tu Đạo …”

Từ đó Hằng Nga bắt đầu quá trình tu Đạo chân chính, cầu xin tổ sư gia trì, uống đan dược khai mạch, đả tọa tu định. Tôi hàng ngày đều tuyên giảng Đạo pháp, không còn tội nghiệp vãng sinh can nhiễu, Hằng Nga trở nên tinh tấn không ngừng, thanh tĩnh tự nhiên, dần đạt đến cảnh giới Phản Phác Quy Chân. Đồng thời tôi còn truyền cho Hằng Nga phép bùa chú, sau mấy chục ngày, Hằng Nga đã vận dụng thông thạo pháp thuật thần thông.

Một năm vào mùa hè, Hằng Nga xuất quan sau mấy năm bế quan đả tọa. Cô tình cờ gặp một phụ nữ trung niên trong sơn cốc, sắc mặt trắng xanh, giữa hai hàng lông mày ẩn chứa sát khí, mặc áo màu xanh đen, váy màu xanh, eo đeo thắt lưng, trên đầu quấn khăn màu lam, lưng đeo gùi trúc, bên trong gùi là một bé gái 7-8 tuổi, trên ấn đường của cô bé tỏa ra khí đen, mặt màu xanh đen, ánh mắt đờ đẫn, u ám. Nhìn y phục không giống như người triều Thương, mà giống như người vùng dân tộc man di ở phía tây nam. Người phụ nữ đó nói bằng một thứ tiếng hán trúc trắc: “Xin hỏi cô có phải là người tu luyện trên núi không?”, Hằng Nga đáp: “Tôi là người tu Đạo trên núi”. Người phụ nữ nói với giọng điệu vui mừng: “Con gái tôi bị bệnh nan y, thuốc bình thường nơi thế gian không thể chữa được, cần dùng tiên đan để cứu mạng. Tôi là thần nữ của “Thần Thiên Môn” ở Tây Nam, nếu được ban cho đan tôi tất sẽ có hậu tạ để bổ trợ đạo pháp tu luyện”. Hằng Nga nói: “Tiên đan quả thật là có, tuy nhiên nó được Thần tiên giữ gìn trân quý, nếu quả thật cần, vẫn phải xin tiên nhân cho phép”. Người phụ nữ nói: “Làm phiền Thần tiên cứu giúp”, nói xong hành lễ nói: “Tôi sẽ ở tạm bên con suối phía sau núi chờ tin vui của cô”.

Trở về núi, Hằng Nga kể lại chuyện này cho tôi, tôi nhập định mở pháp nhãn xem xét xong rồi nói: “Người này là hậu duệ của Xi Vưu thuộc dân tộc man di ở phía Tây Nam, tên là Vưu Lệ Hòa. Từng là “thánh nữ” của Vu Thần giáo. Giáo phái này có quy tắc là thánh nữ cả đời không được lấy chồng. Vưu Lệ Hòa phạm vào sắc giới, đi ngược lại với quy tắc của giáo phái, bị trúng lời nguyền cực mạnh, cô ta đã phản bội giáo phái ra đi, lưu lạc đến đây. Con của cô ta đã qua đời, Vưu Lệ Hòa thi triển vu pháp, nhập vong hồn của con gái vào thân thể, kéo dài sự sống cho con gái bằng tà thuật sát sinh tá mệnh, cô ta đã sát sinh rất nhiều người, thường xuyên bắt cóc trẻ nhỏ để cho vong hồn con gái ăn thịt uống máu. Cô ta đã thi triển vu pháp 38 năm, thi thể của con gái đã bị Vưu Lệ Hòa luyện hóa thành cương thi, đi lại trên mặt đất như bay, sức mạnh to lớn, thích ăn động vật sống, tà pháp hại mệnh, ắt sẽ bị trời phạt. Hằng Nga kinh sợ nói: “Sao con có thể chống lại được?” Tôi nói: “Tà không thể thắng chính, có chính khí ở bên trong, tà không thể làm gì được. Con có Đạo pháp trên người, lại có tổ sư hộ pháp bên cạnh, không có gì lo sợ”.

Thấy Hằng Nga vẫn không chú ý, tôi lại nói: “Người phụ nữ này hành sự độc ác, giảo hoạt, ma lực vu pháp tà ác, con phải cẩn thận! Vưu Lệ Hòa tu tập vu pháp hơn 200 năm, tinh thông các loại tà pháp, lấy mạng người trong phút chốc. Trúng độc của cô ta sẽ sống không bằng chết, đau đớn vô cùng. Có câu rằng mười năm nuôi cổ, trăm năm nuôi hoặc. Cổ chính là chọn các loại côn trùng độc bỏ vào một cái chum để chúng ăn thịt lẫn nhau, cuối cùng chỉ còn lại một con, con đó chính là cổ. Dùng các loại dược liệu nhỏ thêm máu ở ngón giữa của chủ nhân để nuôi dưỡng cổ, rồi lại thi triển vu thuật, sau một thời gian cổ sẽ tương thông tâm ý với chủ nhân, có thể sai khiến như ý. Gồm các loại như độc nga cổ, ngô công cổ (con rết độc) cổ, cáp mô cổ (con cóc độc), âm xà cổ (con rắn độc) v.v.  Còn hoặc là lựa chọn những loài động vật bốn chân vừa mới ra đời như chó, mèo, thằn lằn v.v. để chúng ăn thịt lẫn nhau, đến khi chỉ còn lại một con, mỗi ngày dùng máu tươi của chủ nhân trộn với các loại dược liệu để cho ăn. Đến khi trưởng thành, dùng các loại biện pháp tàn nhẫn để hành hạ nó trong chín ngày, sau đó cho nó dần dần chết đói, dùng tà pháp luyện hóa khống chế hồn phách của nó, sau 100 năm mới hoàn thành. Loại âm linh này cực kỳ hung ác, tàn bạo, sức phá hoại kinh người. Vưu Lệ Hòa đã luyện được linh miêu hoặc, con hoặc trăm năm này mà xuất hiện ở thế gian, nhân gian ắt sẽ có nạn diệt vong. Cô ta còn tinh thông luyện chế thuốc độc và thuốc mê, người thế gian chỉ cần hơi không cẩn thận một chút là có thể gặp nguy hiểm ngay. Vài ngày nữa ta sẽ quay trở về phục mệnh sư phụ, con cần cẩn thận hơn, tịch cốc phục khí ở trong động, đả tọa tu định chờ ta quay về. Nếu gặp nguy hiểm, có thể niệm tên ta, dù ở đâu ta sẽ tức khắc biết được”.

Lúc rời đi, tôi dùng pháp thuật lấy đá phong kín cửa động lại. Hằng Nga đả tọa trong động hơn 100 ngày, dùng công năng cảm nhận trên trời, dưới đất đều không thấy hơi thở của Vưu Lệ Hòa (cô ta ẩn sâu ở trong động dưới đất). Hằng Nga bèn đi ra khỏi động phủ, buông lơi cảnh giác, đi đến bên khe suối, dùng tay vốc một vốc nước, uống vào trong miệng, lập tức cảm thấy có gì khác lạ, đầu choáng váng, Hằng Nga nghĩ trong tâm: Không hay rồi! Lập tức quay về trong động, uống viên đan nhân sâm còn trong động, lúc này đã nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài động, đến rất nhanh. Hằng Nga liền nuốt viên tiên đan được Tây Vương Mẫu ban cho, cương thi con gái của Vưu Lệ Hòa lập tức nhảy đến, Hằng Nga tránh qua, linh miêu hoặc lập tức đi vào động, phi thân cắn vào cổ của Hằng Nga, Hằng Nga vận dụng pháp lực đấu với hai con tà ma. Lúc đó Vưu Lệ Hòa cũng đã vào trong động, vung tay ném nắm bột phấn độc màu vàng đen về phía Hằng Nga, Hằng Nga tránh không kịp, người bị trúng độc, một lúc sau thì thấy trước mắt toàn là màu đen, bèn nhanh chóng niệm tên tôi. Tôi đang tu định ở trong núi Không Động, cảm nhận được Hằng Nga gặp nguy hiểm, liền nâng kiếm vận pháp lực, xuyên vượt thời không, nháy mắt đến cửa động, thấy tình hình nguy cấp liền hét lớn: “Yêu nhân đáng chết!” Vưu Lệ Hòa và cương thi cả kinh, quay đầu nhìn về phía tôi, linh miêu hoặc nhanh chóng nhảy lên không trung, chĩa móng vuốt bổ về phía tôi, tôi giơ kiếm chĩa đến trước người linh yêu, vung kiếm mạnh mẽ chém từ dưới lên trên, tiếp đó một tiếng mèo kêu lên chói tai, linh miêu hoặc đã bị chém thành hai khúc. Tôi vung tay đánh ra một chưởng Cách Không đả xuất thần thông (quả cầu năng lượng hình tròn) vào huyệt bách hội của cương thi, một luồng khí đen từ trong người cương thi xuất ra, cương thi lập tức ngã xuống đất. Vưu Lệ Hòa thấy thế, dường như mất lý trí, điên cuồng chạy về phía tôi, tay trái ném ra một nắm bột phấn độc màu đen, tay phải giơ móng vuốt hướng về phía tim tôi. Tôi tra Độn Thiên Kiếm vào vỏ ở sau lưng, nghiêng người tránh bột phấn độc, tay trái đỡ, tay phải tung chưởng đánh trúng vào huyệt Thiên Trung trên ngực cô ta, Vưu Lệ Hòa lập tức lùi lại mấy bước, tôi bước lên tung một chưởng trúng vào huyệt bách hội, phá trừ hết ma lực tà pháp của cô ta. Vưu Lệ Hòa ngã xuống miệng thổ máu tươi, thấy thế tôi không rút kiếm nói: “Dựa vào tà thuật giết người hại mệnh. Con gái ngươi đã chết nhiều năm, sinh cơ đã hết, dùng tà pháp kéo dài sinh mệnh, làm việc nghịch thiên, làm trái thiên đạo. Hôm nay vì nổi lòng tham, dùng tà thuật mưu hại người tu Đạo, việc ác đầy rẫy, thiên lý bất dung, ta hôm nay thay trời hành đạo, trừ ma diệt yêu, yêu nhân tự lo lấy đi”. Vưu Lệ Hòa thở dài trong phút chốc, thấy tôi đứng yên bất động, liền cựa mình đứng dậy, ôm lấy thi thể con gái, cúi đầu chầm chậm bước đi khó khăn, vừa đi vừa khóc nấc, bóng dáng tiều tụy, cô độc đi xuống núi.

Tôi quay lại trừ độc trị thương cho Hằng Nga, biết Hằng Nga đã ăn nhầm tiên đan tôi nói: “Con đã ăn tiên đan Tây Vương Mẫu ban, bảy ngày sau sẽ bạch nhật phi thăng, Đạo duyên đời này đã hết”. Hằng Nga nghe xong tròn mắt, ngây người, vô cùng hối hận nói: “Vậy con nên làm thế nào thì tốt?” Tôi nói: “Trong mệnh của con phải có kiếp nạn này, vì nuốt đan nhân sâm vạn năm, 700 năm sau con lại tiếp tục Đạo duyên với ta. Hằng Nga thổn thức cảm thán, đêm đến dần dần ngủ thiếp đi, tôi ngồi đả tọa ở cửa động, ánh trăng trong vắt như nước, sương mù bốc lên, tiếng chim nhạn mùa đông bi ai, tiếng gió gào rít. Đến sáng sớm, trong định tôi nhìn thấy Vưu Lệ Hòa ngồi trong động đất ở ngọn núi phía xa, cô ta bỏ khăn quấn đầu ra, rút từ ngực áo ra một chiếc lược, chầm chậm chải mái tóc hoa râm. Chỉ qua một đêm, dung mạo Vưu Lệ Hòa trở nên vô cùng già nua, ánh mắt vẩn đục tối tăm, miệng như đang lẩm bẩm, nghe kỹ thì là một bài dân ca. Nghe lời bài dân ca, tôi phảng phất thấy một thiếu nữ mặc trang phục dân tộc vùng tây nam, ngồi bên dòng suối trong rừng trúc, cất tiếng hát cùng tiếng chim vàng anh lanh lảnh, ước mơ về tương lai. Lời bài hát nói rằng: Gió mùa thu thổi, cánh hoa rơi chầm chậm, rơi xuống dòng suối; mưa thu bay bay, làm ướt trái tim tôi, tràn ngập lòng tôi. Hoa rơi là nỗi lòng của gió thu, mưa thu là tâm tình của tôi, người tôi thương nhớ ơi, chàng giờ này ở đâu? Người tôi thương nhớ ơi, chàng giờ này ở đâu…

Tiếng hát dần dần nhỏ lại, tay cô ta từ từ buông xuống, chiếc lược gỗ rơi xuống đất, nụ cười phảng phất vĩnh viễn đọng lại trên khuôn mặt già nua. Một lúc sau, một thiếu nữ 16, 17 tuổi bước ra từ thi thể, ngơ ngác nhìn về phía trước, lúc này trước mắt cô ta xuất hiện một không gian đen tối, vô số âm linh u ám trôi nổi đang nhìn cô ta, thiếu nữ chầm chậm bước vào không gian “Dị độ”, càng lúc càng xa, rồi biến mất trong bóng tối.

Tôi bất giác thốt một tiếng thở dài! Nhân sinh như giấc mộng, vì tình mà si mê, điên đảo mộng tưởng, mê trong hồng trần, thiên bất lão, tình khó tuyệt. Yêu và hận rối ren như tơ vò, đã dấn sâu vào trong đó, làm sao thoát khỏi tình ái này? Thật đáng thương!

Lời nói xuất phát từ tình, tình xuất phát từ trái tim, trong thời khắc cuối cùng của sinh mệnh cô ta, bài ca từ đáy lòng đó cũng là bài điếu văn cuối cùng tiễn đưa sinh mệnh của cô. Sát sinh tá mệnh, nghịch thiên hành sự, cuối cùng cũng là vi phạm thiên Đạo. Trong tâm vô Đạo, linh hồn không có nơi cư ngụ sẽ không được bình yên, sinh mệnh của cô ta sẽ chìm đắm trong bi thương vĩnh viễn. Thần chết Đạo tiêu, đây chính là lựa chọn của sinh mệnh cô ấy.

Từ hôm đó Hằng Nga không ăn uống đồ ăn của người thường. Từ lỗ chân lông trên da cô bài xuất ra rất nhiều viên tròn dẻo trong suốt hoặc hơi trong suốt, lớp da cũ dần dần bong ra. Đến đêm ngày thứ sáu, động phủ nơi Hằng Nga ở sáng như ban ngày, những tiên nữ dung mạo xinh đẹp mặc áo gấm qua lại mỉm cười, nhục thân Hằng Nga bắt đầu tỏa ra mùi hương thoang thoảng giống như mùi gỗ đàn hương, ngày hôm sau mùi hương ngày càng đậm. Đến sáng sớm ngày thứ bảy, da thịt của Hằng Nga biến thành mịn màng như ngọc trắng Dương Chi, tinh khiết như tuyết đầu đông. Hai con ngươi tỏa ánh thần quang, sáng chói như sao giữa trời đêm. Đến giữa trưa, có ba con chim phượng bay đến đỉnh núi, miệng nói tiếng người: “Chúc mừng chân nhân thành đạo! Cung thỉnh tiên nhân lên tiên giới, chung hưởng thiên phúc!” Hằng Nga đứng dậy bay lên không trung, tôi nói: “Đừng quay đầu lại, đừng khởi niệm ấy, 700 năm sau ta lại tiếp tục Đạo duyên”. Sau đó Hằng Nga và các tiên nữ cưỡi gió bay lên trên trời …

Tôi tiếp tục đi vân du ở thế gian, gặp sao yên vậy, luyện tâm trong hồng trần, đề cao trong tu hành, siêu thoái lưới trần, giữa tạo hóa thiên địa, thể ngộ bản nguyên đại Đạo. Trải qua các loại khảo nghiệm nơi trần thế cuối cùng tu thành Đạo pháp, thời gian tu Đạo tổng cộng 1200 năm thành tựu Đạo pháp, thông hành giữa vũ trụ, biết hết những việc quá khứ tương lai, không gì không thể làm được, cũng không gì không thể có được.

Trong núi không có năm tháng, ngày tháng thần tiên dài đằng đẵng. Trăm năm nơi phàm trần tang thương, như bóng câu qua cửa sổ. Phong vân hội tụ, tôi vận thuật năng Đạo pháp, đoán biết Hằng Nga đã chuyển sinh ở thế gian tám năm, thấy cô chuyển sinh vào vùng đất Thương triều khi xưa, cách Triều Ca không xa. Ở thế gian, thiên tượng đã thay đổi, nhà Chu thay thế nhà Thương đã nhiều năm, chúng sinh nhân gian đã có diện mạo mới.

Tôi đến một cửa tiệm buôn bán, thấy một bé gái mặc quần xanh áo hồng đứng trước cửa, ngước đôi mắt tròn to nhìn tôi không chớp mắt, tôi mở pháp nhãn nhìn bé gái, bé gái nở nụ cười vẫy vẫy bàn tay nhỏ về phía tôi, miệng cười giống như vầng trăng khuyết cong cong.

Tôi thầm nghĩ: Hằng Nga! Nàng và ta lại tiếp tục Đạo duyên…

 

Dịch từ: http://www.zhengjian.org/node/249678


Ngày đăng: 23-12-2019