Tác giả: Hoàng Phủ Dung
[ChanhKien.org]
Thái Bình quân trong bức “Kim Lăng các doanh lũ tiệp giải vi đồ” (Tranh vẽ các doanh trại tại Kim Lăng liên tiếp thắng trận giải tỏa vòng vây). (Ảnh do Bảo tàng Cố cung Quốc gia cung cấp)
Thái Bình Thiên Quốc như một dòng suối trong hiếm có giữa thế gian, vừa dung nạp chính giáo phương Tây, vừa kế thừa đạo chính thống truyền từ thời thượng cổ của Thần Châu. Thời gian thoi đưa đã phủ một lớp màn bí ẩn lên đoạn lịch sử hàng trăm năm trước. Nhìn lại quá khứ, Hồng Tú Toàn sáng lập Thái Bình Thiên Quốc, công khai và đề xướng trên quy mô lớn việc thế nhân kính phụng “Thượng Đế” (hay Hoàng Thượng Đế), có thể coi là người đầu tiên làm điều này trong lịch sử Trung Hoa. Đối với “Thượng Đế – vị Đại chủ tể tạo ra trời đất và vạn vật” này, Hồng Tú Toàn cho rằng: “Mọi người đều nên kính sợ, và sùng bái Ngài”.
Với tư cách là “Thái Bình Chân Chủ” của muôn nước trong thiên hạ, Hồng Tú Toàn quét sạch hủ nho, tiểu pháp tiểu đạo, trừ tà giữ chính, chắt lọc tinh hoa văn hóa; trong thời thế sóng gió cuồn cuộn do tai họa thuốc phiện gây ra, ông bảo vệ thân tâm của bách tính, giữ gìn tinh hoa của quốc gia, dẫn dắt thế nhân trở về với bản tính thuần chân.
Chân dung Hồng Tú Toàn. (Ảnh: Tư liệu công cộng từ Wikipedia)
1. Thái Bình Thiên Quốc có phản Khổng hay không?
Vào cuối thời nhà Thanh, quan phủ cố ý cho in ấn các loại sách giả, hoặc bôi nhọ, hoặc ngấm ngầm xuyên tạc những thành tựu to lớn của Thái Bình Thiên Quốc. Từ đó lưu truyền lại vô số lời đồn đại, một trong số đó là quan điểm cho rằng Thái Bình Thiên Quốc bài xích văn hóa truyền thống, chống lại tư tưởng Nho gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu sự thật lịch sử xem sao!
Hồng Tú Toàn bỏ đi bài vị Khổng Tử, đem đốt một số sách hủ Nho “chứa nhiều sai sót”, vì thế có người cho rằng Thái Bình Thiên Quốc phản Khổng, bài xích truyền thống. Tuy nhiên, trong tâm niệm của Hồng Tú Toàn, đấng chủ tể tối cao trong vũ trụ là Thượng Đế chứ không phải Khổng Tử, và đấng mà thế nhân nên sùng bái chính là Thượng Đế.
Hơn nữa, việc loại bỏ bài vị Khổng Tử không đồng nghĩa với việc Hồng Tú Toàn phủ nhận Khổng Tử. Thế nhân vốn thần thánh hóa uy quyền của Khổng Tử, nhưng Khổng Tử cũng chỉ là người phàm trong nhân gian, không phải bậc thánh giả cứu thế độ nhân, lẽ tự nhiên không thể so sánh với Thượng Đế toàn năng. Hồng Tú Toàn khuyên bảo thế nhân thờ phụng Thượng Đế, không thần thánh hóa Khổng Tử, nhưng cũng chưa từng công kích Khổng Tử.
Trong ba bài luận nổi tiếng mang tên “Nguyên Đạo”, Hồng Tú Toàn phân định hai phe “Chính” và “Tà”. Các nhân vật Nho gia như Khổng Tử đều không bị xếp vào phe “Tà”, mà ngược lại được liệt vào danh sách những tấm gương hành xử chính đạo.
Trong tác phẩm “Bách Chính Ca”, Hồng Tú Toàn lấy Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thành Thang, Văn Vương, Võ Vương và Khổng Tử làm những tấm gương hành xử chính đạo, dùng để “lấy chính đánh dẹp cái bất chính”, “lấy chính cảm hóa cái bất chính”, và “lấy chính chiến thắng cái bất chính”. Đồng thời, ông cũng răn dạy thế nhân rằng: “Thân không chính, tai họa do ác tích tụ; thân giữ được chính, phúc lành nhờ thiện duyên”.
Hồng Tú Toàn phân thành hai phe “Chính” và “Tà”, trong đó các nhân vật Nho gia như Khổng Tử được xem là những tấm gương hành xử chính đạo. Trong ảnh là bức “Hạnh Đàn Lễ Nhạc”, thuộc bộ tranh “Khổng Tử Thánh Tích Đồ” của Tiêu Bỉnh Trinh thời nhà Thanh. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
2. Lấy Thiên Đạo thức tỉnh quần hiền
Hồng Tú Toàn nói rằng: “Đạo chi đại nguyên xuất vu Thiên, cẩn tương Thiên Đạo giác quần hiền”, tạm dịch là: Nguồn gốc lớn lao của Đạo xuất phát từ Trời, kính cẩn dùng Thiên Đạo để thức tỉnh quần hiền. Ông công khai truyền bá quan niệm về Thiên Đạo để thức tỉnh chúng sinh. Thái Bình Thiên Quốc do ông sáng lập mang đậm tư tưởng cứu thế, chủ trương thực hành Thiên Đạo nhằm thức tỉnh vô số chúng sinh chốn nhân gian.
Trong bản khắc in lần đầu của cuốn “Thiên Điều Thư”, Hồng Tú Toàn đã viện dẫn nhiều kinh điển Nho gia, trong đó những câu trích từ “Kinh Thi” bao gồm:
“Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng Đế”, tạm dịch là: Nước Ân khi chưa mất lòng dân, còn có thể xứng đáng sánh ngang với Thượng Đế) (Thiên “Văn Vương”, phần “Đại Nhã – Văn Vương Chi Thập”);
“Duy thử Văn Vương,
Tiểu tâm dực dực,
Chiêu sự Thượng Đế,
Huyết hoài đa phúc”
Tạm dịch là:
Kính cẩn thay Văn Vương,
Cẩn trọng tôn kính,
Phụng sự Thượng Đế tỏ tường,
Nhờ đó nhận hưởng nhiều phúc lành
(Thiên “Đại Minh”, phần “Đại Nhã – Văn Vương Chi Thập”);
“Hoàng hĩ Thượng Đế,
Lâm hạ hữu hách”
Tạm dịch là:
Vĩ đại thay Thượng Đế,
Soi xét chốn nhân gian với uy quang hiển hách
(Thiên “Hoàng Hĩ”, phần “Đại Nhã – Văn Vương Chi Thập”);
“Thang hàng bất trì,
Thánh kính nhật tề,
Chiêu giả trì trì,
Thượng Đế thị chi,
Đế mệnh thức vu cửu vi”
Tạm dịch là:
Vua Thang giáng thế đúng lúc,
Lòng thánh kính ngày càng tăng tiến,
Lòng thành kính hướng lên Thượng Đế,
Được Thượng Đế ban mệnh cai quản khắp chín châu
(Thiên “Trường Phát”, phần “Thương Tụng”).
Những câu trích từ cuốn “Thượng Thư” bao gồm:
“Dư úy Thượng Đế,
Bất cảm bất chính”
Tạm dịch là:
Ta kính sợ Thượng Đế,
Không dám không ngay thẳng
(Thiên “Thang Thệ”);
“Thượng Đế phất thuận,
Chúc giáng thời tang”
Tạm dịch là:
Thượng Đế không thuận,
Giáng xuống tai họa diệt vong
(Thiên “Thái Thệ”, phần Hạ);
“Cảm chi thừa Thượng Đế,
Dĩ ức loạn lược”
Tạm dịch là:
Dám kính cẩn phụng thừa Thượng Đế,
Để ngăn chặn loạn lạc
(Thiên “Vũ Thành”);
“Duy Thượng Đế bất thường,
Tác thiện,
Giáng chi bách tường;
Tác bất thiện,
Giáng chi bách ương”
Tạm dịch là:
Thượng Đế vốn không có định mệnh bất biến:
Làm điều thiện thì giáng xuống trăm điều lành;
Làm điều bất thiện thì giáng xuống trăm tai họa)
(Thiên “Y Huấn”).
Câu trích từ “Kinh Dịch”:
“Tiên vương dĩ tác nhạc sủng đức,
Ân tiến chi Thượng Đế”
Tạm dịch là:
Các bậc tiên vương dùng âm nhạc để tôn vinh đức hạnh,
Thành kính dâng tiến lên Thượng Đế
(Quẻ Dự, “Chu Dịch”)
Câu trích từ cuốn “Mạnh Tử”:
“Thư viết thiên giáng hạ dân,
Tác chi quân,
Tác chi sư,
Duy viết:
Kỳ trợ Thượng Đế,
Sủng chi tứ phương”
Tạm dịch là:
Sách Thượng thư chép rằng Trời sinh ra muôn dân,
Đặt ra vua để cai trị,
Đặt ra thầy để dạy dỗ,
Đều là nhằm giúp đỡ Thượng Đế,
Ban phúc cho bốn phương
(Thiên “Lương Huệ Vương”, phần Hạ).
Hồng Tú Toàn chủ trương thế nhân quay lại con đường “thờ phụng Hoàng Thượng Đế”, với mục đích đưa phong tục thế gian đang đi chệch hướng trở về với chính đạo truyền thống. “Thượng Đế” (hay Hoàng Thượng Đế) mà ông nhắc đến không phải là khái niệm tôn giáo của phương Tây, mà chính là vị Hoàng thiên được các bậc quân vương và thần dân Thần Châu qua các triều đại kính phụng kể từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, cũng chính là Đấng Sáng Tạo tạo ra vạn sự vạn vật, vạn quốc vạn vương. Đối với vị “Thượng Đế – đấng Đại Chủ Tể tạo ra trời đất vạn vật ấy, mọi người đều nên kính sợ, sùng bái Ngài” (Thái Bình Thiên Nhật). Nếu “con người từ bỏ Ngài để thờ phụng thứ khác, thì bái hết vạn thứ cũng chỉ là công không”.
3. Ba tác phẩm “Nguyên Đạo” thể hiện rõ trí tuệ của Chân Chủ
Ba tác phẩm kinh điển thuộc chuỗi bài “Nguyên Đạo” do Hồng Tú Toàn sáng tác bao gồm: “Nguyên Đạo Cứu Thế Ca”, “Nguyên Đạo Tỉnh Thế Huấn” và “Nguyên Đạo Giác Thế Huấn”.
Trong tác phẩm “Nguyên Đạo Cứu Thế Ca”, ông viết:
“Khai bích chân thần duy Thượng Đế, vô phân quý tiện bái nghi kiền”
Tạm dịch là:
Đấng Chân Thần khai thiên lập địa duy nhất là Thượng Đế, bất kể sang hèn đều nên thành kính thờ phụng;
“Thiên phụ Thượng Đế nhân nhân cộng, thiên hạ nhất gia tự cổ truyền”
Tạm dịch là:
Thiên phụ Thượng Đế là cha chung của mọi người, thiên hạ là một nhà vốn lưu truyền từ cổ xưa;
“Bàn Cổ dĩ hạ chí tam đại, quân dân nhất thể kính Hoàng thiên”
Tạm dịch là:
Từ thời Bàn Cổ cho đến các triều đại Hạ, Thương, Chu, vua và dân đều một lòng kính phụng Hoàng Thiên;
“Thiên nhân nhất khí lý vô nhị, hà đắc quân vương tư tự chuyên”
Tạm dịch là:
Đạo lý giữa Trời và người vốn cùng một nguồn khí, chẳng có gì khác biệt, sao vua chúa có thể tự ý độc chiếm.
Ông cũng viết những câu như: “Quỷ tâm ký cách, ‘Hiếu Kinh’ đương minh”
Tạm dịch là:
Một khi lòng quỷ đã đổi, thì phải hiểu rõ ‘Hiếu Kinh,
“Lục Nga” thi khả độc, bào dữ lượng nghi khôi”
Tạm dịch là:
Bài thơ “Lục Nga” nên đọc, lượng bao dung nên mở rộng.
“Lục Nga” là chương bài trong “Kinh Thi – Tiểu mân chi thập”, tôn chỉ của thiên này cũng giống như “Hiếu Kinh”, dạy con người phải hiếu thuận với cha mẹ, không quên công ơn sinh thành dưỡng dục. “Bào dữ” là từ viết tắt bắt nguồn từ câu “Dân ngô đồng bào, vật ngô dữ dã” trong tác phẩm “Tây Minh” của nhà Lý học Bắc Tống Trương Tái. Tư tưởng “bào dữ” có tầm nhìn vô cùng rộng lớn, coi toàn thể vũ trụ như một đại gia đình, khuyên con người suy từ mình ra người khác, lấy lòng nhân ái đối đãi với con người và vạn vật.
Trong tác phẩm “Nguyên Đạo Tỉnh Thế Huấn”, Hồng Tú Toàn chỉ rõ:
“Hoàng Thượng Đế thiên hạ phàm gian đại cộng chi phụ dã”
Tạm dịch là:
Hoàng Thượng Đế là người cha chung vĩ đại của toàn thiên hạ chốn phàm gian.
“Thiên hạ đa nam nhân, tận thị huynh đệ chi bối; thiên hạ đa nữ tử, tận thị tỉ muội chi quần; hà đắc tồn thử khương bỉ giới chi tư, hà khả khởi nhĩ thôn ngã tinh chi niệm”
Tạm dịch là:
Nam nhân trong thiên hạ đều là hàng huynh đệ, nữ nhân trong thiên hạ đều là nhóm chị em, sao lại giữ lòng vị kỷ phân chia ranh giới địa phận, sao lại dấy lên ý nghĩ xâu xé thôn tính lẫn nhau.
Ông trích dẫn lời trong thiên “Lễ Vận”, thuộc sách “Lễ Ký”:
“Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trường, quan quả cô độc phế tật giả giai hữu sở dưỡng. Nam hữu phân, nữ hữu quy… Cố ngoại hộ nhi bất bế, thị vị đại đồng”.
Tạm dịch là:
Khi đại đạo được thực hành thì thiên hạ là của chung, chọn người hiền tài, coi trọng tín nghĩa, hòa mục với nhau; cho nên người ta không chỉ kính yêu cha mẹ mình, không chỉ yêu con cái mình, mà còn giúp người già có chỗ an hưởng tuổi già, người tráng niên có nơi cống hiến, trẻ nhỏ có nơi trưởng thành, kẻ góa vợ, góa chồng, mồ côi, không con và người tàn tật đều được nuôi dưỡng. Nam giới có trách nhiệm, nữ giới có nơi nương tựa… Cho nên cửa nhà dù không đóng cũng không ai trộm cắp, đó gọi là đại đồng.
Qua đó, ông khích lệ thế nhân bước ra khỏi quan niệm đúng sai và tâm phân biệt hẹp hòi, coi mọi người trong thiên hạ đều là anh chị em, là người thân của mình, từ đó “noi theo chân Đạo của Thượng Đế”, xây dựng một “thế gian công bằng chính trực”.
Còn trong tác phẩm “Nguyên Đạo Giác Thế Huấn”, Hồng Tú Toàn viện dẫn câu “Thiên mệnh chi vị tính” của Khổng Cấp (Tử Tư) trong sách “Trung Dung”, cùng các câu như “Thiên sinh chưng dân” trong “Thi Kinh” và “Thiên giáng hạ dân” trong “Thượng Thư”, làm rạng rỡ tấm lòng “Đó là lý do bậc thánh nhân coi thiên hạ là một nhà, thường đau đáu nỗi niềm dân là đồng bào của ta, mà không nỡ một ngày quên đi thiên hạ”.
Trong ba tác phẩm nổi tiếng mang tên “Nguyên Đạo” này, Hồng Tú Toàn đã trích dẫn rất nhiều kinh điển và tư tưởng Nho gia, từ thời Bàn Cổ khai thiên lập địa, đạo trị quốc của các bậc thánh vương thời thượng cổ, cho đến đạo làm người, đạo hiếu, đức hiếu thảo, đạo làm vợ và đạo tề gia. Trí tuệ uyên thâm, tấm lòng rộng lớn và khí thế một lòng cứu độ chúng sinh của “Thái Bình Chân Chủ” có thể nói là bao trùm trời đất, núi sông.
4. Chế độ ruộng đất của Thiên triều
Với tư cách là “Thái Bình Chân Chủ”, mang trong mình hoài bão cứu thế lớn lao cùng trí tuệ phi thường, Hồng Tú Toàn đã đặt tên cho quốc gia do mình sáng lập là “Thái Bình Thiên Quốc”. Mang theo tấm lòng hướng tới đại đồng thiên hạ, ông mong muốn “khiến cho thiên hạ cùng hưởng đại phúc của Thiên phụ Thượng chủ Hoàng Thượng Đế”. Dưới sự trị vì của ông, triều đình chủ trương “có ruộng cùng cày, có cơm cùng ăn, có áo cùng mặc, có tiền cùng tiêu, đâu đâu cũng đều công bằng đồng đều, không ai là không được ấm no”. Câu nói này trích từ tác phẩm nổi tiếng “Thiên Triều Điền Mẫu Chế Độ”.
Tháng 2/1853, Hồng Tú Toàn định đô tại Thiên Kinh. Tháng 11 cùng năm, ông ban hành “Thiên Triều Điền Mẫu Chế Độ”. Nếu xem xét kỹ nội dung, sự ra đời của chế độ ruộng đất này cũng hàm chứa tư tưởng Nho gia.
Trong các nghiên cứu trước đây về “Thiên Triều Điền Mẫu Chế Độ”, các học giả đã bàn luận nhiều về tính chất của việc ban hành cũng như việc chế độ này có được thực thi hay không, nhưng hiếm khi khảo cứu nguồn gốc tư tưởng hình thành nên chế độ này.
Trong tác phẩm kinh điển “Chu Lễ”, quyển 11, thiên “Tiểu Tư Đồ”, có ghi chép: “Bèn tập hợp vạn dân thành các đội ngũ để sử dụng. Năm người thành một ngũ, năm ngũ thành một lưỡng, bốn lưỡng thành một tốt, năm tốt thành một lữ. Năm lữ thành một sư, năm sư thành một quân. Dùng để tổ chức quân đội, bố trí lao dịch nông nghiệp, kiểm tra truy bắt người phạm pháp và quy định việc cống nạp, thu thuế”. Trịnh Huyền thời nhà Hán đã chú giải đoạn này, giải thích rõ: “Đây đều là những quy định quân lệnh mà các bậc tiên vương đặt ra dựa trên công việc của nhà nông”. Có nghĩa là các bậc tiên vương thời thượng cổ khi trị quốc đã kết hợp nông nghiệp, quân sự, trị an và việc cống nạp, thu thuế. Tiểu Tư Đồ là một chức quan có nhiệm vụ hỗ trợ Đại Tư Đồ kiểm tra nhân khẩu và cấp đất cho bách tính.
Thái Bình Thiên Quốc đã kết hợp quân sự với dân sự, đồng thời xây dựng chế độ tuyển chọn, thăng giáng quan chức và phương pháp phân chia ruộng đất đồng đều theo 9 hạng, lấy “Chu Lễ” làm khuôn mẫu. Chế độ miễn lao dịch cho những người góa vợ, góa chồng, trẻ mồ côi, người già neo đơn và người tàn tật, bệnh tật, cùng chế độ công dưỡng do Thái Bình Thiên Quốc thiết lập, đều bắt nguồn từ chế độ bảo tức trong “Chu Lễ”, với các chính sách cứu trợ người gặp khó khăn và khoan dung miễn giảm cho người bệnh tật. Những điều này người đương thời cũng biết đến.
Khi quân Thái Bình tiến xuống Giang Nam, đến Cửu Giang, Giang Tây, họ dán cáo thị, dùng khẩu hiệu “giảm nhẹ thuế khóa, san bằng giàu nghèo” để khích lệ dân chúng, nhờ đó nhận được sự ủng hộ của người dân các nơi. Dân chúng sống dọc sông Trường Giang nhiệt tình mang lương thực đến khao thưởng quân đội.
5. Sửa đổi kinh sách, chiêu nạp nhân tài
Dưới thời nhà Thanh, quan lại phần lớn có được chức vụ thông qua việc quyên tiền mua quan, khó tránh khỏi tình trạng vàng thau lẫn lộn, đồng thời khiến những người có tài năng, hiểu biết nhưng xuất thân nghèo khó không có đường tiến thân. Thái Bình Thiên Quốc chiêu nạp hiền tài không câu nệ khuôn phép, hễ có tài năng hay sở trường nào đều được tuyển dụng. Vì vậy, các điều khoản trong bảng chiêu hiền liệt kê nhiều loại nhân tài được thu nhận, chẳng hạn như những người am hiểu thiên văn, tinh tượng, thông thạo địa lý, địa thế núi sông; những người đọc thuộc binh thư của Tôn Vũ, hiểu binh pháp và trận đồ; những người am hiểu phong tục, dân tình, cũng như những điều được mất trong chính sự và lịch sử từ xưa đến nay; các hào kiệt dân gian giỏi quyền thuật, võ nghệ, cưỡi ngựa và bắn cung; những thầy thuốc tinh thông y lý, am hiểu nội khoa và ngoại khoa; thậm chí còn có cả những hảo hán chốn lục lâm sẵn lòng từ bỏ con đường tà ác để quay về chính đạo.
Chế độ chiêu hiền của Thái Bình Thiên Quốc quy tụ nhân tài từ khắp nơi, thể hiện phương châm trị quốc: “Thiên triều thấy người hiền tài thì lập tức trọng dụng, hết sức mong mỏi đất nước được trị vì tốt đẹp” và “Bổ nhiệm quan lại chỉ chọn người hiền tài, nhu cầu nhân tài vô cùng cấp bách”.
Để bảo vệ sức khỏe thể chất của người dân, Hồng Tú Toàn ban hành lệnh cấm thuốc phiện, không cho phép “hút thuốc Tây” (hút thuốc phiện). Năm 1849, ông làm một bài thơ rằng: “Ống hút thuốc phiện chính là súng đạn, tự mình bắn mình, tự chuốc lấy thương tích. Biết bao bậc anh hùng, chết vì đạn ngay trên giường cao”.
Sau khi định đô, Hồng Tú Toàn lại ban chiếu thư, nhắc lại lệnh cấm này. Điều khoản này thoạt nhìn dường như không liên quan đến văn hóa truyền thống, nhưng thực chất lại có mối liên hệ mật thiết. Văn hóa truyền thống cho rằng “thân thể con người là một tiểu vũ trụ”, mỗi bộ phận trên cơ thể đều mang thông tin toàn thể và có mối liên hệ với cả bên trong lẫn bên ngoài. Vì vậy, thể chất khỏe mạnh cũng là một phương tiện quan trọng để kế thừa chính thống. Hơn nữa, mọi ngành nghề đều cần nhân lực để duy trì hoạt động tổng thể của một thời đại, bảo đảm ngọn lửa văn hóa được tiếp nối và truyền lại qua các thế hệ.
Đối với những thói hư tật xấu trong dân gian, chẳng hạn như cờ bạc, Thái Bình Thiên Quốc kiên quyết ngăn chặn bằng luật lệnh. Từng có một giáo viên tại một thư quán viết trong nhật ký: “Dư sinh tam thập niên, mục bất kiến đổ, độc hữu thử thì. Thiết tư Trường Mao hào lệnh, thanh thì đích phương quan sở bất đãi dã”.
Vị giáo viên này cho rằng lệnh cấm cờ bạc của Thái Bình Thiên Quốc là điều mà các quan lại địa phương dưới triều Thanh không thể sánh được.
Sau khi định đô, Hồng Tú Toàn đích thân chủ trì việc sửa đổi, lược bỏ nội dung trong các tác phẩm như “Tứ Thư”, “Ngũ Kinh”. Ông ban hành chiếu thư “Sửa đổi ‘Thi Vận’”, trong đó tuyên bố sẽ xóa bỏ hoàn toàn mọi lời lẽ không chính đáng trong sách, “chỉ giữ lại những lời chân thực, chính đáng”.
“Thiên Tự Văn” mới là sách tập đọc dành cho trẻ em của Thái Bình Thiên Quốc, do Hồng Tú Toàn đích thân biên soạn vào năm 1854 và sửa đổi vào năm 1858. Toàn văn có 1.104 chữ Hán khác nhau, nhằm giúp trẻ em mới học chữ nhận biết “Chân Thần chí tôn”. Ông còn viết lại các sách phổ thông như “Tam Tự Kinh”, “Ấu Học Quỳnh Lâm” để dùng làm tài liệu vỡ lòng. Khối lượng công việc sửa đổi kinh sách và biên soạn sách đọc này lớn hơn rất nhiều so với những trước tác mà các vị hoàng đế trong các triều đại trước từng biên soạn.
Hồng Tú Toàn còn quy định các sĩ tử dự thi võ khoa bắt buộc phải học tập và nghiên cứu “Võ Lược”. Đến kỳ phúc khảo, sĩ tử phải viết lại theo trí nhớ những chương mục có liên quan. Trong ảnh là thẻ tre của bản dịch “Binh pháp Tôn Tử”, hiện được lưu giữ tại thư viện Đại học California, Riverside. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Để đề cao năng lực chỉ huy và quản lý quân đội của các tướng lĩnh, Hồng Tú Toàn tăng cường giáo dục quân sự, tuyển chọn những tinh hoa trong bộ “Vũ Kinh Thất Thư” — bộ binh thư cổ đại của Trung Quốc, chẳng hạn như “Tôn Tử”, “Ngô Tử”, “Tư Mã Pháp” — biên tập thành sách, đặt tên là “Võ Lược”. Ông cho người khắc in rộng rãi, cấp phát cho các tướng lĩnh trong quân đội nghiên cứu, học tập. Hồng Tú Toàn còn quy định các sĩ tử dự thi võ khoa bắt buộc phải học tập và nghiên cứu “Võ Lược”; đến kỳ phúc khảo, sĩ tử phải viết lại theo trí nhớ những chương mục có liên quan.
Ngày 23/11/1859, Hồng Tú Toàn ban hành chiếu thư “Cải Định Thiên Lịch”, đặc biệt lệnh cho sử quan đối chiếu các nguyệt lệnh (chỉ 24 tiết khí), ghi chép rõ ràng để người dân thuận theo Thiên thời, kịp thời gieo trồng, canh tác, bảo đảm sự tiếp nối của nền văn minh nông nghiệp.
6. Bảo tồn và kế thừa các kỹ nghệ thủ công
Về phương diện vật chất, Thái Bình Thiên Quốc có “các nha môn phụ trách từng ngành nghề thủ công”, bao gồm công nghiệp in ấn, chế tác ấn tín và tiền tệ, chế tác đồ vàng bạc, kiến trúc và điêu khắc, dệt nhuộm, mỹ thuật công nghiệp, công nghiệp quân sự, v.v. Theo ghi chép của người đương thời, sau khi định đô tại Thiên Kinh, Thái Bình Thiên Quốc còn thiết lập 59 xưởng thủ công thuộc các ngành nghề khác nhau, chuyên chế tạo đủ loại đồ vật.
Đương thời, có người nhận xét về các ngành nghề thủ công của Thái Bình Thiên Quốc rằng: “Trăm nghề, trăm kỹ nghệ đều có nơi quy thuộc riêng, mỗi người đều tận sức với công việc của mình; mọi thứ quân đội cần đều có thể nhanh chóng hoàn thành”. Người này còn nói: “Mỗi nơi đều dự trữ nguyên vật liệu, mỗi người đều có công cụ thích hợp; bất cứ thứ gì cần đến cũng đều được đáp ứng như ý”. Thái Bình Quân có hiệu suất làm việc rất cao, đồng thời tay nghề cũng tinh xảo.
Thái Bình Thiên Quốc thiết lập hệ thống các doanh trại thợ thủ công và nha môn bách công, sử dụng nhân lực tùy theo tài năng, vừa coi trọng vừa tôn trọng những người làm nghề thủ công. Các thợ thủ công và nghệ nhân bách công cũng không phụ sự kỳ vọng, sáng tạo nên nhiều tác phẩm xuất sắc. Từ những ấn tín, tiền xu, sách vở và công trình kiến trúc của Thái Bình Thiên Quốc còn lưu lại cho đến các tác phẩm điêu khắc, bích họa và tranh màu, tất cả đều thể hiện kỹ nghệ cao và giá trị thưởng thức đáng kể. Vì vậy, về mặt thể chế, Thái Bình Thiên Quốc đã bảo đảm việc bảo tồn và kế thừa những kỹ nghệ thủ công bách công ưu tú của Trung Quốc qua các triều đại.
Mặc dù nhiều tác phẩm nghệ thuật đã bị quân Thanh phá hủy, nhưng hệ thống các doanh trại thợ thủ công và nha môn bách công do Thái Bình Thiên Quốc thiết lập, cùng những thành tựu lịch sử đạt được trên cơ sở đó, không phải là thứ mà quân Thanh có thể hủy diệt.
Từ đạo đức tinh thần, thể chất cho đến các kỹ nghệ thủ công bách công, “Thái Bình Chân Chủ” đều đích thân thực hành, dốc sức bảo vệ cả thân lẫn tâm của người dân, gìn giữ chính thống của một quốc gia. Khi thì ông đặt ra luật lệ, khi thì sửa đổi kinh sách, ban chiếu lệnh hoặc đích thân biên soạn, vận dụng mọi phương thức có thể.
(Còn tiếp)
Biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/19/6/17/n11328796.htm



