Tác giả: Quý Đại biên soạn
[ChanhKien.org]
Nguồn gốc của “Đại Học”, “Trung Dung”
“Đại Học” vốn là thiên thứ 42 trong Tiểu Đái Lễ Ký, “Trung Dung” vốn là thiên thứ 31 trong Tiểu Đái Lễ Ký. Trước thời Bắc Tống, hai tác phẩm này chưa từng được tách riêng thành kinh thư, chỉ nằm trong nội dung của “Lễ Ký” mà thôi. Từ xưa đến nay, người ta truyền rằng các thiên trong “Lễ Ký” đều là do môn đệ của Khổng Tử ghi chép lại. Trong phần lời tựa của “Đại Học” có chép: “Kinh có một chương, là lời của Khổng Tử, mà Tăng Tử là người thuật lại. Mười chương truyện trong đó, là ý của Tăng Tử, được môn nhân ghi chép lại”. Sách “Sử Ký – Khổng Tử Thế Gia” chép: “Sau khi trải qua việc bị vây khốn ở nước Tống, Tử Tư (tức Tăng Tử) sáng tác ra Trung Dung”. Về sau, người đời mới có thuyết cho rằng “Đại Học” và “Trung Dung” đều xuất phát từ Tăng Tử.
Đến thời Bắc Tống, dưới triều vua Tống Nhân Tông, tiến sĩ Vương Củng Thần đỗ vị trí đứng đầu trong kỳ thi đình. Nhân Tông rất mực quý trọng ông, đích thân ngự bút chép lại thiên Đại Học trong “Lễ Ký” để ban thưởng cho ông. Từ đó trở đi, cứ mỗi kỳ thi ba năm một lần, hễ ai đỗ tiến sĩ đều theo lệ thỉnh cầu hoàng thượng ngự bút đóng ấn để ban tặng một cuốn Đại Học hoặc Trung Dung. Giới sĩ đại phu trong xã hội, và các thầy giáo truyền dạy, môn sinh theo học Nho gia, cũng noi theo lệ ấy, thường viết và tặng nhau cuốn Đại Học, Trung Dung để khích lệ nhau cùng cố gắng. Kể từ đó, Đại Học và Trung Dung mới thoát ly khỏi “Lễ Ký” mà lưu truyền độc lập, dần dần trở thành thông lệ.
Trường phái Lạc học của hai anh em họ Trình là Trình Di và Trình Hạo đều hết mực tôn sùng “Đại Học” và “Trung Dung”. Họ cho rằng “Đại Học” là “cánh cửa dẫn vào đạo đức” cho người mới học; nếu không bắt đầu từ Đại Học thì chưa đủ để nói đến con đường đại đạo xuyên suốt là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đồng thời, họ cũng coi “Trung Dung” là “tâm pháp của Nho gia”, nếu không lấy “Trung Dung” làm yếu lĩnh thì cũng không đủ để thấu hiểu sâu sắc đạo lý chính thống và con đường chân chính của thánh hiền trong thiên hạ. Tương truyền thứ tự văn tự của thiên Đại Học trong bản Lễ Ký cổ so với bản lưu truyền hiện nay có sự bất đồng, chính là do Trình Tử đã hiệu đính lại và lần đầu sắp xếp thành dạng chương cú. Còn chương cú của “Trung Dung” thì do Chu Hy biên tập mà thành.
Học trò chân truyền đời thứ hai của Trình môn là Chu Hy, người huyện Vụ Nguyên, từng phục vụ qua bốn triều vua Nam Tống, giảng dạy tại Khảo Đình. Ông đã hợp nhất bốn cuốn “Đại Học”, “Trung Dung”, “Luận Ngữ”, “Mạnh Tử”, đồng thời biên soạn chú giải cho từng cuốn. Từ đó, bốn sách này được lưu truyền rộng rãi khắp thiên hạ, gọi chung là “Tứ Tử Thư” hay “Tứ Thư”. Giới sĩ phu thời ấy rất tôn sùng, thiên hạ không ai không noi theo, người người đều học Tứ Thư. Đến thời nhà Minh, khoa cử còn quy định rõ ràng phải căn cứ theo Tứ Thư do Chu Hy chú giải. Trong suốt 400 năm thời Minh Thanh, tại các trường dạy tư thục nơi thôn dã, trẻ em mới học chữ tuy chưa hiểu gì cũng đều phải học thuộc lòng Tứ Thư. Các thế hệ giới sĩ phu cũng nhờ vào việc này mà có nhiều người từ đó hiểu sâu, thông suốt, thấm nhuần được đạo lý chính thống của Nho học, thời nào cũng có, đâu đâu cũng thấy.
Nội dung của Đại Học
Trong phần lời tựa của Đại Học, Chu Hy viết: “Đại Học là phép dạy người của trường thái học thời xưa”. Lại nói: “Đại Học là học vấn của bậc đại nhân”. Vương Phu Chi đời Thanh thì nói: “Mười lăm tuổi vào Đại Học, là để học đạo lý ‘nội thánh ngoại vương’”. Từ đó, Đại Học được đặt đối lập với Tiểu Học. Phàm những học vấn liên quan đến đạo lý “nội thánh ngoại vương”, học vấn thiên nhân hợp nhất, học vấn của bậc thánh hiền, học vấn minh đức, tu thân, trị quốc, bình thiên hạ, đều được gọi là Đại Học; Phàm những môn học như văn chương thông thường, khảo cứu từ ngữ, chú giải văn bản, học vấn về kỹ nghệ, học thuộc lòng, học về ngôn ngữ, văn tự, chữ nghĩa, thì đều được xếp vào Tiểu Học. Người Tống coi trọng nghĩa lý, nên học phái thời Tống được gọi là “Lý học”; người Hán coi trọng chú giải và ngôn từ, nên học phái thời Hán còn được gọi là Tiểu Học hoặc Phác Học. Tất cả đều phát xuất từ sự phân biệt danh xưng của Đại Học.
“Đại Học” đề ra thuyết Tam Cương, Bát Mục. Các phần được sắp xếp theo trình tự rõ ràng, từ nông cạn đến thâm sâu, huyết mạch quán thông, văn chương và nghĩa lý kết hợp chặt chẽ. Tam Cương chính là cốt lõi của đạo Đại Học, gồm:
Tại minh minh đức – tức là hoằng dương đức tính chí thiện. Đức tính chí thiện này vốn nằm trong thiên tính và lương tri, vì thế, trong sách “Kinh Thư – Khang Cáo” viết: “Làm đức hạnh tỏa sáng”; Thái Giáp nói: “Suy xét kỹ mệnh trời sáng tỏ”; Đế Điển viết: “Làm đức hạnh cao thượng tỏa sáng”. Tức là phải từ nội tâm giác ngộ đức tính sáng vốn có, rồi từ đó phát dương quang đại, thi hành ra bên ngoài. Đây chính là bước đầu tiên của nội thánh ngoại vương. Nhấn mạnh vào việc tự mình sáng tỏ đức hạnh mà khiến người khác cũng sáng tỏ.
“Tại tân dân” – tức là mang hàm ý “cách cố đỉnh tân” (thay cũ đổi mới). “Kinh Dịch – Tự Quái” nói: “Cách, là bỏ đi cái cũ; Đỉnh, là giữ lấy cái mới”. Không loại bỏ cái cũ hủ bại, thì không đủ để đổi mới mỗi ngày. Vì vậy, cũng trích dẫn từ “Kinh Thư – Bàn Minh” viết: “Ngày ngày đổi mới, mỗi ngày đều mới, lại thêm một ngày đổi mới nữa”. Khang Cáo viết: “Làm cho dân mới”. Đạo đức nếu mỗi ngày đều có bước tiến mới, rồi từ bản thân mở rộng ra người khác, thì mới bắt đầu có được khí tượng hưng thịnh, tràn đầy sức sống. Có như vậy, quốc gia và người dân mới có thể tiến xa ngàn dặm mỗi ngày, không có giới hạn. Bởi thế, dẫn lời trong “Thi Kinh” nói: “Chu tuy là nước xưa, nhưng mệnh của nó luôn đổi mới”. Đây là bước thứ hai của nội thánh ngoại vương. Nhấn mạnh vào việc “tự đổi mới mình”, rồi “giúp người khác đổi mới”.
Tại chỉ vu chí thiện – tức là đạt đến cảnh giới siêu quần nhất, hoàn mỹ nhất. Người làm vua thì dừng ở nhân (lòng nhân ái), người làm bề tôi thì dừng ở kính (sự kính trọng), người làm con thì dừng ở hiếu, người làm cha thì dừng ở từ (từ ái), giao tiếp với người trong đất nước thì dừng ở tín (sự thành tín). Mà từ đó người quân tử thì quý trọng hiền đức và tình thân của mình; kẻ tiểu nhân thì hưởng niềm vui theo đuổi lợi ích của mình. Khi đó, vạn dân trong thiên hạ đều đắc được thứ mình muốn, an vui sống cuộc sống của mình, vui vẻ với những gì mình có. Đây chính là bước thứ ba của nội thánh ngoại vương, nhấn mạnh vào việc “tự mình đạt được trạng thái tối thiện” rồi sau đó mới có thể “khiến cho thiên hạ đều thiện”.
Còn về Bát Mục là trình tự và các điểm then chốt trên con đường “thành tựu bản thân rồi thành tựu sự vật”, “tu dưỡng bản thân mà khiến người an”, “nội thánh mà ngoại vương”. Gọi là biết dừng rồi sau đó mới có định, định rồi mới có thể tĩnh, tĩnh rồi mới có thể an, an rồi mới có thể hư, hư rồi mới có thể đắc. Mọi sự vật đều có gốc có ngọn, công việc có đầu có cuối, hiểu được thứ tự trước sau, thì đã gần với Đạo rồi. Từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng lấy tu thân làm căn bản. Bát Mục chính là: cách vật (xét đến ngọn ngành sự vật), trí tri (đạt đến sự hiểu biết), thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Từ đó cũng có thể thấy, việc tu dưỡng của Nho gia không phải là để rời xa thế tục, không phải vì ích kỷ cá nhân, không phải là điều hư vô, không phải là huyền bí khó hiểu, cũng không phải chỉ chăm lo cho riêng mình; mục tiêu cuối cùng là để trị quốc bình thiên hạ. Khiến cho trong toàn cõi vũ trụ, khắp bốn biển trong thiên hạ, không nơi nào không được cai trị bằng vương đạo nhân nghĩa, đạt tới sự thái bình thịnh trị (hoàn mỹ đến cực điểm), cùng nhau hưởng an hòa, vui vẻ, từ đó tiến tới đại đồng. Và vì điều đó thì dù có hy sinh thân mình để giữ trọn đạo nghĩa thì cũng không có gì tiếc cả.
Nội dung của Trung Dung
◎ Sách “Kinh Thư – Đại Vũ Mưu” có viết: “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung” (Nhân tâm thật dễ dao động, Đạo tâm lại rất vi diệu; chỉ có giữ được sự chuyên nhất thì mới có thể giữ vững được đạo trung). Trung Dung chính là phát triển từ ý này, nên có câu: “Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung vu dân”. Ý là không lệch về bên nào, không thừa cũng không thiếu, mới là lẽ thường và đạo chính. Trình Minh Đạo nói: “Không lệch gọi là trung, không đổi gọi là dung. Trung là chính đạo của thiên hạ, dung là chính lý của thiên hạ”. Ý nghĩa chính là như vậy. Đạo lý chính thống của Nho gia không theo đuổi sự mới mẻ khác thường để chạy tới cực đoan; cũng không cho phép trái với lý lẽ thường tình, dẫn tới thái quá hoặc quái dị. Lấy sự bình dị, dễ hiểu nên được phổ cập và thực hành rộng rãi; lấy sự trung hòa nên mới có thể vĩnh hằng không thay đổi. Đây chính là tâm pháp của đạo lý chính thống Nho gia, là con đường tu dưỡng đạo đức suốt đời.
◎ Chu Hy phân chia Trung Dung thành 33 chương, chương đầu bắt đầu bằng câu “Thiên mệnh chi vị tính” (Mệnh trời gọi là bản tính). Thiên đạo ẩn chứa trong bản tính con người, thiên lý tồn tại trong nhân đạo, nên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người quân tử giữ gìn tâm tính và tu thân, phải cảnh giác với những điều không thấy được, sợ hãi những điều không nghe được. Những thứ nhỏ bé ẩn giấu không thấy nhưng lại dễ hiện lộ, vì thế chủ trương người quân tử phải thận trọng khi ở một mình, bắt đầu từ sự nhất quán giữa lời nói và hành động, trong ngoài như một, tuyệt không giả dối, không giả tạo hoặc làm bộ. Nếu không sẽ là tự dối mình lừa người, bởi vì tâm này không thể giấu giếm, thiên lý lương tri không thể bị lừa dối!
◎ Trung Dung bắt đầu từ việc tu dưỡng bản thân, nói rằng: “Khi chưa phát ra hỷ, nộ, ai, lạc thì gọi là Trung; khi phát ra mà đều đúng mực thì gọi là Hòa. Trung là gốc lớn của thiên hạ, Hòa là đạo thông đạt của thiên hạ. Đạt được Trung Hòa thì trời đất có chỗ đứng, vạn vật được nuôi dưỡng”. Trung Dung còn phân biệt rõ ràng giữa quân tử và tiểu nhân, nói rằng: “Quân tử thì trung dung, tiểu nhân thì làm ngược lại với trung dung”. Rồi từ đó mở rộng đến việc thực hành đạo, còn nói thêm: “Biết cách tu thân thì sẽ biết cách trị người, biết cách trị người thì sẽ biết cách trị thiên hạ và quốc gia”.
◎ Tu thân nằm ở ba điều: “Ham học, cố gắng thực hành, biết xấu hổ”, không được thừa cũng không được thiếu. Trung Dung cho rằng, đại đạo không sáng tỏ và không được thực hành đều do sai lệch về mức độ quá nhiều hay quá ít. Khi lập thân xử thế, làm người và làm các việc, đều phải cố gắng giữ vững đạo trung dung. Phải có lập trường, có nguyên tắc, có thủy có chung; như vậy mới có thể tự lập tự cường. Dù có biến loạn thì vẫn không bị lay động, nên mới nói: “Quân tử hòa mà không xuôi theo dòng, mạnh mẽ bất khuất thay (mạnh mẽ quá nên dễ bị người khác uốn nắn); đứng vững mà không nghiêng ngả, mạnh mẽ bất khuất thay; quốc gia có đạo, kiên trì lập trường không thay đổi, mạnh mẽ bất khuất thay; quốc gia vô đạo, đến chết cũng không thay đổi, mạnh mẽ bất khuất thay”.
◎ Trung Dung cho rằng thiên hạ có năm đạo đức phổ quát là: quân thần, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Đây chính là ngũ luân mà người đời vẫn hay gọi.
Còn để thực hành được (năm mối quan hệ lớn ấy) thì có ba điều: chính là ba đức tính phổ quát là trí, nhân, dũng, ham học thì gần với trí, nỗ lực hành động thì gần với nhân, biết xấu hổ thì gần với dũng. Cái gọi là: có người sinh ra đã biết, có người học rồi mới biết, có người lâm vào khó khăn rồi mới biết, thì đều là biết giống nhau cả. Có người hành động một cách tự nhiên, có người hành động vì lợi ích, có người hành động do nỗ lực gắng sức, nhưng khi đã thành công thì cũng như nhau.
Còn để trị thiên hạ và quốc gia thì có chín điều cốt yếu: tu thân, tôn trọng hiền tài, thân ái với người thân, kính trọng đại thần, thấu hiểu quần thần, yêu thương người dân, thu hút thợ thuyền, mềm mỏng với người phương xa, giữ vững chư hầu, tất cả đều có cùng một cách thực hành. Về mặt hành sự, mọi việc nếu chuẩn bị trước thì sẽ thành, không chuẩn bị thì sẽ hỏng. Về mặt nội tâm, chân thành là đạo của trời; biết giữ lòng thành chính là đạo của người. Chọn điều thiện rồi giữ vững nó, học rộng, xét kỹ, suy nghĩ cẩn thận, phân biệt sáng suốt, và thực hành kiên định, tất cả đều là phần việc con người nên làm và cũng là công phu của người có lòng thành. Do đó có câu: “Thành là điểm khởi đầu và kết thúc của vạn vật; không có thành thì không có gì tồn tại”.
Từ một niệm thành tín ấy, trên hợp với thiên lý, dưới hợp với nhân luân, cho nên cuối cùng tổng kết rằng: “Chỉ có tấm lòng chân thành tuyệt đối trong thiên hạ mới có thể điều hành cai quản thiên hạ, thiết lập nền tảng lớn của thiên hạ, và hiểu được sự sinh hóa của trời đất”. Và đến chỗ “đức nhân thầm lặng mà sâu thẳm như vực sâu, rộng lớn như trời”, tức là đã hòa hợp đạo trời với đức người thành một, trời và người tương thông hợp nhất rồi!
Kết luận
“Đại Học” và “Trung Dung” không chỉ là nền tảng nhập môn cho người bắt đầu theo học Nho gia, mà còn là chuẩn mực suốt đời của người quân tử, đồng thời là nơi gửi gắm tinh thần cốt lõi và tôn chỉ trung tâm của Nho gia. Đại Học bắt đầu bằng minh đức (làm sáng tỏ đức hạnh); tân dân là sự thực hành của minh đức; chỉ vu chí thiện (đạt đến thiện tối cao) là mục đích của minh đức; trong Bát Mục, có “Cách vật,” “Trí tri,” “Thành ý,” “Chính tâm” là quá trình của minh đức; còn “Tu thân,” “Tề gia,” “Trị quốc,” “Bình thiên hạ” là ứng dụng thực tiễn của minh đức. Do đó, tôn chỉ của Đại Học nằm ở minh đức, vừa sáng tỏ vừa rõ ràng.
Còn “Trung Dung” lấy thành tín cao nhất làm kinh, không thiên lệch, xuyên suốt các chương, bởi chỉ có thành tín thì mới biết được mệnh trời, dẫn dắt thiên tính, tận sức làm việc của người, coi trọng nhân luân. Từ ngũ luân và tam đức mà phát triển thành chín điều cai trị thiên hạ quốc gia. Cuối cùng đạt đến bậc chí thánh và chí thành của thiên hạ, có thể hợp nhất đạo trời và đạo người làm một. “Chân thành” là đạo của Trời, thực hành điều chân thành là đạo của người. Lấy sự chí thành làm gốc, hành xử theo đạo trung dung.
Không có gì ngạc nhiên khi Trình Tử xem “Đại Học” là học vấn nhập môn; còn người học lấy “Trung Dung” làm tâm pháp chính thống của Nho gia. Từ đó có thể thấy, văn hóa Trung Hoa rực rỡ lấp lánh, tỏa sáng khắp bốn biển, vạn cổ vẫn luôn mới mẻ, chí thánh vô cực, sẽ lưu truyền vạn thế bất diệt, bởi vì đó là do Thần truyền lại!
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/70688