Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Từ khi đích thân chấp chính, Hoàng đế Khang Hy luôn ngày đêm canh cánh việc trị thủy. Thậm chí ông còn cho khắc việc trị thủy và vận chuyển lương thực bằng đường thủy (tào vận) lên cột trụ trong cung, coi đó là hai đại sự xuyên suốt toàn bộ thời kỳ trị vì của mình. Hình minh họa Hoàng đế Khang Hy, bậc minh quân khai sáng thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (The Epoch Times chế tác)

“Nước Hoàng Hà từ trời cao đổ xuống”, dòng sông cuồn cuộn ấy vừa tưới mát ruộng đồng phì nhiêu, nuôi dưỡng nền văn minh, nhưng cũng bởi thường xuyên lũ lụt, vỡ đê và đổi dòng mà gieo rắc biết bao tai họa thảm khốc cho bách tính. Trung Hoa truyền thống lấy nông nghiệp làm nền tảng lập quốc. Sự ổn định của sông Hoàng Hà là đại sự liên quan chặt chẽ đến các vấn đề quốc kế dân sinh như lương thực, vận chuyển đường thủy, tài chính thuế khóa. Chính vì vậy, việc trị thủy sông Hoàng Hà cũng trở thành trọng tâm trong chính sách trị quốc của các bậc đế vương qua từng triều đại.

Hơn 2.000 năm trước, bậc Thánh vương Đại Vũ trị thủy suốt 13 năm, 3 lần đi qua cửa nhà mà không bước vào. Dãi gió dầm mưa, cuối cùng ông đã bình ổn được nạn hồng thủy hoành hành. Đến đầu triều Thanh, Thánh Tổ Khang Hy Hoàng đế cũng dành hơn 40 năm dốc hết tâm huyết cho công cuộc trị thủy Hoàng Hà. Ông tuyển chọn nhân tài, nhiều lần đích thân khảo sát thực địa, tận tâm tận lực, cuối cùng đã tạo nên thành tựu kiệt xuất khi giữ cho dòng Hoàng Hà yên ổn suốt hơn 20 năm.

Trong lịch sử, Hoàng Hà đã nhiều lần đổi dòng lớn. Vào thời Nam Tống, quân Tống phá vỡ đê lớn của Hoàng Hà, lấy nước thay binh để ngăn chặn quân Kim xâm lược, khiến dòng Hoàng Hà chuyển hướng về phía nam, nhập vào sông Hoài rồi đổ ra biển. Trong hơn 700 năm sau đó, Hoàng Hà ở miền nam không hình thành được một lòng sông ổn định, thường xuyên vỡ đê, tràn ngập ruộng đồng, khiến thủy họa liên miên không dứt. Đến thời Minh, nhờ nỗ lực của các danh thần trị thủy như Phan Quý Tuần cùng nhiều người khác, Hoàng Hà về cơ bản đã hình thành tuyến dòng chính từ phía đông nam Hà Nam xuôi về Từ Châu.

Đầu triều Thanh, do chiến tranh liên miên, hệ thống đê điều và lòng sông ở hạ lưu Hoàng Hà bị xuống cấp nghiêm trọng sau nhiều năm không được tu sửa, khiến nạn lũ lụt một lần nữa hoành hành. Từ khi đích thân chấp chính, Hoàng đế Khang Hy luôn ngày đêm canh cánh việc trị thủy. Ông thậm chí còn cho ghi việc trị thủy và tào vận lên cột trong cung, coi đó là hai đại sự xuyên suốt toàn bộ thời kỳ trị vì của mình. Vậy quá trình và tư tưởng trị thủy của Hoàng đế Khang Hy được thể hiện như thế nào?

Chuyên gia trị thủy

“Chức vụ Hà đạo Tổng đốc có tầm quan trọng rất lớn, nhất định phải lựa chọn những quan viên giàu kinh nghiệm trị thủy thì mới có thể đảm đương được trọng trách này”. — Vân Nam Đạo Ngự Sử Lục Tộ Phiên

(Nguồn: Hà đạo quan hệ trọng đại, tất đắc tài năng thục luyện chi viên, thủy năng thăng nhậm quyết chức. — “Khang Hy triều thực lục”)

Danh thần trị thủy Cận Phụ cùng mưu sĩ Trần Hoàng cùng nhau triển khai một hành trình trị thủy lâu dài. Trong hình là một phần bức Khang Hy Nam tuần đồ quyển do Vương Huy cùng các họa sĩ đời Thanh thực hiện. (Tư liệu công cộng)

Mỗi năm, Hoàng Hà mang theo một lượng bùn cát khổng lồ chảy xuôi về hạ lưu, bồi lắng ở hạ lưu, hình thành nên “địa thượng hà” – dòng sông cao hơn mặt đất nhiều mét. Mỗi khi mùa mưa đến, Hoàng Hà rất dễ vỡ đê, gây ra những trận lũ lớn. Vì vậy, từ lâu người ta phải dựa vào sức người đắp đê giữ nước, khống chế dòng chảy. Dưới triều Thanh, khu vực thường xuyên xảy ra lũ lụt trên Hoàng Hà chủ yếu tập trung tại Thanh Khẩu, phía đông hồ Hồng Trạch. Thanh Khẩu không chỉ là nơi hợp lưu của Hoàng Hà và sông Hoài, mà còn là đầu mối giao thông quan trọng trên kênh Đại Vận Hà nối liền nam bắc. Do dòng chảy của sông Hoài yếu, nước Hoàng Hà thường xuyên chảy ngược vào sông Hoài; hai dòng nước sau đó cùng dồn vào kênh Đại Vận Hà, gây ngập lụt nghiêm trọng.

Một khi lũ lụt xảy ra, 7 châu, huyện thuộc phủ Hoài An và Dương Châu ở khu vực lân cận Thanh Khẩu là những nơi chịu ảnh hưởng đầu tiên. Các địa phương như Hà Nam, An Huy, Giang Tô và Sơn Đông cũng đều gánh hậu họa. Việc vận chuyển hằng năm 4 triệu thạch lương thực bằng đường thủy (tào lương) cũng bị đình trệ. Mức độ nghiêm trọng của lũ lụt càng ngày càng lớn.

Năm Khang Hy thứ 15 (năm 1676), lũ lụt trên Hoàng Hà lại bùng phát. Trong khi tiến hành bình định loạn Tam Phiên, Hoàng đế Khang Hy đồng thời bắt tay quy hoạch toàn diện công việc trị thủy Hoàng Hà và sông Hoài. Ông cử quan viên xuống vùng Hoài Dương để thị sát các công trình thủy lợi, khảo sát và xác định phương án tu sửa đê điều ở từng nơi, đồng thời đề ra chủ trương “phải tìm kế sách một lần vất vả mà mãi mãi yên ổn”, thể hiện quyết tâm trị thủy đến cùng.

Triều đình đặt ra một cơ quan chuyên trách việc trị thủy, đứng đầu là chức Tổng đốc Hà đạo, hàm Chánh nhị phẩm, thường gọi tắt là “Tổng Hà”; lực lượng quân đội trực thuộc được gọi là “Hà tiêu”. Chức Tổng đốc Hà đạo và Tổng đốc Tào vận có địa vị ngang với 8 vị Tổng đốc địa phương trong cả nước, nắm giữ quyền hạn và trách nhiệm hết sức quan trọng. Hoàng đế Khang Hy đặc biệt coi trọng việc bổ nhiệm Tổng Hà. Chức vụ này lần lượt do các danh thần như Cận Phụ, Vu Thành Long, Trương Bằng Hạc đảm nhiệm, trong đó người có công lao lớn nhất phải kể đến Cận Phụ.

Cận Phụ thông thạo kinh sử, từng tham gia biên soạn Thuận Trị thực lục tại Quốc sử quán; về sau giữ chức Nội các Học sĩ, rồi làm Tuần phủ An Huy và đạt nhiều thành tích nổi bật. Thuở đầu, ông vốn không am hiểu về thủy lợi. Tuy nhiên, trong thời gian nhậm chức tại An Huy, một hôm đi ngang miếu Lã Ông ở Hàm Đan, ông tình cờ đọc được một bài thơ viết trên tường:

“Phú quý vinh hoa ngũ thập thu, túng nhiên nhất mộng dã phong lưu.
Nhi kim lạc thác Hàm Đan đạo, yếu dữ tiên sinh tá chẩm đầu.”

Tạm dịch:

“Vinh hoa phú quý năm mươi thu, tuy là giấc mộng cũng phong lưu.
Đường về Hàm Đan nay ngã bước, mượn gối tiên sinh gạt mối sầu.”

Mực thơ còn chưa khô, tác giả hẳn vẫn chưa đi xa. Cận Phụ cảm nhận được trong bài thơ nỗi uất ức của một người mang hoài bão nhưng không gặp thời, biết đây ắt không phải người tầm thường, liền sai người đi khắp nơi tìm kiếm. Cuối cùng, ông đã gặp được tác giả bài thơ. Người ấy là một kỳ sĩ đất Tiền Đường, tên là Trần Hoàng. Cả đời ông không mấy hứng thú với văn chương bát cổ, mà đặc biệt say mê nghiên cứu thiên văn, địa lý, thủy lợi và sông ngòi, nhất là tinh thông thuật trị thủy. Ngay lần đầu gặp mặt, Cận Phụ đã coi Trần Hoàng là tri kỷ và mời ông làm mưu sĩ cho mình.

Năm Khang Hy thứ 16 (năm 1677), Cận Phụ đến Giang Tô nhậm chức, cùng Trần Hoàng bắt đầu hành trình trị thủy kéo dài nhiều năm. Hai người dành hơn 2 tháng đi dọc các tuyến sông để khảo sát tình hình dòng chảy, thăm hỏi dân chúng, đồng thời tra cứu kỹ lưỡng các sách trị thủy từ các triều đại trước, tổng kết kinh nghiệm của tiền nhân.

Từ đó, Cận Phụ chủ trương kế thừa chiến lược “đắp đê giữ nước, lấy nước trị cát” của Phan Quý Tuần, đồng thời lần lượt dâng lên triều đình hai bản tấu Kinh lý Hà công bát sớ và Kính trần Kinh lý Hà công bát sớ. “Bát sớ” nghĩa là 8 bản tấu chương. Cận Phụ đề xuất phải xem hệ thống sông ngòi và tuyến tào vận là một chỉnh thể thống nhất để xây dựng phương án trị thủy toàn diện, vừa phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai, vừa bảo đảm giao thông đường thủy. Tư tưởng chủ đạo của ông là thông qua việc đắp cao đê điều, nạo vét lòng sông, đào kênh dẫn nước, xây dựng mái dốc thoải và lấp các đoạn đê vỡ để thực hiện mục tiêu “trữ nước trong, rửa dòng Hoàng”. Nghĩa là nâng cao mực nước trong của sông Hoài để dùng dòng nước này cuốn trôi lượng bùn cát bồi lắng trong lòng sông Hoàng Hà. Cách làm đó vừa giảm sức ảnh hưởng của Hoàng Hà tới Đại Vận Hà, vừa tăng khả năng thoát nước ra biển của cả Hoàng Hà và sông Hoài.

Sau nhiều vòng nghị bàn tại triều đình, Hoàng đế Khang Hy quyết định giao toàn quyền phụ trách công trình trị thủy cho Cận Phụ, đồng thời cấp hơn 2,5 triệu lượng bạc, quy định thời hạn 3 năm phải hoàn thành. Bắt đầu từ năm Khang Hy thứ 17 (1678), Cận Phụ và Trần Hoàng triển khai kế hoạch trị thủy trên 3 hệ thống sông lớn gồm Hoàng Hà, sông Hoài và Đại Vận Hà. Cận Phụ còn đích thân có mặt tại công trường để chỉ huy việc thi công.

Trong 3 năm, Cận Phụ đã dẫn dắt thuộc hạ cùng vô số dân phu hoàn thành công trình dẫn dòng Hoàng Hà ra biển, đồng thời xây dựng và tu sửa hàng loạt công trình trọng yếu như công trình Thanh Khẩu, công trình đê Cao Gia, công trình Thanh Thủy Đàm, đê Quy Nhân và công trình Tảo Hà.

Lần Nam tuần đầu tiên

“Sông Hoàng Hà nhiều lần vỡ đê, gây tai họa cho bách tính nhiều năm. Trẫm muốn đích thân đến những nơi thường xuyên xảy ra lũ lụt để khảo sát địa thế và thị sát các công trình đê điều”. — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Hoàng Hà lũ thứ xung quyết, cửu vi dân hại. Trẫm dục thân chí kỳ địa, tương độ hình thế, sát thị đê công. — “Khang Hy triều thực lục”)

Hoàng đế Khang Hy quyết định đích thân thị sát các công trình sông ngòi để tìm ra phương sách trị thủy tối ưu hơn, từ đó mở đầu cho chuyến Nam tuần đầu tiên. Trong hình là một phần bức tranh Khang Hy Nam tuần đồ quyển do Vương Huy cùng các họa sĩ thời Thanh thực hiện. (Tư liệu công cộng)

Cận Phụ tận tâm tận lực với công việc, nhưng “người tính không bằng trời tính”. Trong 2 năm cuối của công trình, lũ lớn liên tiếp xảy ra, khiến việc thi công không thể hoàn thành đúng thời hạn, đồng thời một số đoạn sông lại bị vỡ đê. Nhiều đại thần vốn bất đồng quan điểm với Cận Phụ đã nhân cơ hội này công kích ông, nghi ngờ hiệu quả của việc trị thủy và đề nghị cách chức, trị tội ông cùng những người liên quan. Hoàng đế Khang Hy thấu hiểu nỗi gian lao của Cận Phụ trong công cuộc trị thủy nên vẫn lệnh cho ông tiếp tục giám sát việc tu sửa sông Hoàng Hà, lấy công chuộc tội.

Năm Khang Hy thứ 21 (năm 1682), Hoàng đế Khang Hy cử quan viên đến hiện trường khảo sát công trình, đồng thời triệu Cận Phụ vào triều tham dự nghị sự. Tại triều đình, ông tranh luận quyết liệt với các quan viên khảo sát, hai bên không ai chịu nhường ai. Cận Phụ dâng tấu trình rằng phần lớn công trình trị thủy đã hoàn thành, chỉ còn cần tiếp tục tu sửa khu Tiêu Gia Độ và sẽ hoàn tất vào năm Khang Hy thứ 22 (năm 1683). Sau đó, ông lại đề nghị sửa chữa thêm một số đoạn đê để hoàn thiện toàn bộ hệ thống phòng chống lũ. Hoàng đế Khang Hy đều chấp thuận các kiến nghị ấy và phục hồi chức Tổng đốc Hà đạo cho ông.

Năm Khang Hy thứ 23 (1684), sau khi dẹp yên loạn Tam Phiên và bình định Đài Loan, Trung Nguyên được thống nhất. Để tìm kiếm phương pháp trị thủy tối ưu hơn, Hoàng đế Khang Hy quyết định đích thân thị sát các công trình trị thủy, mở đầu chuyến Nam tuần đầu tiên. Tháng 9 năm ấy, sau khi tuần hành qua Sơn Đông, ông cùng Cận Phụ tiếp tục đi về phía nam, qua Túc Thiên và huyện Đào Nguyên (nay là Tứ Dương), thị sát các công trình trên bờ bắc Hoàng Hà.

Trước chuyến thị sát Hoàng đế Khang Hy tuy biết việc trị thủy vô cùng nặng nề và gian nan, nhưng chưa từng tận mắt chứng kiến hiện trường, nên chưa thể nắm rõ tình hình thực tế của dòng Hoàng Hà cùng hệ thống đê điều hai bên bờ. Chuyến Nam tuần này mang lại cho ông những trải nghiệm khảo sát thực địa quý báu, giúp ông có những nhận định độc đáo hơn khi bàn bạc với các quan phụ trách thủy lợi. Ông đã đưa ra 3 điểm lưu ý đối với Cận Phụ:

Thứ nhất, các khu vực như Tiêu Gia Độ, Cửu Lý Cương, Thôi Gia Trấn cùng 7 địa điểm khác đều là nơi thường xuyên xảy ra thủy họa, vì vậy đê điều phải luôn được gia cố và bảo vệ.

Thứ hai, mối họa đối với Đại Vận Hà vẫn bắt nguồn từ Hoàng Hà; hệ thống đê điều hai bên bờ cần được củng cố để phòng vỡ đê.

Thứ ba, các đập tràn xả lũ chỉ có thể giảm nhẹ thiên tai trong một thời gian ngắn; điều cốt yếu của việc trị thủy vẫn là bảo đảm nước sông Hoàng Hà thuận lợi chảy về phía đông ra biển, có như vậy mới thực sự đạt được mục tiêu “một lần vất vả, mãi mãi yên ổn”.

Chứng kiến các nhân lực ngày đêm làm việc bên bờ sông, bất kể mưa gió, Hoàng đế Khang Hy vô cùng xúc động. Ông đứng lặng rất lâu không nỡ rời đi, rồi đích thân bước tới thăm hỏi, động viên họ. Sau đó, ông đặc biệt căn dặn Cận Phụ phải tuyệt đối ngăn chặn tình trạng quan lại tham ô biển thủ công quỹ, bảo đảm mọi người tham gia công trình đều nhận được đầy đủ trợ cấp và phụ cấp từ triều đình.

Tiếp đó, Hoàng đế Khang Hy đến đập Thiên Phi ở Thanh Hà (nay là Hoài Âm), rồi theo Đại Vận Hà xuôi nam đến hồ Cao Bưu, cuối cùng đến Tô Châu và Nam Kinh. Chứng kiến cảnh nhà cửa, ruộng đồng bị nước lũ nhấn chìm trong biển nước, ông vô cùng xót xa và nói với Tổng đốc Lưỡng Giang Vương Tân Mệnh bên cạnh: “Khanh là đại thần cai quản địa phương, phải tìm mọi cách nạo vét lòng sông ngòi, cứu giúp dân chúng một vùng, như vậy mới hợp với tấm lòng thương dân của trẫm”.

Đoàn ngự giá tiếp tục Nam tuần đến Tô Châu và Nam Kinh, kết thúc chuyến tuần hành kéo dài khoảng một tháng. Trên đường hồi kinh, Hoàng đế Khang Hy vẫn không nghỉ ngơi, lại lên đập Thiên Phi để thị sát các công trình đê điều lân cận. Khi đi qua Sơn Đông, sau khi đến Khổng Miếu tế bái, ông mới trở về kinh thành.

Sau chuyến Nam tuần đầu tiên, Hoàng đế Khang Hy hết sức tán thưởng thành quả trị thủy của Cận Phụ và khích lệ ông sớm hoàn thành công trình. Đồng thời đưa ra hai quyết sách: Một là kiểm soát các đập tràn xả lũ, hai là nạo vét cửa biển vùng Hạ Hà (các dòng sông ở phía đông kênh đào được gọi chung là Hạ Hà, phía tây gọi là Thượng Hà) để tăng khả năng thoát nước ra biển.

Trong chuyến Nam tuần còn xảy ra một câu chuyện nhỏ. Khi cùng Cận Phụ đi thị sát, Hoàng đế Khang Hy với con mắt tinh tường đã hỏi:

“Khanh hẳn có một bậc hiền tài uyên bác, thông hiểu cổ kim đang phò tá bên cạnh.”[5]

Cận Phụ lập tức tiến cử thiên tài trị thủy Trần Hoàng và giúp ông được yết kiến hoàng đế. Trần Hoàng được xem là “quân sư” của Cận Phụ; hầu như mọi kế sách trị thủy đều do ông hiến kế, nhờ đó mới đạt được những thành tựu khiến hoàng đế phải nhìn bằng con mắt khác.

Lần Nam tuần thứ hai

“Đạo trị thủy cốt ở chỗ thuận theo đặc tính của dòng nước mà dẫn dắt, như vậy mới dễ thành công”. — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Trị hà chi đạo, thuận thủy tính dĩ trị chi, dị vu thành công. — “Khang Hy triều thực lục”)

Trong chuyến Nam tuần lần thứ hai, Hoàng đế Khang Hy đã đích thân đến tế bái Đại Vũ, bậc thánh vương để lại công lao trị thủy muôn đời. Trong ảnh là một phần bức tranh Phỏng Đường nhân Đại Vũ trị thủy đồ của họa sĩ Tạ Toại đời Thanh. (Tư liệu công cộng)

Sau chuyến Nam tuần đầu tiên, Hoàng đế Khang Hy đưa ra hai quyết sách và giao cho quan địa phương Vu Thành Long phụ trách thực hiện. Cần nói thêm rằng, dưới triều Khang Hy có hai vị danh thần nổi tiếng thanh liêm cùng mang tên Vu Thành Long, được gọi là “Đại Vu Thành Long” và “Tiểu Vu Thành Long”. Người tham gia công cuộc trị thủy Hoàng Hà là “Tiểu Vu Thành Long”.

Tuy nhiên, Cận Phụ, người có nhiều kinh nghiệm trị thủy, đã phản đối chủ trương này. Ông cho rằng cửa sông đổ ra biển có địa thế thấp trũng, việc khơi thông Hạ Hà không có lợi cho việc thoát nước. Vì vậy, ông đề nghị xây dựng đê cao để tích nước trong sông, ngăn nước biển chảy ngược, bảo đảm dòng sông cuồn cuộn đổ ra biển.

Mặc dù nhận định của Cận Phụ là đúng, nhưng không may ông lại bị cuốn vào cuộc đấu đá phe phái trong triều đình và bị cách chức vào năm Khang Hy thứ 27 (năm 1688). Những thành tựu trị thủy mà ông đạt được trước đó cũng bị nhiều đại thần công kích. Trần Hoàng vì đụng chạm đến lợi ích của các thế lực quyền quý nên bị kết tội và tống giam; trên đường bị áp giải, ông ôm hận qua đời. Mãi đến năm Khang Hy thứ 31 (1692), Trần Hoàng mới được minh oan. Những tinh hoa trong sự nghiệp trị thủy cả đời của ông về sau được biên soạn thành cuốn “Hà phòng thuật yếu”, tiếp tục tạo phúc cho hậu thế.

Để kiểm chứng xem nhận định của Cận Phụ có xác đáng hay không, tháng Giêng năm Khang Hy thứ 28 (1689), Hoàng đế Khang Hy dẫn theo Cận Phụ, Vu Thành Long cùng nhiều quan viên khác thực hiện chuyến Nam tuần lần thứ hai. Mục đích chính của chuyến đi là thị sát Trung Hà, đồng thời khảo sát tình hình quan lại và đời sống dân chúng. Đoàn ngự giá đi dọc theo tuyến sông đến tận Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Tại đây, Hoàng đế Khang Hy đích thân tế bái Đại Vũ, người đã để lại công lao trị thủy lưu danh thiên cổ, rồi mới trở về kinh thành, tổng cộng hành trình là 70 ngày.

Cái gọi là “Trung Hà” là một kênh đào nhân tạo do Cận Phụ cho xây dựng, chạy từ hồ Lạc Mã, qua Túc Thiên, Đào Nguyên đến cửa Trọng Gia Trang thuộc Thanh Hà, song song với Hoàng Hà. Trước đó, Đại Vận Hà ở đoạn này phải đi chung lòng sông với Hoàng Hà. Do Hoàng Hà thường xuyên xảy ra lũ lụt, Hoàng đế Khang Hy đã hạ chỉ đào Trung Hà để tránh đoạn sông nguy hiểm ấy.

Sau khi khảo sát thực địa, hầu như tất cả các đại thần đều thống nhất khẳng định giá trị của Trung Hà. Họ cho rằng:

“Trung Hà đã tránh được đoạn sông nguy hiểm dài 180 dặm phải đi chung với Hoàng Hà; dòng nước hung dữ cũng được kiềm chế phần nào, ruộng đồng của dân không còn bị nhấn chìm. Tuy nhiên, do Trung Hà nằm quá gần Hoàng Hà nên cũng không thích hợp để tiếp tục mở rộng lòng sông”.

Hoàng đế Khang Hy tiếp tục nhiều lần bàn bạc với các đại thần về việc tu sửa Trung Hà, cuối cùng căn dặn Tổng đốc Hà đạo kế nhiệm là Vương Tân Mệnh phải đặc biệt lưu tâm đến các công trình hoàn thiện sau này, luôn chuẩn bị sẵn sàng để sửa chữa khi cần thiết. Ban đầu, Hoàng đế Khang Hy còn dự định đích thân thị sát Hạ Hà, nhưng vì đường sá quá khó đi nên đành hủy bỏ, thay vào đó một lần nữa đến kiểm tra các công trình tại khu vực đập Thiên Phi và đập Thất Lý. Trước đó, ông từng hạ chỉ cải tạo đập Thiên Phi thành “đập cỏ”, đồng thời xây thêm hai cống để phân dòng nước. Lần này, thấy dòng sông hiền hòa, thuyền bè qua lại thông suốt, Hoàng đế Khang Hy vô cùng vui mừng.

Thông qua chuyến Nam tuần lần thứ hai, Hoàng đế Khang Hy tận mắt chứng kiến bách tính địa phương và những phu dịch trên các công trình trị thủy đều luôn ghi nhớ công lao của Cận Phụ. Ông cũng hiểu rõ hơn sự gian nan của công cuộc trị thủy và những cống hiến to lớn của Cân Phụ. Vì vậy, Hoàng đế Khang Hy hạ chỉ khôi phục phẩm cấp quan chức cho Cận Phụ, đồng thời mời ông giữ vai trò Tổng cố vấn về trị thủy. Không lâu sau, Hoàng đế Khang Hy lại bổ nhiệm ông trở lại chức Tổng đốc Hà đạo. Vị chuyên gia trị thủy một lần nữa được trọng dụng này tuy tuổi cao, sức yếu, bệnh tật liên miên nhưng vẫn đích thân giám sát công trình, cuối cùng qua đời ngay khi còn tại chức, hưởng thọ 60 tuổi. Hoàng đế Khang Hy vô cùng đau buồn, hạ chỉ an táng trọng thể và ban thụy hiệu “Văn Tương” cho ông.

Sau Cận Phụ, người kế nhiệm chức Tổng đốc Hà đạo là Vu Thành Long. Hoàng đế Khang Hy căn dặn ông phải điều tra kỹ lưỡng từng vụ việc vu cáo, hãm hại Cận Phụ trước đây, đồng thời tiếp tục trị thủy theo phương pháp của Cận Phụ. Kể từ sau Cận Phụ, triều Khang Hy không còn xuất hiện một nhân tài trị thủy nào có thể sánh ngang với ông.

Về phần Hoàng đế Khang Hy, nhờ uyên bác, ham học hỏi và nhiều lần đích thân khảo sát thực địa, ông cũng dần trở thành một chuyên gia về trị thủy. Vì vậy, những phương án và quyết sách trị thủy về sau đều do chính Hoàng đế Khang Hy trực tiếp chủ trì. Các quan phụ trách Hà đạo đều tiếp nối kế sách trị thủy của Cận Phụ và thi hành theo thánh chỉ của Hoàng đế.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(The Epoch Times)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/20/5/28/n12143788.htm