Trang chủ Right arrow Nghệ thuật Right arrow Thơ ca

Giải thích bài thơ “Thương tiến tửu”

25-02-2026

Tác giả: Thanh Phong

[ChanhKien.org]

“Thương tiến tửu” – Lý Bạch

Phiên âm:

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát, triêu như thanh ty mộ thành tuyết.

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan, mạc sử kim tôn không đối nguyệt.

Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng, thiên kim tán tận hoàn phục lai.

Phanh dương tể ngưu thả vi lạc, hội tu nhất ẩm tam bách bôi.

Sầm phu tử, Đan Khâu sinh, thương tiến tửu, bôi mạc đình.

Dữ quân ca nhất khúc, thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính.

Chung cổ soạn ngọc bất túc quý, đãn nguyện trường túy bất phục tỉnh.

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.

Trần vương tích thời yến Bình Lạc, đấu tửu thập thiên tứ hoan hước.

Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền, kính tu cô thủ đối quân chước.

Ngũ hoa mã, thiên kim cừu, hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu, dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

Tạm dịch:

Anh không thấy nước sông Hoàng Hà đổ từ trời xuống, chảy ra đến biển chẳng quay về.

Anh không thấy gương sáng nơi nhà chính soi tóc trắng khiến lòng ta buồn bã, sáng như tơ đen chiều đã thành tuyết.

Đời người khi đắc ý nên tận tình vui sướng, chớ để chén vàng cạn hướng vầng trăng.

Trời ban cho ta tài hoa ắt có chỗ dùng, ngàn vàng tiêu hết rồi lại có.

Mổ dê giết trâu để ăn mừng, phải uống một lần ba trăm chén.

Này ông bạn họ Sầm, này anh bạn Đan Khâu, mời uống rượu, đừng ngừng chén.

Hát cho anh một khúc, xin các anh vì thành ý của tôi lắng tai nghe.

Chuông trống cỗ bàn không đáng quý, chỉ nguyện được say hoài không tỉnh.

Xưa nay các bậc thánh hiền đều cô độc, chỉ người uống rượu để lại tên.

Trần vương hồi xưa mở tiệc ở Bình Lạc, rượu ngon một đấu vạn tiền tha hồ vui đùa.

Chủ nhân sao lại nói thiếu tiền, hãy mau mau mua rượu cùng nhau uống.

Ngựa quý lông năm sắc, áo cừu giá ngàn vàng, kêu đứa nhỏ ra đem đổi lấy rượu, cùng bạn tiêu mối sầu vạn cổ.

Vào những năm đầu niên hiệu Thiên Bảo thời vua Đường Huyền Tông, Lý Bạch được Đạo sĩ Ngô Quân tiến cử và được Đường Huyền Tông triệu về kinh phong chức Hàn Lâm Cung phụng (sau này gọi là Hàn Lâm Học sĩ). Nhưng không lâu sau, do bị những người có quyền thế gièm pha vu khống, vào năm Thiên Bảo thứ ba (năm 744), Lý Bạch bị trục xuất khỏi kinh đô. Đường Huyền Tông ban cho ông tiền và để ông rời đi. Sau đó, Lý Bạch sống quanh quẩn quanh vùng Giang Hoài (tức vùng sông Trường Giang và sông Hoài). Trong thời gian này, Lý Bạch và người bạn Sầm Huân (trong bài thơ được dịch là “ông bạn họ Sầm”) nhiều lần nhận lời mời làm khách tại “Dĩnh Dương sơn cư” trên núi Tung Sơn của một người bạn thân khác là Nguyên Đan Khâu. Ba người ngồi ở đài cao yến ẩm, mượn rượu thỏa thuê ca hát. Khi Lý Bạch sáng tác “Thương tiến tửu” thì đã tám năm trôi qua kể từ lúc ông bị Đường Huyền Tông “ban tiền cho rời đi”.

Tôi vẫn luôn rất thích bài thơ này, gần đây tôi chợt ngộ ra rằng, những diễn giải cho bài thơ này qua các thời đại thực chất đều chỉ ở tầng thứ người thường, còn điều mà Lý Bạch thực sự muốn biểu đạt chính là cái tâm cầu Đạo của ông.

Lý Bạch hiệu là Thanh Liên cư sĩ. Ông một đời thích Đạo, cũng chính là nói ông là một người tu Đạo, nắm được điểm then chốt ấy thì có thể thực sự hiểu được bài thơ này.

Xuyên suốt toàn bài thơ này là rượu. Chúng ta biết rằng rượu có vị trí rất quan trọng trong văn hóa Trung Hoa. Uống rượu ở đây hoàn toàn không phải là kiểu mượn rượu giải sầu của người thường, càng không phải để vui vẻ nhất thời. Thần ban rượu cho con người vì hai lý do, một là làm phong phú cuộc sống con người, tăng thêm niềm vui cho tầng con người này, một mặt khác, chúng ta biết rằng tu luyện trong vũ trụ cũ là tu luyện phó nguyên thần, có một số tu luyện Đại Đạo cần phải uống rượu để làm mê chủ nguyên thần, khi đó phó nguyên thần mới có thể tu luyện. Lý Bạch cũng thuộc loại này, cho nên trong suốt bài thơ, dù là ông tự mình uống rượu hay mời người khác uống rượu thì mục đích thực sự đều là để tu luyện. Một người thường mượn rượu giải sầu hay một người thường mãi không buông bỏ được “danh lợi tình” tuyệt đối không thể viết ra một bài thơ như vậy.

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi” (Anh không thấy nước sông Hoàng Hà đổ từ trời xuống, chảy ra đến biển chẳng quay về), Hoàng Hà chảy dài từ nguồn rất xa, khoảng cách đến đây đã cực lớn, khiến nó giống như dòng nước đổ từ trời xuống, chảy băng băng ngàn dặm về phía đông ra biển. Có bài viết cho rằng cảnh tượng sóng nước bao la hùng vĩ như vậy là điều mà tác giả nhìn thấy trong một không gian khác, tôi cũng cho là như thế. Câu tiếp theo, “Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát, triêu như thanh ty mộ thành tuyết” (Anh không thấy gương sáng nơi nhà chính soi tóc trắng khiến lòng ta buồn bã, sáng như tơ đen chiều đã thành tuyết), đây cũng là cảnh tượng nhìn được thông qua công năng, tức là tại không gian khác mà nhìn thì thấy một đời người trôi qua rất nhanh. Chỗ này đã bắt đầu có đủ hiệu ứng nghệ thuật khiến người ta kinh tâm động phách. Có được hiệu quả này cũng phải kể đến ảnh hưởng của cách diễn đạt bằng phép lặp câu dài khi bắt đầu bài thơ tạo thành.

“Nhân sinh đắc ý tu tận hoan, mạc sử kim tôn không đối nguyệt” (Đời người khi đắc ý nên tận tình vui sướng, chớ để chén vàng cạn hướng vầng trăng), câu này dường như đang ủng hộ tư tưởng tận hưởng niềm vui trước mắt, nhưng đó bất quá chỉ là cảm nhận bề mặt mà thôi, điều Lý Bạch thực sự bày tỏ chính là sự buông bỏ và xem nhẹ đối với danh lợi được mất nơi thế gian.

“Sầm phu tử, Đan Khâu sinh, thương tiến tửu, bôi mạc đình. Dữ quân ca nhất khúc, thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính.” (Này ông bạn họ Sầm, này anh bạn Đan Khâu, mời uống rượu, đừng ngừng chén. Hát cho anh một khúc, xin các anh vì thành ý của tôi lắng tai nghe).

Sầm phu tử và Đan Khâu sinh đề cập đến ở đây là những người bạn của Lý Bạch, họ cũng là những người tu Đạo. Có câu “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” tức là những người không cùng chí hướng thì không thể cùng nhau bàn thảo, mà “chí đồng” thì “Đạo hợp”, đích thị như vậy, một người khắp thân đều là danh lợi thì không thể trở thành bạn bè của Lý Bạch được. Có bình luận cho rằng mấy câu thơ “Chung cổ soạn ngọc bất túc quý, đãn nguyện trường túy bất phục tỉnh. Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh” (Chuông trống cỗ bàn không đáng quý, chỉ nguyện được say hoài không tỉnh. Xưa nay các bậc thánh hiền đều cô độc, chỉ người uống rượu để lại tên) là văn chương của Thần. Cách nói này rất thú vị, cũng rất chuẩn xác, đích thực là nhờ có sự trợ giúp của Thần mà viết ra. Câu thơ “Chuông trống cỗ bàn không đáng quý, chỉ nguyện được say hoài không tỉnh” cho thấy Lý Bạch thờ ơ với danh lợi, mà câu “Xưa nay các bậc thánh hiền đều cô độc, chỉ người uống rượu để lại tên” xem thì giống như đang so sánh bản thân với Thánh hiền nhưng thực chất muốn nói rằng Thánh hiền đều cô độc bởi vì cảnh giới của họ quá cao nên người thường không thể hiểu được họ. Thực ra, cuộc sống của Thánh hiền rất phong phú vì họ có thể liên hệ giao tiếp với vô số sinh mệnh mà người thường không nhìn thấy được trong vũ trụ. Thêm nữa, bản thân họ có thể biến hóa, chỉ bất quá không thể để người thường nhìn thấy mà thôi. Chỉ có những người thật sự tu luyện đến một tầng thứ nhất định mới có thể hiểu được trạng thái sinh hoạt và suy nghĩ của họ, mà câu “chỉ người uống rượu để lại tên” dường như là muốn nổi danh, lưu lại danh tiếng tốt, kỳ thực là nói những người có thể lưu danh thường là những người thật sự buông bỏ danh lợi, ví như Bát Tiên, Tế Công, v.v. không ai từng nghĩ rằng “tương lai ta sẽ lưu danh”, Lý Bạch cũng không từng nghĩ “ta muốn nổi danh” nhưng tên của những người này đều đã được lưu lại.

Mấy câu sau “Trần vương tích thời yến Bình Lạc, đấu tửu thập thiên tứ hoan hước. Chủ nhân hà vy ngôn thiểu tiền, kính tu cô thủ đối quân chước. Ngũ hoa mã, thiên kim cừu, hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu, dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu” (Trần vương hồi xưa mở tiệc ở Bình Lạc, rượu ngon một đấu vạn tiền tha hồ vui đùa. Chủ nhân sao lại nói thiếu tiền, hãy mau mau mua rượu cùng nhau uống. Ngựa quý lông năm sắc, áo cừu giá ngàn vàng, kêu đứa nhỏ ra đem đổi lấy rượu, cùng bạn tiêu mối sầu vạn cổ) được viết ra rất có khí phách. Người thường thông thường hiểu ý thơ thành Lý Bạch rất hào phóng, không bị bó buộc. Từ then chốt trong này là “tiêu”, nghĩa là tiêu trừ, tiêu hủy, vậy thì tiêu trừ, tiêu hủy cái gì nhỉ? Chính là mối sầu vạn cổ. Người thường sầu điều chi? Sầu “danh lợi tình” không được thỏa mãn, nói cách khác chính là các chủng loại chấp trước không buông xuống được, mà “tiêu mối sầu vạn cổ” chính là hoàn toàn buông bỏ tất cả các chấp trước đã hình thành, đã tích lũy từ những năm tháng xa xưa trong dòng sông dài của sinh mệnh, phản bổn quy chân, “vạn cổ” là chỉ khoảng thời gian rất dài, như vậy ở đây có nghĩa là chỉ tất cả tư tưởng. Càng thú vị hơn là Lý Bạch không chỉ yêu cầu bản thân phải buông bỏ tất cả chấp trước mà còn hy vọng bạn bè của mình cũng có thể buông bỏ mọi chấp trước. Một người mượn rượu giải sầu chỉ tạm thời ngừng suy nghĩ, khi tỉnh rượu rồi thì lại vì danh vì lợi mà tranh mà đấu, so với “cùng tiêu mối sầu vạn cổ” của Lý Bạch là khác biệt như trời với đất vậy.

Lý Bạch là một người tu Đạo, và rượu có vai trò rất quan trọng trong tu luyện của ông, rượu làm mê chủ nguyên thần. Có câu thơ rằng, “Lý Bạch nhất đấu thi bách thiên, Trường An thị thượng tửu gia miên” (Tạm dịch: Lý Bạch uống một đấu rượu làm trăm bài thơ, ngủ trong quán rượu trên phố chợ Trường An) cho thấy rõ khi ông say, phó nguyên thần của ông đã làm chủ thân thể mà làm vậy.

Xác thực trong rất nhiều tác phẩm của Lý Bạch đều thể hiện cái tâm tu luyện và tầng thứ tu luyện của ông. Ví dụ một bài thơ được nhận xét rất có tiên khí là “Sơn trung vấn đáp”:

“Vấn dư hà ý thê bích san,

Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.

Đào hoa lưu thuỷ diểu nhiên khứ,

Biệt hữu thiên địa phi nhân gian.”

Tạm dịch:

Hỏi vì sao ở nơi núi biếc,

Cười mà không đáp tâm tự rõ ràng.

Hoa đào nước chảy lặng trôi xa,

Có thiên địa khác không là nhân gian.

Hai câu đầu trong bài thơ trên mang tư tưởng tu Đạo rất rõ ràng, mà câu cuối “Biệt hữu thiên địa phi nhân gian” (Có thiên địa khác không là nhân gian) thực ra là muốn nói rằng điều người thường nhìn thấy chỉ là một ngọn núi bình thường, nhiều nhất là thấy phong cảnh tuyệt đẹp mà thôi, nhưng với Lý Bạch thì còn hơn thế nữa, ông có thể nhìn thấy rất nhiều không gian đồng thời tồn tại cùng lúc cùng chỗ nơi ngọn núi này, nguyên thần của ông có thể đi vào những không gian này và giao tiếp với các sinh mệnh trong đó.

Lý Bạch được gọi Tiên thơ. Chữ “Tiên” (仙) là thêm chữ “sơn” (núi, 山) vào chữ “nhân” (người, 人), thể hiện rằng có rất nhiều người tu Đạo là tu luyện trong núi. Lý Bạch cũng có một quãng thời gian dài như vậy, cũng quả thật ông đã tu luyện tới một trình độ nhất định.

Tất nhiên, sự trợ giúp của Thần là nhân tố chủ yếu giúp Lý Bạch có thể viết ra bài “Thương tiến tửu”. Nhiều tác phẩm nghệ thuật bất hủ trong lịch sử cũng giống như vậy.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/274546

Ban Biên Tập Chánh Kiến

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.

Loạt bài