Tác giả: Quý Đại biên soạn
[ChanhKien.org]
Nguồn gốc của Luận Ngữ
Theo “Hán Thư – Nghệ Văn Chí” có ghi: “Luận Ngữ là lời đối đáp của Khổng Tử với các đệ tử và những người đương thời, cùng với những lời đàm luận qua lại giữa các đệ tử về những lời nghe được từ Phu Tử. Lúc bấy giờ các đệ tử đều ghi chép lại theo cách của mình. Sau khi Phu Tử qua đời, các môn nhân cùng nhau chỉnh lý, biên soạn lại, do đó gọi là Luận Ngữ”. Từ đó có thể thấy, “Luận Ngữ” là những lời dạy mà Phu Tử lưu lại trước khi mất, do môn đệ tử biên soạn lại từ những lời giáo huấn của Phu Tử lúc sinh thời, ứng với từng người từng việc. Có thể chia làm ba loại:
– Lời đáp lại các câu hỏi của đệ tử – lời dạy bảo các đệ tử.
– Lời đáp lại các câu hỏi của những người đương thời – trả lời các vấn đề do các nhân sĩ trong xã hội lúc bấy giờ nêu ra.
– Những lời các đệ tử nói chuyện với nhau trong đó có những lời nghe được từ Phu Tử, tức là trong khi các đệ tử thảo luận cùng nhau đã trích dẫn lời nói của Phu Tử.
Trước thời Hán, “Luận Ngữ” chỉ được gọi riêng là “Luận” hoặc gọi riêng là “Ngữ”, cũng có tên gọi khác như “Truyện” hoặc “Ký”, tên gọi khá lộn xộn không thống nhất, mãi cho đến thời Hán, khi vua Hán Vũ Đế phế bỏ bách gia, độc tôn Nho thuật, từ đó mới bắt đầu định ra tên gọi thống nhất. Học giả thời Hán là Trịnh Huyền nói: “Luận (論), cũng tức là luân (綸 – cai trị), là luân (輪 – bánh xe), là lý (理 – lý lẽ), là thứ (次 – thứ tự), là soạn (撰 – biên soạn). Dùng sách này có thể cai trị thiên hạ nên gọi là luân (綸 – cai trị), tuần hoàn vô cùng nên gọi là luân (輪 – bánh xe), hàm chứa muôn vàn đạo lý nên gọi là lý (理 – lý lẽ), kết cấu chương hồi có trật tự nên gọi là thứ (次 – thứ tự), được nhiều bậc thánh hiền góp sức tạo thành nên gọi là soạn (撰 – biên soạn)”. Đây là lời giải thích ý nghĩa tên gọi Luận Ngữ.
Học giả Nho gia là Hà Dị Tôn thời nhà Nguyên, trong cuốn “Thập nhất kinh vấn” có nói: “Luận Ngữ có lời của Phu Tử do đệ tử ghi chép lại, có lời Phu Tử trả lời câu hỏi của các đệ tử, có lời mà các đệ tử tự hỏi đáp lẫn nhau, cũng có lời của người đương thời nói chuyện với nhau, có lời của thần tử khi đối đáp với vua, có lời của thầy và các đệ tử khi đối đáp với các đại phu, đều là để bàn luận về văn, nghệ, nên gọi là Luận Ngữ vậy”.
Tác giả của Luận Ngữ
Từ xưa đến nay, về việc “Luận Ngữ” lúc ban đầu là do ai biên soạn sáng tác, mỗi người có một ý kiến khác nhau, tranh luận không ngừng. Đại khái có thể chia thành ba thuyết:
– Có cách nói tổng quát cho rằng Luận Ngữ là do các môn đệ của Khổng Tử ghi chép lại, không xác định được tác giả cụ thể.
– Có cách nói cho rằng Luận Ngữ do các môn đệ Khổng Tử như Trọng Cung, Tử Hạ, Tử Du biên soạn.
– Có cách nói cho rằng Luận Ngữ do các môn đệ Khổng Tử biên soạn, trong đó có cả các đệ tử đời sau của Tăng Tử.
Trong “Kinh điển thích văn” có trích dẫn lời của Trịnh Huyền như sau: “Luận Ngữ là do Trọng Cung và Tử Hạ biên soạn”. Nhưng trong cuốn “Luận Ngữ nghĩa sơ” do học giả triều Tống là Hình Bỉnh biên tập lại thì lại cho rằng “Phía dưới Trọng Cung còn có hai chữ Tử Du”, vì vậy mới có thuyết cho rằng “Luận Ngữ” do Trọng Cung, Tử Hạ và Tử Du biên soạn.
Sau đó, những người như Liễu Tông Nguyên thời Đường, Trình Di thời Tống và những người khác đều cho rằng trong “Luận Ngữ”, các môn đệ Khổng Tử đều được gọi trực tiếp bằng “tự” (tên hiệu), ví dụ Đoan Mộc Tứ gọi là Tử Cống; Trần Kháng gọi là Tử Cầm; Bốc Thương gọi là Tử Hạ; Ngôn Yển gọi là Tử Du. Chỉ có Tăng Sâm không gọi là Tử Dư mà gọi là Tăng Tử; đối với Hữu Nhược cũng không gọi là Tử Hữu mà gọi là Hữu Tử. Do đó, họ khẳng định “Luận Ngữ” không phải do Trọng Cung, Tử Hạ, Tử Du biên soạn ra, mà là do môn nhân của Tăng Tử và Hữu Tử hoặc đệ tử đời sau của họ biên soạn. (Tử Tư là cháu Khổng Tử, theo học Tăng Tử)
Còn về quan điểm phổ biến cho rằng Luận Ngữ do Tăng Tử biên soạn, nhưng trong “Luận Ngữ” có câu rằng: “Tăng Tử bị bệnh, triệu tập môn đệ nói: Xem chân của ta, xem tay ta… Kinh Thi viết: ‘Run rẩy nơm nớp, như đi ven vực thẳm, như bước trên lớp băng mỏng nước sâu’, từ nay về sau, ta không còn lo lỡ làm thương tổn thân thể vốn của mẹ cha nữa, các trò à’”. Từ đó có thể thấy rõ là không phải do Tăng Tử tự mình biên soạn.
Các học giả đời sau cho rằng mười chương trước và mười chương sau của “Luận Ngữ”, dù là về thể loại hay ngữ khí đều có sự khác biệt, đủ thấy không phải do cùng một người viết ra. Nhưng việc Luận Ngữ do hậu nhân các đệ tử Khổng môn tập hợp biên soạn là điều không cần bàn cãi. Vậy thì đâu cần phải quá bận tâm, nhất định phải khẳng định do một người nào đó hay không do một người nào đó viết ra.
Lịch sử phát triển của Luận Ngữ
Luận Ngữ từ xưa được truyền bá và giảng dạy, trải qua quá trình lịch sử, phân chia thành ba nhà, tự xưng là:
Lỗ Luận: là sau thời kỳ nhà Tần đốt sách, người Lỗ là Phục Sinh dựa vào trí nhớ mà đọc lại, dùng loại chữ lệ thời đó (còn gọi là kim văn) chép lại, đồng thời tự mình dùng để giảng dạy môn sinh ở đất Lỗ, nên gọi là Lỗ Luận.
Tề Luận: do người Tề là Lư Thắng truyền ở vùng Giao Đông, cũng là sau thời kỳ đốt sách thời nhà Tần, dựa vào trí nhớ đã chép lại bằng chữ kim văn; dùng để giảng dạy và thu nhận môn đồ, gọi là Tề Luận; gồm 22 thiên, nhiều hơn Lỗ Luận 2 thiên là “Vấn Vương” và “Tri Đạo”.
Cổ Luận: đây là bản do Lỗ Cung Vương đời Hán trong khi mở rộng xây dựng Khổng miếu, đã phát hiện các kinh sách được chép bằng chữ triện cổ bên trong bức vách, trong đó có “Thượng Thư”, “Kinh Dịch”, “Kinh Thi”, “Hiếu Kinh”, “Tả Truyện”, “Luận Ngữ”… Bản Luận Ngữ cổ chính là một trong số đó. Lỗ Cung Vương đã giao lại cho hậu duệ Khổng Tử là Khổng An Quốc, rồi Khổng An Quốc lại dâng tặng cho Hán Vũ Đế, nhưng không ai có thể phiên dịch hoặc giải thích được. Sau đó, cha con Lưu Hưởng hiệu đính lại, gọi là “Cổ văn Luận Ngữ”, gọi tắt là “Cổ Luận”. Có người cho rằng đây là bản thật trước thời nhà Tần đốt sách, cực kỳ quý giá. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây là do hậu thế viết ra, vì vậy các bậc Bác Sĩ Ngũ Kinh kim văn thời đó đều phản đối, cuối cùng bị thất truyền, rất đáng tiếc. Cổ Luận có 21 thiên, không có hai thiên “Vấn Vương” và “Tri Đạo”, nhưng chia thiên “Tử Trương Vấn” thành hai thiên, nên hơn Lỗ Luận một thiên. Đối chiếu văn tự với Lỗ Luận có chỗ khác biệt, khác nhau khoảng hơn 400 chữ.
Thời vua Thành Đế nhà Tây Hán, học giả Trương Vũ trước dạy Lỗ Luận, sau giảng Tề Luận, ông đã so sánh và dung hợp hai bản này lại với nhau, loại bỏ hai thiên “Vấn Vương” và “Tri Đạo”, lấy bản Lỗ Luận gồm 20 thiên làm bản chuẩn, được đời sau gọi là “Trương Hầu Luận”, và bản này được lưu truyền cho đến tận ngày nay.
Vào cuối thời Hán, Trịnh Huyền cho rằng việc bỏ đi Cổ Luận là điều đáng tiếc, nên đã kết hợp cả Cổ Luận để biên soạn ra “Luận Ngữ Chú”. Do đó, người đời sau khi nghiên cứu “Luận Ngữ”, nếu có thể đồng thời đọc cả phần chú giải này, thì có thể nắm bắt được tinh thần và cốt lõi của cả ba bản Luận Ngữ.
Nội dung của Luận Ngữ
Các học giả đời sau đều cho rằng “Luận Ngữ” là ghi chép chân thực về quá trình Khổng Tử dạy các môn đệ, chứa đựng tư tưởng cốt lõi của Khổng Tử và yếu nghĩa Ngũ Kinh của Nho gia:
“Thi có thể dùng để khơi dậy cảm xúc, có thể tụ tập mọi người, có thể quan sát, có thể than trách, gần thì nói chuyện với cha mẹ, xa thì nói đến việc của quân vương; đồng thời biết nhiều về tên gọi của các loài chim, thú, cỏ cây” (trích thiên Dương Hóa) và “Khởi đầu bằng thi, đứng vững nhờ lễ, hoàn thiện bởi nhạc”. (trích thiên Thái Bá) – Đây chính là tinh thần và ý nghĩa chủ đạo của “Kinh Thi”.
“Phạm tội với Trời thì không còn nơi nào để cầu khấn”. (thiên Bát Dật) “Uy nghiêm hùng vĩ thay! Chỉ có Trời là lớn, chỉ có vua Nghiêu là khuôn mẫu”. (thiên Thái Bá) “Không biết mệnh Trời thì không thể làm người quân tử”. (thiên Nghiêu Viết) – Đây chính là tinh thần và yếu nghĩa của “Kinh Dịch”.
“Tế Thần như Thần tại đó”. (thiên Bát Dật) “Khắc kỷ phục lễ đó là nhân, một ngày khắc kỷ phục lễ thì thiên hạ quy về nhân rồi”. “Không lễ không nhìn, không lễ không nghe, không lễ không nói, không lễ không làm”. (thiên Nhan Uyên) Và “Sự vận dụng của Lễ là dĩ hòa vi quý, đạo của các bậc tiên vương xưa lấy điều đó làm đẹp”. (thiên Học Nhi) “Cung kính mà không có lễ thì thành mệt mỏi, cẩn thận mà không có lễ thì trở thành sợ hãi, dũng cảm mà không có lễ thì thành loạn, ngay thẳng mà không có lễ thì thành cứng nhắc” (thiên Thái Bá) – Đây chính là lời giải thích và tinh túy của ba bộ Lễ Kinh.
“Tề Cảnh Công có nghìn cỗ xe bốn con ngựa kéo, ngày ông qua đời, dân chúng không thấy đức hạnh gì ở ông; Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương, dân chúng đến nay vẫn tôn vinh họ”. (thiên Quý Thị) “Tám dãy vũ múa trong sân, điều này còn có thể nhẫn chịu được, thì còn điều gì không thể nhẫn chịu được?” (thiên Bát Dực – Bát Dực là một nghi lễ múa cổ xưa trong triều đình nhà Chu, có tám hàng người múa, tượng trưng cho sự trang nghiêm và tôn quý tuyệt đối của thiên tử nhà Chu. Theo quy định lễ nghi, chỉ vua Chu mới được quyền tổ chức múa tám dãy trong sân lớn. Tuy nhiên, Tề Trang Công là chư hầu mà lại tổ chức múa tám dãy này, điều đó bị coi là vượt quyền, phạm luật lễ nghi. Khổng Tử dùng câu nói này để bày tỏ sự tức giận và phê phán sâu sắc) và “Trần Thành Tử giết vua Giản Công, Khổng Tử tắm gội rồi lên triều, tâu với Ai Công rằng: Trần Hằng giết vua của hắn, xin được đi thảo phạt”. (thiên Hiến Vấn) – Những điều này chính là hoằng dương tôn chỉ và đại nghĩa của kinh “Xuân Thu”.
“Người trị nước bằng cách “vô vi” như vua Thuấn chính là vậy, tại sao lại như thế? Bởi ông giữ thái độ cung kính và luôn hướng mặt về phía Nam mà thôi” (thiên Vi Linh Công). “Số mệnh của thiên hạ đều nằm trong tay người trị nước, nếu thật lòng giữ vững đạo trung thì dù bốn phương gặp khốn cùng, thiên mệnh vẫn sẽ bền vững trường tồn”. “Phục hưng đất nước đã mất, tiếp nối thời đại đã bị diệt vong, giúp đỡ những người dân chạy loạn, đều khiến cho dân chúng trong thiên hạ quy phục một lòng” (thiên Nghiêu Viết). Đây chính là nội hàm và đạo lý trị nước của “Thượng Thư”.
Bốn giáo huấn của Khổng môn là: Văn (học thức), Hành (đạo hạnh), Trung (trung thành), Tín (lòng tin) đều được bao hàm trong “Luận Ngữ”. Đọc “Luận Ngữ” không chỉ giúp chúng ta hiểu được tinh hoa của Ngũ Kinh, mà còn giúp người đọc biết cách lập thân xử thế, cách đối xử với người và sự việc, làm việc vì người khác, ứng xử nhân nghĩa, giữ gìn lòng hiếu thuận, hành xử trung thành và khoan dung, nghiêm túc giữ lễ nghi, đó chính là hình mẫu của một quân tử khiêm nhường. Cũng chính là đã có được chuẩn tắc quy phạm đạo đức của đệ tử Nho gia. Quan trọng hơn là Luận Ngữ còn kế thừa truyền thống văn hóa 5000 năm của Trung Hoa, thấm nhập một cách thầm lặng và sâu sắc.
Kết luận
Từ xưa đến nay, tác phẩm chú giải Luận Ngữ nổi bật nhất là “Luận Ngữ tập giải” của Hà Yến và “Luận Ngữ tập chú” của Chu Hy. Tác phẩm trước dựa trên khảo cứu học thuật thời Hán, còn tác phẩm sau chú trọng vào việc giảng giải và phát huy nghĩa lý.
Triệu Phổ thời Tống từng có câu nói hào hùng: “Dùng nửa bộ Luận Ngữ để trị thiên hạ” quả thực không phải lời nói phóng đại. Nếu người ta có thể thuộc lòng Luận Ngữ trong lòng và thực hành tận tâm trong đời sống, thì cả cuộc đời sẽ nhận được lợi ích vô tận. Đúng như vậy, khi nghèo khó có thể giữ được đức hạnh tự thân, khi thành đạt có thể rộng lượng giúp ích cho thiên hạ. Hơn hai nghìn năm qua, các đệ tử Nho gia coi trọng “Luận Ngữ” không thua kém Ngũ Kinh. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, “Luận Ngữ” cũng được coi trọng trong giáo dục. Thậm chí cho đến nay, Hoàng thái tử của Nhật Bản vẫn bắt buộc phải học “Luận Ngữ”. Gần đây, Singapore cũng đã thúc đẩy việc đọc “Luận Ngữ” và coi trọng Nho học, điều này hoàn toàn có lý do chính đáng.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/70305