Tác giả: Đệ tử Đại Pháp Đại Lục
[ChanhKien.org]
Trong bài “Lịch sử đích giáo huấn” trong “Hồng Ngâm IV”, Sư phụ giảng:
“Lịch sử thị lưu cấp nhân đích trí tuệ trân quý vô tỷ”
Diễn nghĩa:
“Lịch sử lưu lại cho con người trí huệ vô cùng trân quý”
Sư phụ đã tỉ mỉ an bài nên vở kịch đặc sắc của văn hóa năm nghìn năm. Đồng thời Ngài đã chuyển sinh qua các thời đại, hóa thân thành những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ, như thánh hoàng, chân nhân, danh tướng, chiến thần, thi tiên,… để lột tả một cách chân thực nội hàm bên trong. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về “tâm đại nhẫn” được thể hiện qua nhân vật Hàn Tín.
Tôi đã vô cùng chấn động khi đọc loạt bài “Binh tiên chiến thần Hàn Tín” trong tuyển tập “Nhân vật anh hùng thiên cổ trong văn hóa Thần truyền 5000 năm huy hoàng” của tờ báo The Epoch Times. Trước đó khi học Chuyển Pháp Luân, tôi chỉ mơ hồ biết rằng Hàn Tín là bậc lương đống của quốc gia, ông có thể chịu được nỗi nhục chui háng, sau khi tìm hiểu về cuộc đời của Hàn Tín tôi mới biết được rằng, sức chịu đựng và tâm đại nhẫn mà ông đã triển hiện cho hậu thế còn mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì mọi người thường biết.
Tôi cho rằng, câu chuyện của Hàn Tín có thể trở thành đối chiếu cho việc tu “nhẫn” của các đệ tử Đại Pháp, trong đó cũng bao hàm sự khổ tâm chịu đựng của Sư phụ khi cứu độ chúng ta và chúng sinh. Tâm đại nhẫn là điều kiện không thể thiếu đối với người đại căn khí. Các đồng tu có thể thử nghĩ, nếu bản thân gặp phải sự việc như của Hàn Tín, liệu chúng ta có thể nhẫn chịu không, và chúng ta sẽ đối đãi như thế nào, điều này có thể giúp chúng ta tìm ra chỗ sai biệt về phương diện tâm tính.
Hàn Tín – Đại anh hùng vô song cái thế, trước khi trở thành vị tướng đã trải qua nhiều ma nạn
Hàn Tín là người đã đặt nền móng cho sự cai trị thiên hạ kéo dài hàng trăm năm của Đại Hán, đồng thời chấm dứt cục diện hỗn loạn khi các quần hùng tranh giành quyền lực vào cuối thời nhà Tần, ông là người sở hữu công đức vô song cái thế.
Trong bài viết đăng trên báo The Epoch Times có ghi chép rằng, thời niên thiếu Hàn Tín và mẹ sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của hai mẹ con rất nghèo khó. Mẹ Hàn Tín qua đời vào năm ông mười lăm mười sáu tuổi, cuộc sống của ông khi đó càng trở nên nghèo túng và gian khổ, Hàn Tín thường xuyên không có cơm để ăn và phải đi xin ăn, ông phải chịu đựng đủ sự khinh miệt và sỉ nhục của người khác.
Vì trong nhà cất giữ binh thư và bảo kiếm, nên Hàn Tín từ nhỏ đã có cơ hội nghiên cứu binh pháp và được hưởng nền giáo dục tốt. Ngay từ thời niên thiếu, ông đã ham đọc sách và ôm chí lớn.
Sau khi Hàn Tín trưởng thành, ông trở thành cận vệ thân tín bên cạnh Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ tự phụ, không coi trọng những kiến nghị của Hàn Tín. Nhận thấy hoài bão của mình không có cơ hội được thực hiện, Hàn Tín bèn âm thầm rời bỏ Hạng Vũ, sau đó gia nhập đội ngũ của Lưu Bang. Thế nhưng, chức vụ mà Hàn Tín được phong khi ấy lại thấp bé đến mức sử sách không ghi chép cụ thể ông đảm nhận công việc gì. Trong lúc lòng đầy buồn bã và thất vọng, ông lại phạm quân pháp, suýt chút nữa bị xử tử. Hạ Hầu Anh bị thuyết phục bởi lòng can đảm và tầm nhìn của Hàn Tín, nên đã tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang. Nhưng Lưu Bang từ chối gặp mặt, chỉ giao cho ông nhiệm vụ quản lý lương thực và quân nhu.
Sau một đoạn thời gian, Hàn Tín lại thất vọng và lặng lẽ rời khỏi Hán Doanh. Thừa tướng Tiêu Hà sau khi biết chuyện, ông không kịp xin chỉ thị của Lưu Bang, mà lập tức phi ngựa đuổi theo Hàn Tín dưới ánh trăng để đưa ông trở về. Lưu Bang khi đó mới phong cho Hàn Tín làm đại tướng quân. Trước khi Hàn Tín trở thành tướng quân, ông đã trải qua vô số ma nạn mà người thường khó có thể gặp phải.
Sau đó, binh tiên chiến thần Hàn Tín đã chỉ huy đại quân “chiến tất thắng, công tất thủ”, sức mạnh của ông có thể xoay chuyển tình thế, ông dùng binh như Thần, trơn tru liền mạch, tựa như những tác phẩm tuyệt mỹ mang tầm vóc sử thi, được tạo nên một cách tự nhiên. Trong vòng năm năm, ông đã càn quét các nước chư hầu khắp thiên hạ, thống nhất Trung Nguyên. Sự siêu phàm của Hàn Tín lớn đến mức, ngay cả khi Hạng Vũ cuối cùng thất bại, ông vẫn không làm tổn hại đến uy danh của một Bá vương lẫy lừng thiên cổ.
Bị tiểu nhân Lưu Bang chèn ép khắp nơi, nhưng Hàn Tín luôn lấy đức báo oán
Bài viết đăng trên báo The Epoch Times đã chỉ ra rằng, Hàn Tín là vị cứu tinh duy nhất của Lưu Bang, trong số các võ tướng khác của Lưu Bang đều không có nhân tài, chỉ là một đội quân hỗn tạp, khi đấu với Hạng Vũ thì đều bách chiến bách bại. Hàn Tín biết rằng, Lưu Bang là Hoàng đế mà ông Trời đã sắp đặt, vì vậy, ông đã một lòng trung thành chiến đấu vì thiên hạ. Nhưng Lưu Bang lại là một kẻ tiểu nhân vô liêm sỉ hiếm thấy trong lịch sử.
Sau khi Hàn Tín đánh chiếm được căn cứ ở Quan Trung cho Lưu Bang, Lưu Bang liền tước bỏ quyền cầm binh của Hàn Tín, sau đó tự mình dẫn quân và bị đánh bại thảm hại dưới tay Hạng Vũ, gần như xóa sạch thành quả mà Hàn Tín đã giành được. Các nước chư hầu cũng liên tục phản chiến, hình thế thay đổi đột ngột. Hàn Tín nhận nhiệm vụ lúc lâm nguy, ông lập tức phản công một cách quyết đoán, chấn chỉnh quân Hán, giúp Lưu Bang chuyển nguy thành an.
Nhưng sau này Ngụy Vương Báo tạo phản, liên hợp với Hạng Vũ lên kế hoạch tấn công Lưu Bang từ hai phía. Lưu Bang không còn cách nào khác, đành phải tái bổ nhiệm Hàn Tín. Sau khi Hàn Tín bình định được toàn bộ lãnh địa của nước Ngụy, Lưu Bang lập tức phái người điều đi toàn bộ tinh binh của nước Ngụy bị bắt cùng một lượng lớn vật tư thu được, nhằm ức chế thực lực của Hàn Tín.
Sau đó, Hàn Tín chủ động xin đi đánh trận lên phía Bắc, Lưu Bang lại phái Trương Nhĩ làm trợ thủ để theo dõi cử động của Hàn Tín. Hàn Tín liên tiếp giành được thắng lợi ở phía Bắc, Lưu Bang lại bị Hạng Vũ đánh phá thành trì, sau đó bỏ chạy thảm hại đến căn cứ địa tu võ của Hàn Tín. Lưu Bang hiểu rõ rằng, chính là nhờ Hàn Tín đã ra sức chống đỡ tình thế nguy nan, nên ông mới có thể hết lần này đến lần khác bình an từ cõi chết trở về. Nhưng Lưu Bang xảo quyệt nhân lúc Hàn Tín đang ngủ say, đã lén đi vào trong lều vải của Hàn Tín và trộm lấy binh phù.
Hàn Tín vẫn không hề dao động, ông vẫn giữ nguyên lòng trung thành đối với Lưu Bang. Ông lập tức chiêu binh mãi mã, bắt đầu tổ chức lại một đội quân mới từ con số không, và chuẩn bị để tấn công nước Tề. Lưu Bang lại điều Tào Tham và Quán Anh đến, lấy danh nghĩa hiệp trợ để theo dõi Hàn Tín.
Lưu Bang dùng mưu kế, một mặt lệnh cho Lệ Thực Kỳ dùng lời lẽ thuyết phục nước Tề đầu hàng, mặt khác lại lệnh cho Hàn Tín tiến đánh nước Tề, Hàn Tín cho dù đánh hay không cũng đều trái với ý chỉ của Lưu Bang. Kết quả là, Hàn Tín đại phá quân Tề, còn Lệ Thực Kỳ lại bị Tề vương xử tử, trở thành điểm yếu để Lưu Bang và vợ ông nắm thóp về sau.
Mỗi khi lâm vào bước đường cùng, Lưu Bang không còn cách nào khác mới dùng đến Hàn Tín, nhưng khi tình thế chuyển biến tốt hơn một chút thì ông liền tước bỏ binh quyền và hạn chế sự phát triển của Hàn Tín. Hàn Tín có con mắt tinh tường, đương nhiên hiểu rõ tâm cơ của Lưu Bang, nhưng ông luôn lấy đức báo oán.
Hạng Vũ từng lệnh cho Ngô Xá – đồng hương của Hàn Tín, liệt kê cho Hàn Tín biết về lòng tham không đáy, sự thất tín bội nghĩa, lật mặt vô tình và hành động lấy oán báo đức của Lưu Bang, thuyết phục Hàn Tín tự xưng Vương. Hàn Tín lại biểu thị tấm lòng trung thành “dù chết cũng không thay đổi” của mình. Thân tín của Hàn Tín là Khoái Triệt, cũng không thể chịu đựng được, ông đã liều mạng để khuyên Hàn Tín ruồng bỏ Lưu Bang, để tránh việc sau này chịu cảnh “công thành thân vong”. Hàn Tín lại nói rằng, vương của nhà Hán là Lưu Bang, là người đã ban ơn cho ông, nên ông không thể vì tư lợi mà thất tín bội nghĩa được.
Vợ chồng Lưu Bang vu cáo Hàn Tín mưu phản, tru di tam tộc và bôi nhọ thanh danh của Hàn Tín
Không lâu sau khi Lưu Bang lên ngôi, ông liền dụ Hàn Tín đến Trần Địa, Hà Nam để bắt cóc Hàn Tín, vu khống cho Hàn Tín tội mưu phản trước mặt dân chúng. Vì không có chứng cứ “mưu phản”, trước tiên Lưu Bang đã giáng Hàn Tín xuống làm Hoài Âm Hầu và bị quản thúc tại đất khách quê người, và không thể thống lĩnh quân đội.
Hàn Tín biết rõ rằng, Lưu Bang đang kiêng dè với công lao của mình, nên ông thường xuyên viện cớ bị bệnh không ra ngoài, hành sự thì khiêm cung nhẫn nhịn, có thời gian thì chỉnh lý binh pháp.
Lưu Bang đương nhiên hiểu rõ rằng Hàn Tín không có mưu đồ tạo phản, nhưng ông vẫn không muốn buông tha cho Hàn Tín, ông ta e dè Hàn Tín công lao cái thế, hành vi đoan chính, nếu xứ trí vội vàng sẽ khiến quần thần chán nản, thiên hạ bất mãn.
Vợ của Lưu Bang là Lã Hoàng hậu, bà là người phụ nữ độc ác và nham hiểm. Hàn Tín từng là ân nhân cứu mạng bà. Nhưng Lã hậu đã phớt lờ điều này, bà đã làm quá chức phận của mình và mua chuộc môn đồ của Hàn Tín để vu cáo ông tội “mưu phản”. Lã hậu đã dụ Hàn Tín đến cung Trường Lạc, các võ sĩ đã phục kích sẵn liền lao tới và bắt được ông. Lã hậu ngồi trên đại điện tỏ rõ thái độ nghiêm nghị, chỉ trích Hàn Tín có ý muốn hãm hại bà và Thái tử. Bà không cho Hàn Tín bất cứ cơ hội nào để biện bạch, sau đó liền bắt ông đến phòng Chuông Treo tại cung Trường Lạc để xử tử. Khi Hàn Tín bị bắt cóc, ông đã gọi lớn tên của Tiêu Hà, người bạn đã từng là tri kỷ này cũng không thấy bóng dáng đâu.
Lã Hoàng hậu vẫn chưa bằng lòng với việc giết Hàn Tín, bà còn hạ lệnh diệt ba đời phụ mẫu và thê tử của Hàn Tín. Trong bài viết còn tái hiện tình cảnh lúc bấy giờ: Khi đó tháng giêng mùa đông giá rét, tuyết lớn mênh mông che phủ bầu trời, mấy ngàn người vô tội, máu nhuộm Trường An, âm thanh gào khóc đi kèm với tiếng gió rít của gió bắc lạnh thấu xương phiêu đãng khắp trên bầu trời Trường An. Người dân khắp thành Trường An đều than khóc, không ai không cảm thấy bi thương.
Vì để tránh bị hậu thế chê trách, Lưu Bang phu phụ liền bịa đặt tài liệu giả, đem cái chết của Lệ Thực Kỳ và Chung Ly Muội đổ lên đầu Hàn Tín, và đem những điều đó ghi vào hồ sơ chính thức và trong sử sách, nhằm che đậy chân tướng lịch sử. Trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên cũng cho thêm tin đồn bịa đặt về Hàn Tín.
“Thà để người trong thiên hạ phụ ta, chứ ta quyết không phụ người trong thiên hạ”
Lòng trung thành của Hàn Tín đối với Lưu Bang là vấn đề gây nhiều tranh luận trong mắt người đời. Bài viết đăng trên báo The Epoch Times đã chỉ ra rằng: “Rất nhiều người không thể lý giải được tấm lòng “Thà để người trong thiên hạ phụ ta, chứ ta quyết không phụ người trong thiên hạ” của Hàn Tín, cho rằng hành vi xem nhẹ sinh tử và coi trọng chữ tín của ông là ‘ngu muội’, đời sau cũng có người nói rằng, tài năng có một không hai của Hàn Tín chỉ thể hiện ở phương diện quân sự, còn ở phương diện chính trị, ông là đối thủ kém xa so với Lưu Bang. Trên thực tế, những chiến thắng của Hàn Tín trên chiến trường không dựa vào quân đông tướng mạnh, mà thường là trong tình thế tuyệt vọng hoặc ở thế yếu, ông vẫn giành chiến thắng nhờ mưu trí phi phàm. Mưu trí như vậy không chỉ đòi hỏi khả năng nhìn nhận, thấu hiểu mọi việc một cách tinh tế và tỉ mỉ, cùng với sự phán đoán chính xác để nắm bắt thời thế, mà còn cần cả sự quyết đoán và khí phách vượt xa người thường. Trí huệ như vậy, nếu được dùng ở đâu thì cũng sẽ không có ai đối đầu lại được. Nhưng Hàn Tín đã không làm như vậy!”
Kỳ thực, chỉ cần dựa vào trí tuệ, lòng dũng cảm và sự mưu lược siêu phàm xuất thánh, cùng với quân đội trong tay, Hàn Tín nhiều lần hoàn toàn có thể phế truất Lưu Bang và tự xưng Vương, nhưng từ đầu đến cuối ông đã không làm như vậy. Nếu không có Hàn Tín, Lưu Bang sẽ không bao giờ có được thiên hạ. Hàn Tín một lòng trung thành tuyệt đối với Lưu Bang, nhưng kết quả cuối cùng lại bị diệt tộc một cách nhẫn tâm, rồi nhận lấy cái chết thật oan uổng biết bao!
Sau khi đọc xong loạt bài viết này tôi mới biết rằng, cả cuộc đời Hàn Tín đều phải nhẫn nhục để gánh vác trách nhiệm nặng nề. Thời niên thiếu, ông phải chịu đựng nỗi khổ vì nghèo túng và sự khinh miệt của người đời, rồi đến nỗi đau mất mẹ, cùng nỗi nhục chui háng do một tên vô lại gây ra. Khi trưởng thành, ông trở thành một vị anh hùng đương thời, nhưng ông lại không chấp nhặt với kẻ tiểu nhân Lưu Bang, người đã luôn tìm cách chèn ép mình, những điều ông phải chịu đựng còn gian nan và khắc nghiệt hơn nhiều. Thời niên thiếu, Hàn Tín từng là một người bình thường, nhưng ông không tu Đạo mà đã ở trong Đạo. Đến giai đoạn cuối đời, ông đã vô tình tu luyện đến một cảnh giới cực kỳ cao thâm mà bản thân ông cũng không nhận ra.
Châm ngôn “Thà để người trong thiên hạ phụ ta, chứ ta quyết không phụ người trong thiên hạ” của Hàn Tín, chính là làm bất cứ việc gì cũng không vì bản thân, có thể xả tận hết thảy mọi thứ của bản thân để báo ân và hoàn thành sứ mệnh. Có thể nói, vào thời bấy giờ, ông đã đứng ở vị trí cao xứ bất thắng hàn.
Hàn Tín — một vị binh tiên chiến thần nghìn năm khó gặp — lại gặp phải vợ chồng Lưu Bang, những kẻ tiểu nhân nghìn năm khó gặp, qua đó đã thể hiện ra nội hàm sâu sắc của “tâm đại nhẫn” và “nhẫn nhục để gánh vác trọng trách”.
Thông qua cảnh ngộ của Hàn Tín, đối chiếu với tâm tính của bản thân
Thông qua câu chuyện về Hàn Tín, tôi nhìn thấy tâm tranh đấu của bản thân, thiếu mất cảnh giới của tâm đại nhẫn và nhẫn nhục để gánh vác trọng trách, bao gồm một số đồng tu thường thích tranh luận đúng sai, phẫn nộ bất bình, dùng ánh mắt hoài nghi để nhìn đồng tu, nói xấu sau lưng, quen thói tỏ ra bất mãn,… các loại biểu hiện của hành vi hướng ngoại nhìn và hướng ngoại cầu, những điều này quả thực sai kém quá xa so với Hàn Tín.
Không bị lay động là bởi vì bản thân không ở trong hoàn cảnh ấy. Khi Hàn Tín dẫn binh, mỗi lần bị Lưu Bang chèn ép hoặc làm nhục, ông hoàn toàn có khả năng hạ gục Lưu Bang ngay lập tức, thậm chí giết Lưu Bang để giải hận; có thể tức giận mà không làm gì nữa; hoặc có thể cố tình phá hoại việc của Lưu Bang để trả thù, ông cũng có thể trút nỗi bất mãn lên người khác, hay rút ra bài học từ phía phản diện rồi cũng học theo Lưu Bang, trở nên xảo quyệt và vô liêm sỉ, nhưng Hàn Tín từ đầu chí cuối đều không làm như vậy, mà luôn kiên định với vị trí và bổn phận của mình.
Nhìn những bất công mà Hàn Tín đã phải chịu đựng suốt cả cuộc đời, một chút sự việc của bản thân tôi thì có đáng là gì? Còn gì vẫn chưa thể buông xuống được? Câu chuyện của Hàn Tín đã khích lệ tôi nhất định phải buông bỏ tự ngã, để không cô phụ sự khổ tâm cứu độ và sự gánh chịu của Sư phụ, tôi cần phải tu xuất ra tâm đại nhẫn rộng lớn và khoan dung hơn nữa.
Tái bút:
“Tiếng vượn đôi bờ kêu không dứt
Ngàn non thuyền nhẹ đã qua ngay”
Nghĩ về kho tàng văn hóa quý giá mà Sư phụ đã lưu lại trong lịch sử, tôi thường xúc động đến rơi lệ và cũng tăng thêm chính niệm. Nhiều trong số đó được khai sáng cho các đệ tử của Ngài, và tôi tin rằng đằng sau đó có lực lượng của Pháp. Trong vai phụ có lẽ cũng có tôi, đó cũng chính là vinh diệu của tôi. Viết đến đây, trong tâm tôi duy chỉ có lòng cảm ân vô hạn đối với Sư phụ.