Tác giả: Hoàng Phủ Dung

[ChanhKien.org]

Một cảnh trong cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Đại Thanh trải qua thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế, đến thời đạo Quang thì dần dần suy yếu. Trong nước, thiên tai binh họa liên tiếp xảy ra, khiến khắp nơi hoang mang, đời sống bách tính vô cùng khó khăn. Bên ngoài, các cường quốc liên tục chèn ép. Do ảnh hưởng của Chiến tranh Nha phiến, triều đình nhà Thanh buộc phải ký kết những điều ước nhục nước mất quyền cho quốc gia. Để chi trả các khoản bồi thường khổng lồ, triều đình nhà Thanh áp bức dân chúng, vơ vét tài sản của nhân dân. Dung Hoành, nhà ngoại giao và là người đầu tiên trong lịch sử cận đại Trung Quốc du học tại Mỹ, từng nhận xét rằng triều đình nhà Thanh “chính sự được quyết định bằng hối lộ, quan lại từ trên xuống dưới, không một ai không nhiễm độc bởi nạn hối lộ”, còn triều đình nhà Thanh thì “hoàn toàn trở thành một cơ quan lừa đảo khổng lồ rồi”.

Trong tình thế ấy, Hồng Tú Toàn phát động khởi nghĩa Kim Điền tại Quảng Tây, cất cao tiếng hiệu triệu, núi non hưởng ứng, hào kiệt bốn phương nghe tin liền nổi dậy. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm lĩnh một nửa giang sơn Trung Nguyên, tiếp thêm sức sống mới cho vùng đất Thần Châu.

1. Thầy tướng sớm biết thiên cơ

Năm Gia Khánh thứ 18 (năm 1814), Hồng Tú Toàn chào đời tại một gia đình nông dân bình thường ở thôn Phúc Nguyên Thủy, huyện Hoa, tỉnh Quảng Đông.

Cha ông là Hồng Kính Dương, một người công bằng chính trực và có tài năng, được người trong tộc tín nhiệm đề cử làm tộc trưởng, đồng thời đảm nhiệm chức Bảo chính cho các thôn làng lân cận, phụ trách xử lý những công việc chung của dòng tộc và thôn làng. Bảo chính chịu trách nhiệm về các vấn đề như trộm cướp, phòng chống hỏa hoạn, thuế khóa của quan phủ và những công việc tạp vụ của huyện nha. Từ thời Hy Ninh dưới triều Tống Thần Tông, khi Vương An Thạch tiến hành biến pháp, chế độ bảo giáp được thực thi: cứ 10 hộ lập thành 1 bảo, đặt ra bảo trưởng; cứ 50 hộ lập thành một đại bảo, đặt một đại bảo trưởng; cứ 10 đại bảo (tức 500 hộ) lập thành một đô bảo, người đứng đầu gọi là đô bảo chính.

Hồng Tú Toàn có thiên tư xuất chúng, từ nhỏ đã thông minh hơn người. Nhờ chăm chỉ đọc sách Thánh hiền, ông có kiến thức uyên bác, học vấn sâu rộng. Khi tham gia các kỳ thi đồng sinh tại huyện Hoa, Hồng Tú Toàn thời niên thiếu nhiều lần đạt thứ hạng cao. Một năm nọ, đề thi huyện ra đề “Thiên hạ, quốc gia đều có thể bình quân được”. Sau khi bảng kết quả được công bố, Hồng Tú Toàn một lần nữa đứng đầu. Khi ấy, viên quan huyện phê vào bài văn của ông rằng: “Xem lời văn có thể biết được chí hướng hành động, người này mang hoài bão xoay chuyển càn khôn”.

Khi Hồng Tú Toàn sắp bước sang tuổi 30, một hôm, ông cùng hai người bạn là Tống Đình Trinh và Hoàng Tú Sơn đến miếu Thành Hoàng trong thành Quảng Châu. Thầy tướng số Lý Tiên Tri xem tướng cho cả 3 người. Lý Tiên Tri nói rằng Hoàng Tú Sơn sẽ cả đời làm một cống sinh; Tống Đình Trinh là người đỗ đạt qua hai kỳ thi đình, nhưng không được chết yên lành; còn Hồng Tú Toàn là người đại phú đại quý, song không có duyên với công danh khoa cử.

Những sự việc xảy ra sau này đã chứng thực lời của thầy tướng số họ Lý. Đến năm Hàm Phong thứ 3 (năm 1853), Tống Đình Trinh thi đỗ tiến sĩ, trở về huyện Hoa để đảm nhận trọng trách tiễu trừ thổ phỉ. Đáng tiếc, ông đã chết bất đắc kỳ tử tại thôn Đê Điền, huyện Thanh Viễn.

2. Bài thơ Định Càn Khôn

Năm Đạo Quang thứ 10 (năm 1830), Hồng Tú Toàn được mời làm thầy dạy học tại một trường tư thục ở nông thôn. Trong quá trình giảng dạy, ông khuyên bảo dân làng giữ gìn lễ nghĩa, tuân thủ đạo đức, đặc biệt nghiêm khắc trong việc giữ gìn lễ giáo nam nữ, thận trọng hành xử. Hồng Tú Toàn không thích gần gũi nữ sắc. Có những phụ nữ ở thôn bên nghe danh tiếng của ông, muốn gặp mặt một lần, nhưng ông cũng nhất quyết không tiếp.

Trong sinh hoạt thường ngày, ông luôn hành xử ngay thẳng, nghiêm túc, ngay cả tư thế ngồi cũng toát lên vẻ uy nghiêm. Ông vốn luôn ngồi ngay ngắn, chỉnh tề, không bao giờ vắt chân, không cúi người cũng chẳng ngả nghiêng, ánh mắt cũng không liếc ngang liếc dọc. Dù ngồi hàng mấy giờ liền, ông vẫn không cảm thấy mệt mỏi. Khi đi, ông bước đi đường hoàng, nghiêm trang, mắt nhìn thẳng về phía trước, không ngoái đầu nhìn lại. Dân làng đều kính trọng và gọi ông là tiên sinh.

Thời niên thiếu, mỗi lần tham gia kỳ thi đồng sinh tại huyện Hoa, Hồng Tú Toàn đều đạt thứ hạng cao. Tuy nhiên, mỗi khi lên Quảng Châu dự thi, ông lại không đỗ. Người ta cho rằng nguyên nhân là do trường thi thời bấy giờ đầy rẫy những điều đen tối. Sau đó, khi trở về dạy học ở nông thôn, Hồng Tú Toàn không còn mặn mà với công danh khoa bảng. Có người từng mời ông cùng đi dự thi. Hồng Tú Toàn cầm bút viết bài “Định Càn Khôn Thi”:

“Long tiềm hải giác khủng kinh thiên, tạm thả thâu nhàn dược tại uyên.

Đẳng đãi phong vân tề tụ hội, phi đằng lục hợp định kiền khôn”

Tạm dịch là:

Rồng ẩn nơi góc biển, e kinh động trời cao,

Tạm thời nhàn nhã, ẩn mình nơi vực sâu;

Đợi ngày phong vân hội tụ đủ đầy,

Bay vút khắp sáu cõi, định đoạt càn khôn.

– Bài thơ Định Càn Khôn

Bài thơ này mang khí thế hào hùng, ngập tràn khí phách của bậc đế vương. Khi ấy, người ta không tin rằng một huyện Hoa nhỏ bé lại có thể sản sinh ra một nhân vật đội trời đạp đất, vì vậy họ không tiếc lời dị nghị, cho rằng những gì Hồng Tú Toàn nói ra chẳng khác nào lời lẽ của kẻ điên!

Lý Tiên Tri có những khả năng phi thường, sớm biết trước thiên cơ, lại có ý muốn trợ giúp Hồng Tú Toàn nên đã truyền dạy thuật bói toán cho ông. Mỗi khi dân làng gặp chuyện khó giải quyết hoặc cần tìm đồ thất lạc, họ đều nhờ Hồng Tú Toàn giúp đỡ. Mỗi lần xem bói, kết quả đều chính xác, linh nghiệm như thần.

Tranh vẽ người Trung Quốc hút thuốc phiện vào thế kỷ XVIII. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Do Quảng Châu là thành phố cảng, các tàu buôn của những cường quốc phương Tây tập trung đông đúc tại đây và buôn bán thuốc phiện trong thời gian dài. Triều đình nhà Thanh đối ngoại thì khúm núm, đối nội thì áp bức bách tính. Các nước liên tục đưa thuốc phiện vào Trung Quốc, khiến tài chính triều đình nhà Thanh ngày càng khó khăn, quân đội cũng ngày một suy đồi. Độc hại của thuốc phiện hoành hành khắp Trung Hoa. Để cứu vớt muôn dân Hoa Hạ, Hồng Tú Toàn sáng lập Bái Thượng Đế giáo, dẫn dắt thế nhân trở về với bản tính thuần phác, chân thật.

Năm Đạo Quang thứ 16 (năm 1835), Hồng Tú Toàn cùng Phùng Vân Sơn, Lý Tiên Tri và Hầu Kim đến Quế Bình, Quảng Tây. Sau đó, lần lượt có Dương Tú Thanh, Vi Xương Huy, Thạch Đạt Khai, Tần Nhật Cương, Tiêu Triều Quý cùng những người khác gia nhập.

Đúng lúc dịch bệnh hoành hành tại các thôn làng ở Quảng Tây, Hồng Tú Toàn bảo dân chúng lấy bùa về nhà, dán lên xà ngang phía trên cửa ra vào. Điều khá thần kỳ là những gia đình dán bùa thực sự đều tránh được dịch bệnh. Dân làng gần xa, bất kể giàu nghèo, đều tìm đến quy phục ông.

3. Phá hủy các dâm từ

Từ năm Đạo Quang thứ 24 (năm 1844), Hồng Tú Toàn cùng Phùng Vân Sơn truyền bá chân lý tại huyện Quý, Quảng Tây và vùng núi Tử Kinh, đồng thời phá hủy nhiều dâm từ.

Trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, để giáo hóa phong tục dân gian, quan phủ đề xướng các tư tưởng như trung hiếu, nhân nghĩa, hữu đễ và trinh tiết, xây dựng từ đường để thờ phụng các bậc tiên hiền qua các triều đại hoặc những người có đức hạnh xuất chúng. Trong dân gian qua các đời cũng có người tự lập từ miếu. Lễ Ký – Khúc Lễ Hạ ghi chép: “Không phải nơi mình nên tế lễ mà vẫn tế lễ thì gọi là dâm từ. Dâm từ không mang lại phúc lành”. Nếu thờ cúng những nơi không đáng được phụng thờ thì dù có lễ bái cũng không được ban phúc.

Các dâm từ tràn lan đã cản trở con người giữ vững chính tín. Vì vậy, dưới ảnh hưởng của Hồng Tú Toàn, dân làng đã phá hủy nhiều dâm từ.

Năm 1844, Hồng Tú Toàn và Phùng Vân Sơn đến nhà người anh em họ bên ngoại là Hoàng Thịnh Quân tại thôn Tứ Cốc, huyện Quý, Quảng Tây. Khi ấy, ở huyện Quý có một ngôi miếu Lục Ô, thờ một đôi nam nữ chết sau khi hát đối đáp những bài tình ca. Dân làng nói ngôi miếu này rất linh.

Hồng Tú Toàn hỏi: “Hai người này là vợ chồng sao?”

Dân làng đáp: “Không phải. Trước kia, hai người hát đối đáp trên núi Lục Ô, rồi đem lòng yêu nhau, cuối cùng tư thông và chết. Người đời sau đồn rằng họ đã đắc đạo từ lâu, nên lập tượng thờ phụng”.

Hồng Tú Toàn nói: “Không ngờ lại có chuyện như vậy! Vì sao người đời lại ngu muội đến thế? Bọn họ tư tình, dan díu trái lễ, ắt hẳn đã bị trời trách phạt, vậy mà lại nói là đắc đạo? Ta thật muốn hỏi cho rõ, rốt cuộc họ đã đắc được thứ đạo gì vậy!”

Để ngăn chặn thói dâm loạn ở Quảng Tây, ông bèn cầm bút làm thơ rằng:

“Dữ bút đề thi xích Lục Ô, cai tru cai diệt lưỡng yêu ma. Mãn sơn nhân loại quy cầm loại, đáo xử nam ca hòa nữ ca.

Phôi đạo cánh nhiên truyện đắc đạo, quy bà vô quái tác gia bà. Nhất triêu phích lịch tao lôi đả, thiên bất dung thì khả nhược hà”.

Tạm dịch là:

Cầm bút đề thơ, ta quở trách miếu Lục Ô,

Hai yêu ma đáng chết, đáng diệt trừ.

Khắp núi non, con người hóa thành loài cầm thú,

Khắp mọi nơi, nam hát họa, nữ hát theo.

Hành vi bại hoại đạo đức lại truyền là đắc đạo,

Tú bà làm mẹ nuôi, há chẳng lạ sao!

Một ngày kia sấm vang, sét giáng xuống,

Khi trời không dung thứ, chúng còn biết làm sao!

Nhiều dân làng đợi xem thần miếu Lục Ô hiển linh, nhưng cuối cùng, trong miếu xuất hiện rất nhiều mối trắng, đục phá khiến các tượng thờ bên trong đều hư hỏng. Dân làng tin rằng những lời Hồng Tú Toàn nói đều là sự thật, nên tranh nhau tiếp nhận chân lý mà ông truyền giảng.

Ngày 15/7 năm Đạo Quang thứ 27 (năm 1847), Hồng Tú Toàn cùng Hoàng Duy Chính đi từ thôn Tứ Cốc đến Lặc Mã, sau đó từ Lặc Mã đến Đông Hương, huyện Vũ Tuyên. Ngày 17, trên đường đi qua Đông Hương, họ ghé qua “miếu Cửu Tiên”. Hồng Tú Toàn bước vào trong miếu, đổi tên miếu Cửu Tiên thành “miếu Cửu Yêu”, rồi đề một bài thơ lên tường, rằng:

“Trẫm tại cao thiên tác Thiên Vương, nhĩ đẳng tại đích vi yêu quái, mê hoặc thượng đế tử nữ tâm, điến nhiên cảm thụ nhân sùng bái.

Thượng Đế soa trẫm hàng phàm vấn, yêu ma quỷ kế kim hà tại? Trẫm thống thiên quân bất dung tình, nhĩ đẳng yêu ma tu tẩu khoái!”

Tạm dịch là:

Trẫm ở trời cao làm Thiên Vương,

Các ngươi dưới đất hóa thành yêu quái.

Mê hoặc lòng con dân Thượng Đế,

Mặt dày dám nhận người đời sùng bái.

Thượng Đế sai Trẫm giáng phàm tra hỏi,

Mưu kế quỷ quyệt của yêu ma nay còn đâu?

Trẫm thống lĩnh thiên quân, quyết không dung thứ,

Lũ yêu ma các ngươi mau mau cút đi!

Bởi Hồng Tú Toàn truyền giảng chân đạo, đi đến đâu cũng dùng chân lý để giáo hóa thế nhân, nên lòng người nhanh chóng thức tỉnh, đạo đức xã hội cũng mau chóng được đề cao. Vì vậy, số người tin theo và đi theo ông ngày càng đông đảo.

4. Khởi nghĩa Kim Điền

Mùa xuân năm Đạo Quang thứ 29 (năm 1849), nạn đói lớn xảy ra ở khắp các địa phương thuộc Quảng Tây. Khi ấy, một tổ chức mang tên Thiên Địa Hội nhân cơ hội này kích động những người dân đói khổ cướp của người giàu giúp người nghèo, rầm rộ tiến hành phong trào “phản Thanh phục Minh”. Thiên Địa Hội hoạt động khắp các châu, huyện, thị trấn, giết các quan lại nhà Thanh và những hào phú địa phương, khiến toàn tỉnh Quảng Tây rơi vào tình trạng hỗn loạn. Triều đình nhà Thanh ban lệnh “giết không luận tội”.

Giữa lúc triều đình nhà Thanh và Thiên Địa Hội đang giao tranh, Hồng Tú Toàn làm thơ rằng:

“Cận thế yên phân đại bất đồng, tri thiên hữu ý khải anh hùng. Thần Châu bị hãm tòng nan hãm, Thượng Đế đương sùng tất cánh sùng.

Minh chủ xao thi tằng vịnh cúc, Hán Hoàng trí tửu thượng ca phong. Cổ lai sự nghiệp do nhân tố, hắc vụ thu tàn nhất giám trung.”

Tạm dịch là:

Khói lửa thời nay đã khác xưa nhiều,

Biết trời có ý mở đường cho anh hùng xuất thế.

Thần Châu đã bị hãm, song khó lòng hãm mãi,

Thượng Đế đáng tôn, cuối cùng ắt được tôn sùng.

Minh chủ từng ngâm thơ khi thưởng cúc,

Hán hoàng đặt tiệc rượu, vẫn cất tiếng ca bài Phong.

Sự nghiệp xưa nay đều do người tạo dựng,

Sương đen tan hết, muôn vật hiện trong gương sáng.

Câu thơ nhắc đến “Minh chủ” được cho là ám chỉ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Tương truyền, Minh Thái Tổ từng sáng tác bài Thơ Cúc Hoa:

“Bách hoa phát thì ngã bất phát, ngã nhất phát thì đô hách sát.

Yếu dữ tây phong chiến nhất trường, mãn thân phi tựu hoàng kim giáp.

Tạm dịch là:

Trăm hoa nở rộ, ta chưa nở,

Đến khi ta nở, muôn hoa kinh hãi.

Ta muốn cùng gió tây quyết một trận,

Khắp thân khoác áo giáp vàng rực rỡ.

Còn “Hán hoàng” chỉ Hán Cao Tổ Lưu Bang, hoàng đế khai quốc nhà Hán. Trong một lần dự yến tiệc, ông từng tự hát bài Đại Phong Ca:

“Đại phong khởi hề vân phi dương, uy gia hải nội hề quy cố hương, an đắc mãnh sĩ hề thủ tứ phương.”

Tạm dịch là:

Gió lớn nổi lên, mây bay cuồn cuộn,

Uy danh vang khắp thiên hạ, nay trở về quê cũ,

Biết tìm đâu những bậc dũng sĩ,

Để trấn giữ bốn phương?

Hồng Tú Toàn dùng thơ để bày tỏ chí hướng. Khi Thần Châu chìm trong cảnh nguy nan, ông thuận theo ý trời mà hành động, quyết tâm xoay chuyển tình thế, cứu vãn cục diện rối ren.

Năm Đạo Quang thứ 30 (năm 1850), Hồng Tú Toàn phát động khởi nghĩa Kim Điền. Hào kiệt bốn phương nghe tin liền nổi dậy hưởng ứng. Hồ Dĩ Hoảng ở Hoa Châu, Lâm Phượng Tường ở huyện Quý, La Đại Cương ở Yết Dương, Hồng Đại Toàn ở Vệ Dương cùng nhiều người khác đều đến quy phục ông. Muôn dân tụ hội, thanh thế vô cùng lớn mạnh. Tín đồ ở các huyện liên tục động viên, không ngừng tiếp tế lương thực và quân nhu cho Thái Bình quân.

Trong trận Kim Điền, tướng nhà Thanh là Y Khắc Thản Bố tử trận. Sau đó, triều đình nhà Thanh liên tiếp thay tướng trước trận. Cuối cùng, do các quan văn và võ tướng bất hòa, quân Thanh đều bị Hồng Tú Toàn đánh bại.

Tháng 8 năm ấy, Tiêu Triều Quý cùng những người khác đánh chiếm Hạ Vĩnh An Châu. Hồng Tú Toàn lệnh cho các cánh quân đóng trong và ngoài thành Vĩnh An. Đồng thời, ông triệu tập các tướng lĩnh để cùng bàn bạc đại sự, quyết định lấy quốc hiệu là “Thái Bình”, gọi là Thái Bình Thiên Quốc. Các tướng lĩnh tôn Hồng Tú Toàn làm Thiên Vương.

Hồng Tú Toàn phong Dương Tú Thanh làm Đông Vương, Tiêu Triều Quý làm Tây Vương, Phùng Vân Sơn làm Nam Vương, Vi Xương Huy làm Bắc Vương, Thạch Đạt Khai làm Dực Vương, Hồng Đại Toàn làm Thiên Đức Vương, Tần Nhật Cương làm Thiên Quan Thừa tướng, Hồ Dĩ Hoảng làm Địa Quan Thừa tướng. Lý Khai Phương, Lâm Phượng Tường, Hoàng Văn Kim, La Đại Cương cùng những người khác lần lượt được phong làm Xuân Quan, Hạ Quan, Thu Quan và Đông Quan Thừa tướng. Năm Hàm Phong thứ nhất (năm 1851) được lấy làm năm đầu tiên của Thái Bình Thiên Quốc. Hồng Tú Toàn ban chiếu bố cáo thiên hạ, chính thức phát động chinh phạt Mãn Thanh.

Trong số các vương, Nam Vương Phùng Vân Sơn là người thân cận với Hồng Tú Toàn nhất. Gia cảnh Phùng Vân Sơn giàu có, ông vốn là một phú hào trong vùng. Tuy nhiên, ông giàu có mà vẫn giữ đức hạnh, tính tình trung trực, nhân hậu, xử sự chu đáo, cẩn trọng và mưu trí. Hơn nữa, ông văn võ song toàn, túc trí đa mưu nên được các tướng lĩnh hết sức kính phục.

Thái Bình quân đi đến đâu, bách tính tranh nhau quy phục, hưởng ứng và đi theo ngày càng đông. Thậm chí, các quan lại địa phương, từ lớn đến nhỏ, đều sợ giao chiến nên nghe tin Thái Bình quân đến là bỏ chạy. Khi ấy, Tăng Quốc Phiên chỉ huy quân Tương giao chiến với Thái Bình quân. Người dân miền Nam bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, khắp nơi chặn giết các sứ giả mang thư cầu cứu do Tăng Quốc Phiên phái đi, khiến ông bị cô lập tại Nam Xương, hoàn toàn mất liên lạc với bên ngoài. Vì vậy, Thái Bình quân mặc sức tung hoành ngang dọc, tiến quân như vào chốn không người.

Trận thủy chiến của Thái Bình ở quân vùng lân cận Nam Kinh. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Hồng Tú Toàn sinh ra tại thôn Phúc Nguyên Thủy. Sau khi Thái Bình Thiên Quốc khởi nghĩa, triều đình nhà Thanh phái người đến thôn Phúc Nguyên Thủy để chặt đứt long mạch, đào phá nền nhà họ Hồng, phóng hỏa đốt phá từ đường của dòng họ Hồng cùng nhà cửa của những người trong dòng tộc họ Hồng.

5. Định đô tại Nam Kinh

Ngày 14/2 năm Quý Hảo thứ ba (năm 1853), Thái Bình Thiên Quốc đánh chiếm Giang Ninh (nay là Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), chiếm lĩnh toàn bộ vùng Giang Nam. Sau khi chiếm được Nam Kinh, Hồng Tú Toàn chủ trương chia quân trấn giữ Giang Nam, còn đại quân chủ lực tiến về phía Hà Nam. Ông muốn chiếm Hà Nam để lập kinh đô. Vì kinh đô nhà Thanh nằm ở Bắc Kinh, muốn đánh chiếm Bắc Kinh, Thái Bình Thiên Quốc trước tiên phải chiếm Hà Nam, xây dựng một kinh đô tạm thời. Khi ấy, quân đội có thể đối đầu với Bắc Kinh từ bên kia sông Hoàng Hà. Hơn nữa, việc đại quân vượt sông cũng sẽ có một căn cứ hậu cần vững chắc, liên tục tiếp tế cho tiền tuyến, nhờ đó có thể đứng vững ở thế bất bại.

Xét về chiến lược, chủ trương này vô cùng sáng suốt và đúng đắn. Hồng Tú Toàn tinh thông lịch sử Trung Quốc, hiểu rằng Nam Kinh nằm ở vùng Đông Nam chật hẹp, không phải là nơi thích hợp để lập kinh đô nhằm mưu đồ đại nghiệp. Nếu Thái Bình Thiên Quốc định đô tại Nam Kinh, họ chỉ có thể chiếm giữ một góc Giang Nam, bảo vệ lãnh thổ phía nam sông Trường Giang và sông Hoài, lấy phòng thủ thay cho tiến công, cuối cùng sẽ đi đến thất bại và diệt vong. Ông nhìn nhận rất rõ điều này. Tuy nhiên, Dương Tú Thanh giả danh Thiên Phụ giáng trần, quở trách Hồng Tú Toàn: “Ngươi muốn dời đô đến Hà Nam thì chính là biến thành yêu quái, phải chịu phạt trượng”. Cuối cùng, Hồng Tú Toàn bị ép buộc phải khuất phục. Dương Tú Thanh tiếp thu đề nghị của lão thủy thủ Tưởng Lão Thủy, kiên quyết chọn Nam Kinh làm kinh đô. Hành động này cuối cùng đã giúp nhà Thanh may mắn thoát khỏi nguy cơ diệt vong.

Sau khi Thái Bình Thiên Quốc định đô tại Nam Kinh, đọc những bài thơ và văn chương Hồng Tú Toàn sáng tác vào thời điểm này, có thể phần nào hình dung được khí thế lớn lao của thời đại ấy. Trên phủ Thiên Vương của Thái Bình Thiên Quốc tại Nam Kinh, Hồng Tú Toàn đề thơ:

“Độc thủ kình thiên, trọng chỉnh đại minh tân khí tượng; đan tâm báo quốc, tảo trừ ngoại tộc cựu y quan”

Tạm dịch là:

Một tay chống đỡ trời cao, chấn hưng khí tượng mới của Đại Minh;

Một tấm lòng son báo quốc, quét sạch y quan cũ của ngoại tộc.

Ông còn viết:

“Thiên điều lưu hành, ân thâm vũ lộ; triêu cương lí trì, vận chuyển càn khôn”

Tạm dịch là:

Thiên điều lưu hành, ân trạch sâu dày như mưa móc;

Triều cương được chỉnh đốn, vận chuyển càn khôn.

Trên điện Kim Long của Thái Bình Thiên Quốc, Hồng Tú Toàn đề thơ:

“Hổ bí tam thiên, trực tảo U Yến chi đích; long phi cửu ngũ, trọng khai Nghiêu Thuấn chi thiên”

Tạm dịch là:

Ba nghìn hổ bôn, quét thẳng đất U Yến;

Rồng bay ngôi cửu ngũ, mở lại kỷ nguyên thời Nghiêu Thuấn.

Phủ Thiên Vương của Hồng Tú Toàn vốn là công đường của Tổng đốc Lưỡng Giang dưới triều Thanh. Năm 1853, Thái Bình Thiên Quốc chọn nơi đây làm kinh đô. Đến thời Trung Hoa Dân Quốc, Tôn Trung Sơn tự ví mình là Hồng Tú Toàn thứ hai và nhậm chức Đại Tổng thống lâm thời tại đây. Về sau, phủ Thiên Vương trở thành Phủ Tổng thống của Chính phủ Quốc dân.

Biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/19/6/26/n11348045.htm