Tác giả: Cổ Xuân Thu

Câu đối trước điện Gia Cát Lượng tại Đền Vũ Hầu Thành Đô: Năng công tâm tắc phản trắc tự tiêu, tòng cổ tri binh phi hảo chiến. Bất thẩm thế tức khoan nghiêm giai ngộ, hậu lai trị Thục yếu thâm tư. (Tư liệu công cộng)

Kể từ sau khi Lưu Bị phó thác con côi tại thành Bạch Đế, Gia Cát Lượng với cương vị Thừa tướng đã phò tá Hậu chủ Lưu Thiện của nhà Thục Hán, phụ trách những việc trọng đại về quân sự và quốc chính. Lưu Thiện nghiêm cẩn tuân theo di ngôn của cha, giao cho Thừa tướng Gia Cát Lượng quyết định mọi việc quân chính của Thục Hán, dù lớn hay nhỏ. Đối với Lưu Thiện, Gia Cát Lượng cũng giữ trọn lời hứa với Lưu Bị, thực sự làm được điều ông từng nói: “Dốc hết sức lực của bề tôi, giữ trọn tiết trung thành, cho đến chết mới thôi.” Nhờ vậy, nước Thục được trị vì rất tốt, chính sự ngày càng ổn định và hưng thịnh.

Nhân sĩ Ích Châu mong có minh quân

Trước khi Lưu Bị tiến vào Thục, vùng đất này do Lưu Chương cai quản. Lưu Chương, tự là Quý Ngọc, kế vị cha mình là Lưu Yên, trở thành Ích Châu mục. Tam Quốc Chí nhận xét rằng ông “thiếu sáng suốt và quyết đoán”, “tài năng không phải bậc hùng kiệt, lại sống vào thời loạn, gánh lấy trọng trách vượt quá khả năng, tự chuốc lấy giặc giã, đó là lẽ tự nhiên; việc bị người khác đoạt mất quyền cai trị không phải là điều bất hạnh oan uổng”. Trong “Long Trung đối sách”, Gia Cát Lượng cũng chỉ rõ: “Lưu Chương tối tăm, yếu đuối; Trương Lỗ ở phía Bắc; dân chúng giàu có, đất nước sung túc nhưng ông ta không biết chăm lo, thương xót. Những người có tài có trí đều mong tìm được một vị minh quân”.

Lưu Chương vừa không có đủ sức mạnh để kiềm chế các tướng lĩnh kiêu căng, phóng túng, vừa không có khả năng tuyển chọn và trọng dụng những nhân tài kiệt xuất. Những quan lại có tài dưới trướng ông như Trương Tùng, Pháp Chính đều lập kế hoạch nghênh đón Lưu Bị tiến vào Thục. Điều này đúng như Gia Cát Lượng đã nói trong “Long Trung đối sách”: “Những người có tài có trí ở Ích Châu đều mong tìm được một vị minh quân”.

Sau khi Lưu Bị chiếm được Ích Châu, cách ông sắp xếp và trọng dụng các thuộc hạ cũ của Lưu Chương rất được lòng người. “Tam Quốc Chí” ghi chép: “Đổng Hòa, Hoàng Quyền, Lý Nghiêm vốn là những người được Lưu Chương bổ nhiệm và trọng dụng; Ngô Ý, Phí Quan lại là những người có quan hệ thông gia với Lưu Chương; Bành Dạng vốn là người bị Lưu Chương gạt bỏ; Lưu Ba lại là người từ trước đến nay bị ông ta căm ghét. Thế nhưng tất cả đều được giao giữ những chức vụ quan trọng, phát huy hết tài năng của mình. Những người có chí hướng, không ai là không ra sức phấn đấu”.

Điều này có nghĩa là, dù trước đây là người được Lưu Chương trọng dụng, người thân cận, người bị ông ta ruồng bỏ, hay thậm chí là người ông ta căm ghét, Lưu Bị đều giao cho trọng trách, để mỗi người phát huy hết tài năng của mình. Những người có năng lực đều được khích lệ và có cơ hội cống hiến. Cách làm này không chỉ hóa giải những mâu thuẫn mà thời Lưu Chương không thể giải quyết, mà còn giúp nền tảng của Lưu Bị tại Ích Châu ngày càng vững chắc.

Trọng dụng nhân tài địa phương

Sau khi nắm quyền cai trị, Gia Cát Lượng đặc biệt chú trọng việc đề bạt và sử dụng những nhân tài bản địa ở Ích Châu. Trong “Tam Quốc Chí – Truyện Đỗ Vi” có ghi chép: “Năm Kiến Hưng thứ hai (năm 224), Thừa tướng Gia Cát Lượng kiêm chức Ích Châu mục, tuyển chọn và bổ nhiệm đều cẩn trọng, ưu tiên những người có đức hạnh và danh tiếng từ trước; lấy Tần Mật làm Biệt giá, Ngũ Lương làm Công tào, Đỗ Vi làm Chủ bạ”.

Tần Mật, tự là Tử Sắc, người huyện Miên Trúc, Quảng Hán (nay ở phía Bắc thành phố Đức Dương, tỉnh Tứ Xuyên), là người khá tài giỏi, có học vấn uyên bác và giỏi ăn nói, biện luận. Đỗ Vi là một người đã cao tuổi và bị điếc. Sau khi Lưu Bị bình định đất Thục, ông đóng cửa ở nhà, không ra ngoài làm việc. Sau khi Gia Cát Lượng nắm quyền, ông bổ nhiệm Đỗ Vi làm Chủ bạ Ích Châu. Đỗ Vi từ chối, nên Gia Cát Lượng sai xe đến tận nơi để đón ông. Sau khi hai người gặp mặt, Gia Cát Lượng đích thân viết liền hai bài văn để thuyết phục Đỗ Vi, mong ông có thể ra sức phò tá Hậu chủ. Vì Đỗ Vi tuổi đã cao, lại bị điếc, cuối cùng Gia Cát Lượng bổ nhiệm ông làm Gián nghị đại phu.

Theo ghi chép trong “Hoa Dương quốc chí”, sau khi Lưu Bị tiến vào đất Thục, ông tương đối coi trọng những người cũ từ Kinh Sở. Tuy nhiên, Gia Cát Lượng nhận thấy rằng để chính quyền Thục Hán có thể đứng vững tại Ích Châu thì nhất thiết phải tuyển dụng và trọng dụng nhân tài địa phương.

Qua những ghi chép trong các truyện thuộc “Thục chí”, có thể thấy các nhân tài bản địa Ích Châu như Trương Dực, Dương Hồng, Mã Trung, Vương Bình, Câu Phù, Trương Nghi, Lý Khôi đều được giao những chức vụ quan trọng, chỉ thấp hơn Thừa tướng và Đại tướng quân một bậc mà thôi. Vì vậy, người dân vùng phía tây đều khâm phục Gia Cát Lượng, cho rằng ông “có khả năng tận dụng tài năng của người đương thời”. Thục Hán chỉ dựa vào một vùng đất Ích Châu nhỏ bé mà có thể đối đầu với Tào Ngụy, trong đó làm tốt việc dùng người chắc chắn là một trong những nguyên nhân quan trọng. Từ thời Lưỡng Hán, nhân tài bản địa Ích Châu vẫn luôn chịu sự kỳ thị về mặt chính trị. Gia Cát Lượng thành tâm trọng dụng họ, nên họ đương nhiên vui lòng ủng hộ ông. Vì vậy, trong những năm Gia Cát Lượng liên tiếp tiến hành các cuộc Bắc phạt, trưng binh và huy động lương thực từ Ích Châu, không thấy các hào tộc địa phương nào đứng ra phản đối. Ở tiền tuyến quân sự, ông còn nhận được sự tích cực tham gia của họ.

Xem xét thời thế để thi hành chính sách, kết hợp hài hòa giữa đức trị và hình pháp

Tại đền Vũ Hầu ở Thành Đô có một câu đối được treo chính giữa điện thờ Gia Cát Lượng, do Triệu Phiên viết vào năm Quang Tự thứ 28 thời nhà Thanh (1902). Nội dung câu đối là: “Năng công tâm tắc phản trắc tự tiêu, tòng cổ tri binh phi hảo chiến; Bất thẩm thế tức khoan nghiêm giai ngộ, hậu lai trị Thục yếu thâm tư.” Tạm dịch là, biết thu phục lòng người thì sự phản trắc tự tiêu tan, từ xưa người giỏi dùng binh không phải vì hiếu chiến; Không xem xét thời thế thì khoan dung hay nghiêm trị đều sai lầm, người trị Thục sau này cần phải suy nghĩ sâu sắc. Đây chính là sự tổng kết kinh nghiệm từ những đúc kết về việc quản lý nước Thục.

Thời Lưu Chương, chính quyền không thể kiểm soát các hào cường địa phương ở Ích Châu, đành phải khoan dung và phóng túng họ. Gia Cát Lượng cho rằng, muốn trị quốc tốt thì trước hết phải dựa vào nhân đức để cảm hóa và giáo dục, đồng thời hỗ trợ bằng việc “định rõ pháp độ và thưởng phạt phân minh”. Trong bài viết “Trị quốc”, ông nói: “Trì quốc chi chính, kì do trì gia, trì gia giả vụ lập kì bổn, bổn lập tắc mạt chính hĩ”, tạm dịch là, việc trị quốc cũng giống như trị gia, người trị gia phải chăm lo dựng cái gốc, gốc có vững thì ngọn mới thẳng. “Cố bổn giả, kinh thường chi pháp, quy củ chi yếu.” Tạm dịch là, cái gốc chính là pháp luật thường trực, là cái cốt lõi của quy củ.

Trong “Đáp Pháp Chính thư” (Thư trả lời Pháp Chính), Gia Cát Lượng đã chỉ ra những khuyết điểm trong cách quản lý đất Thục của Lưu Chương: “Ích Châu trải qua 2 đời thống trị của Lưu Yên và Lưu Chương, Lưu Chương bản tính nhu nhược, pháp luật lỏng lẻo, chỉ làm ra vẻ bề ngoài, quan lại tâng bốc lẫn nhau, không thi hành đức chính mà cũng chẳng có uy nghiêm trong lòng dân chúng. Hào cường Ích Châu vì thế mới dám làm bừa, đạo quân thần cũng theo đó mà ngày càng sa sút. Do đó, bắt buộc phải thi hành pháp luật nghiêm minh, làm điều thiện tất thưởng, làm điều ác tất phạt, kết hợp hài hòa giữa ân huệ và vinh dự, trên dưới đều có kỷ cương trật tự”.

Chính sách pháp luật nghiêm minh của Gia Cát Lượng không chỉ hạn chế hào cường mà còn khuyến khích họ đóng góp, nhờ đó mà nền chính trị đất Thục đạt được trong sạch, minh bạch ở mức cao.

Để chấn chỉnh quan lại, sửa đổi tình trạng tham nhũng trong chốn quan trường, Gia Cát Lượng giao cho Lý Nghiêm, Pháp Chính, Lưu Ba, Y Tịch cùng những người khác soạn ra “Thục khoa”; đồng thời ông đích thân định ra các quy tắc để kiểm tra, giám sát quan lại. Theo ghi chép trong “Ngụy thị Xuân Thu”: “Gia Cát Lượng soạn ‘Bát vụ’, ‘Thất giới’, ‘Lục khủng’, ‘Ngũ cụ’, tất cả đều có điều khoản rõ ràng để răn dạy và khuyến khích bề tôi”.

Trong bài “Giáo lệnh”, ông nói rõ: “Giáo lệnh vi tiên, tru phạt vi hậu”. Điều này có nghĩa là, khi cai trị đất nước, trước hết phải thực thi nhân chính và giáo hóa, công bố rõ ràng các điều luật, để quan lại và dân chúng biết được điều gì nên làm, điều gì không được làm, hiểu rõ giới hạn hành vi của mình. Sau đó mới xử phạt những người vi phạm pháp luật. Cuối cùng, đạt đến cảnh giới “không cần ban lệnh mà vẫn có thể khiến mọi người tự giác tuân theo”, để “vương đạo được thực thi một cách ngay thẳng, bình ổn”, khiến người người tâm phục khẩu phục.

Gia Cát Lượng từng giết Lưu Phong, xử tử Bành Dạng, chém Mã Tắc, bãi chức Hàn Mẫn, cách chức Liêu Lập, phế truất Lý Nghiêm cùng nhiều người khác, không hề né tránh dù họ là hoàng thân quốc thích, thân tín lâu năm hay trọng thần được Lưu Bị giao phó việc phò tá ấu chúa. Những người bị trừng phạt này đều có tội trạng hoặc sai phạm rõ ràng, chứng cứ xác thực.

Chẳng hạn, Liêu Lập, từng giữ chức Trường Thủy Hiệu úy, được Gia Cát Lượng xem là một “nhân tài xuất chúng”, có thể sánh ngang với Bàng Thống. Nhưng về sau, vì tranh danh đoạt lợi và rút dao giết người, ông bị đày đến Vấn Sơn. Thế nhưng khi nghe tin Gia Cát Lượng qua đời, Liêu Lập lại đau buồn đến mức bật khóc. Lại như Lý Nghiêm, vốn là một trọng thần của Thục Hán, cùng với Gia Cát Lượng là hai đại thần được Lưu Bị giao phó việc phò tá Lưu Thiện trước lúc lâm chung. Về sau ông đổi tên thành Lý Bình, tự Chính Phương. Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ chín (năm 231), Gia Cát Lượng đưa quân đến Hán Trung và giao cho Lý Bình phụ trách vận chuyển lương thảo. Đúng lúc đó mưa dầm kéo dài, việc vận chuyển lương thực bị chậm trễ. Lý Bình viết thư yêu cầu Gia Cát Lượng rút quân. Sau khi quân đội rút lui, ông lại lo sợ phải chịu trách nhiệm nên giở thủ đoạn hai mặt. Gia Cát Lượng trực tiếp vạch trần việc này trước mặt ông, khiến Lý Bình không thể biện giải. Để giữ nghiêm quân pháp, Lý Bình bị giáng xuống làm thứ dân và đày đến quận Tử Đồng.

Sau khi cách chức Lý Bình, Gia Cát Lượng viết thư cho Lý Phong, con trai của Lý Bình, lúc bấy giờ đang giữ chức Trung lang tướng tham quân, dặn ông khuyên nhủ và an ủi cha, tự xét lại những lỗi lầm trước đây. Gia Cát Lượng cho rằng, chỉ cần một lòng vì đất nước thì Lý Bình vẫn còn con đường để quay trở lại. Năm Kiến Hưng thứ 12, khi nghe tin Gia Cát Lượng qua đời, Lý Bình biết rằng mình không còn cơ hội được phục chức nữa, nên đau buồn, uất hận rồi qua đời.

Học giả Tập Tạc Xỉ thời Đông Tấn, trong “Hán Tấn Xuân Thu”, nhận xét: “Tích Quản Trọng đoạt bá thị biền ấp tam bách, một xỉ nhi vô oán ngôn, thánh nhân dĩ vi nan. Gia Cát Lượng chi sử Liêu Lập thùy khấp, Lí Bình trí tử, khởi đồ vô oán ngôn nhi dĩ tai! Phu thủy chí bình nhi tà giả thủ pháp, kính chí minh nhi xú giả vô nộ, thủy kính chi sở dĩ năng cùng vật nhi vô oán giả, dĩ kì vô tư dã. Thủy kính vô tư, do dĩ miễn báng, huống đại nhân quân tử hoài nhạc sinh chi tâm, lưu căng thứ chi đức, pháp hành vu bất khả bất dụng, hình gia hồ tự phạm chi tội, tước chi nhi phi tư, tru chi nhi bất nộ, thiên hạ hữu bất phục giả hồ! Gia Cát Lượng vu thị khả vị năng dụng hình hĩ, tự Tần, Hán dĩ lai vị chi hữu dã”.

Tạm dịch là: ngày xưa, Quản Trọng lấy ba trăm hộ ở đất Biền của Bá Thị, đến cuối đời Bá Thị vẫn không một lời oán trách; đến bậc Thánh nhân còn cho rằng đó là điều khó làm. Gia Cát Lượng khiến Liêu Lập rơi lệ, khiến Lý Bình uất hận mà chết, chẳng lẽ chỉ là không có lời oán trách mà thôi sao! Nước đạt đến mức phẳng lặng thì những thứ kỳ quái tự hiện ra; gương đạt đến mức sáng rõ thì người xấu cũng không thể nổi giận. Sở dĩ nước và gương có thể phản chiếu vạn vật mà không bị oán trách là vì chúng không có lòng riêng. Nước và gương không thiên vị mà còn có thể tránh được lời gièm pha, huống chi bậc đại nhân quân tử mang trong lòng ý muốn khiến người ta được sống vui vẻ, ban phát đức nhân từ và khoan dung; khi pháp luật cần được thi hành thì nhất định thi hành, khi hình phạt cần áp dụng thì trừng phạt đúng tội. Ban tước vị không phải vì tình riêng, xử tử người có tội cũng không vì tức giận. Nếu như vậy thì trong thiên hạ còn có ai không tâm phục khẩu phục? Gia Cát Lượng vì thế có thể nói là người biết sử dụng hình pháp; từ thời Tần, Hán đến nay, chưa từng có ai được như ông”.

Lấy mình làm gương, trở thành khuôn mẫu đạo đức

Những thành tựu của Gia Cát Lượng trong việc cai trị đất Thục cũng có liên quan đến việc ông lấy mình làm gương. Phẩm chất đạo đức của Gia Cát Lượng cũng được người đời tôn trọng và ngưỡng mộ không kém gì trí tuệ của ông.

Gia Cát Lượng, dù là việc lớn hay việc nhỏ, đều tự mình tận tay giải quyết. Theo ghi chép trong “Ngụy thị Xuân Thu”: “Gia Cát Công thức khuya dậy sớm, những án phạt từ hai mươi trượng trở lên đều đích thân xem xét”.

“Tương Dương ký” cũng ghi lại rằng, Chủ bạ Dương Ngung từng nói Gia Cát Lượng tự mình kiểm tra, đối chiếu sổ sách, mồ hôi chảy ròng rã cả ngày.

Gia phong của gia đình Gia Cát Lượng, bắt đầu từ Gia Cát Phong, vốn đã nổi tiếng với phẩm chất “độc lập, cương trực”. Bản thân Gia Cát Lượng cũng là một bậc sĩ phu cao thượng, coi phú quý chẳng khác gì phù vân.

Năm Kiến Hưng thứ 12 (năm 234), Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn quân, tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ 5. Trước khi lên đường, ông dâng lên Hậu chủ Lưu Thiện một bản tấu biểu: “Thần là Lượng kính trình lên Hậu chủ rằng: Hiện nay tại Thành Đô, thần có 800 gốc dâu và 15 khoảnh ruộng bạc màu; việc ăn mặc của con cháu trong nhà đã có đủ, còn có phần dư dả. Khi thần ra ngoài làm việc, không có khoản thu nhập hay nguồn cung cấp nào khác; những nhu yếu phẩm ăn mặc mang theo đều hoàn toàn do triều đình cung cấp. Thần không tự kinh doanh để làm giàu, tích lũy thêm dù chỉ một chút. Nếu đến ngày thần qua đời, mà trong nhà vẫn còn dư lụa là, bên ngoài còn có của cải thừa, thì thần sẽ có lỗi với Bệ hạ”.

Toàn bộ gia sản của Gia Cát Lượng là 15 khoảnh ruộng bạc màu, trong đó có cả ruộng dâu trồng 800 gốc. Theo cách tính của thời Hán, một khoảnh bằng 100 mẫu (mỗi mẫu thời Hán quy đổi tương đương khoảng 0,69 mẫu ngày nay), như vậy Gia Cát Lượng sở hữu diện tích ruộng đất tương đương hơn 1.000 mẫu ngày nay.

Theo ghi chép trong “Tấn thư – Thực hóa chí”, vào đầu thời Tây Tấn, số lượng ruộng đất mà quan lại được phép chiếm hữu đã được quy định rõ ràng: “Quan nhất phẩm được chiếm 50 khoảnh; nhị phẩm 45 khoảnh; tam phẩm 40 khoảnh… bát phẩm 15 khoảnh; phẩm cửu 10 khoảnh” Qua đó có thể thấy, tuy Gia Cát Lượng giữ quan nhất phẩm, địa vị đứng đầu hàng bá quan, nhưng số ruộng đất ông sở hữu chỉ tương đương với hạn mức ruộng đất của một viên quan nhỏ bát phẩm.

Theo quan niệm của Gia Cát Lượng, dựa vào số ruộng bạc màu và ruộng dâu ấy, cộng thêm việc người nhà siêng năng lao động, thì cũng đủ để con cháu có cái ăn cái mặc. Còn bản thân ông khi ở bên ngoài thống lĩnh quân đội tác chiến, những nhu yếu phẩm ăn mặc hằng ngày đều do triều đình chi trả, tuyệt đối không nuôi những ý nghĩ hay ham muốn vượt quá phận mình.

Gia Cát Lượng khẳng định rằng khi làm việc bên ngoài, ông “không có khoản điều động hay thu xếp nào khác”, tức là không lợi dụng “sự tiện lợi của chức vụ” khi cầm quân ở bên ngoài để tự đặt ra các danh mục, tùy tiện trưng thu hay thu nhận tiền của; không để công quỹ thanh toán thêm các khoản chi phí riêng cho mình; cũng không sai khiến hay ám chỉ người khác mang tiền bạc, lễ vật đến biếu. Ngoài ra, suốt cuộc đời ông “không tự kinh doanh riêng để làm tăng thêm chút tài sản nào”, nghĩa là chưa từng âm thầm kinh doanh hay tạo dựng thêm sản nghiệp riêng, dù chỉ làm tăng tài sản gia đình một chút ít. Ông còn “không để trong nhà có lụa là dư thừa, bên ngoài có của cải dư dật”, tức là không tích trữ vải vóc dư thừa trong nhà, cũng không tích lũy tài sản bên ngoài, cho dù là một tấc đất có giá trị đến đâu cũng không tham lam tích góp. “Tư trị thông giám – Ngụy kỷ” nhận xét: “Cuối cùng, ông đã làm đúng như những gì mình nói”.

Gia Cát Lượng làm việc công bằng, chính trực, không nghe xu nịnh, luôn khiêm tốn tiếp thu lời can gián: “Ban thưởng không bỏ sót người ở xa, xử phạt không thiên vị người ở gần; tước vị không thể đạt được nếu không có công lao, hình phạt không thể được miễn chỉ vì có địa vị quyền thế. Chính vì vậy, người hiền hay kẻ ngu đều quên mình mà dốc sức”.

Trong di biểu và di chúc để lại trước lúc qua đời, Gia Cát Lượng cũng khiến người đọc không khỏi kính phục và nghiêm trang: “Cúi mong Bệ hạ giữ lòng thanh tịnh, giảm bớt dục vọng, tự tiết chế bản thân và yêu thương nhân dân”.

Ông còn căn dặn: “Lượng xin để lại di mệnh, sau khi qua đời hãy an táng tại núi Định Quân ở Hán Trung, dựa vào núi mà làm mộ, đắp một ngôi mộ đất vừa đủ để đặt quan tài, khi khâm liệm chỉ dùng y phục thường ngày, không cần chôn theo bất cứ đồ tùy táng nào”.

Dưới sự cai trị của Gia Cát Lượng, chính trị Thục Hán đã có những chuyển biến tốt đẹp hơn nhiều so với thời Lưu Chương, đồng thời cũng được đánh giá là tốt hơn 2 nước Ngụy và Ngô đương thời.

Sau khi sứ thần nước Ngô là Trương Ôn sang Thục trở về, ông từng hết lời ca ngợi nền chính trị của Thục. Khi đó, những đại thần tài trí của nước Ngụy như Lưu Diệp và Giả Hủ cũng đều nói rằng Gia Cát Lượng rất giỏi trị quốc. Trần Thọ trong “Truyện Gia Cát Lượng” nhiều lần ca ngợi thành tích cai trị đất Thục của Gia Cát Lượng, nhưng đối với các vị quân chủ của hai nước Ngụy và Ngô thì ông lại không có những lời đánh giá tương tự. Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, tình cảm nhớ thương của người dân Thục Hán dành cho ông suốt mấy chục năm vẫn không hề suy giảm. Trần Thọ và Viên Chuẩn đều nói rằng người dân nhớ Gia Cát Lượng giống như người dân thời Tây Chu nhớ đến Thiệu Công. Có thể thấy, sự ca tụng mà người đời dành cho Gia Cát Lượng khi ấy đã đạt tới một mức độ cao như vậy.

Gia Cát Lượng rất coi trọng kinh tế trong việc trị quốc, đặc biệt ra sức thúc đẩy nghề trồng dâu nuôi tằm, nhờ đó gấm Thục (Thục Cẩm) trở thành một sản vật nổi tiếng của Trung Quốc. Trong “Thục đô phú”, Tả Tư viết: “Sản vật quý báu chất cao như núi, những thứ tinh xảo, mỹ lệ nhiều như sao trời… Trăm nhà nối liền từng gian, tiếng khung cửi hòa quyện vào nhau. Gấm vóc rực rỡ dệt thành, đem giặt dưới sông, sắc màu càng thêm tươi thắm”. Đó chính là bức tranh chân thực về hoạt động sản xuất gấm Thục thời bấy giờ. Gia Cát Lượng cho rằng: “Nay dân nghèo, nước trống rỗng; nguồn lực để chống lại kẻ địch, chỉ có thể trông cậy vào gấm mà thôi”.

Gia Cát Lượng chú trọng canh nông, trồng trọt lương thực, thực hiện chính sách “đóng cửa nghỉ ngơi, để dân được an cư”, không chiếm dụng thời vụ sản xuất của người dân, đồng thời chỉ thu thuế ở mức nhẹ. Ông duy trì một đội ngũ cố định hơn 1.800 người để bảo vệ và tu sửa Đô Giang Yển.

Gia Cát Lượng còn tận dụng khí thiên nhiên để phát triển nghề làm muối, hạn chế việc nấu rượu, nâng cao kỹ thuật luyện kim; đồng thời thiết lập các chức quan như Yển quan, Cẩm quan, Tư Kim Trung lang tướng, Điển Nông Hiệu úy, Diêm phủ Hiệu úy. Đối với những ngành có ảnh hưởng quan trọng đến quốc kế dân sinh như muối và sắt, ông thực hiện chế độ độc quyền của nhà nước, nhờ đó chính quyền Thục Hán xuất hiện một khung cảnh phồn vinh: “Ruộng đồng được khai phá, kho lẫm đầy đủ, binh khí sắc bén, của cải dự trữ dồi dào”.

Không nhặt của rơi trên đường, kẻ mạnh không ức hiếp người yếu, phong hóa nghiêm minh

Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, Tưởng Uyển và Phí Y lần lượt nắm quyền chấp chính, “Hàm thừa Gia Cát chi thành quy, nhân tuần nhi bất cách”. Có nghĩa là thể chế chính trị của Thục Hán phần lớn do Gia Cát Lượng đặt ra, được những người đời sau kế thừa và không sửa đổi.

Trần Thọ cho rằng, khi Gia Cát Lượng giữ chức Tể tướng, ông chăm lo, thương xót dân chúng, làm sáng tỏ lễ nghi và pháp luật, ràng buộc quan lại, tùy thời thế mà đưa ra những biện pháp thích hợp, thành tâm đối đãi với mọi người, công chính vô tư. Người làm việc thiện thì nhất định được thưởng, người làm việc ác thì nhất định bị phạt. Cuối cùng, ông giành được sự kính trọng và yêu mến của dân chúng. Mặc dù hình pháp và chính lệnh nghiêm khắc, nhưng không ai vì thế mà sinh lòng oán hận. Gia Cát Khổng Minh xử lý công việc với tấm lòng công bằng, khuyên răn rõ ràng, có thể nói là một bậc tài giỏi về trị quốc sánh ngang Quản Trọng và Tiêu Hà.

Trong “Tiến Gia Cát Lượng tập biểu”, Trần Thọ đánh giá những thành tựu của Gia Cát Lượng trong thời gian cai trị đất Thục như sau: “Sự vô cự tế, lượng giai chuyên chi. Vu thị ngoại liên đông ngô, nội bình nam việt, lập pháp thi độ, chỉnh lí nhung lữ, công giới kĩ xảo, vật cứu kì cực, khoa giáo nghiêm minh, thưởng phạt tất tín, vô ác bất trừng, vô thiện bất hiển, chí vu lại bất dung gian, nhân hoài tự lệ, đạo bất thập di, cường bất xâm nhược, phong hóa túc nhiên dã!”

Tạm dịch là:

Sau khi Lưu Bị qua đời, Hậu chủ Lưu Thiện còn nhỏ tuổi và yếu đuối, mọi việc lớn nhỏ, Gia Cát Lượng đều đích thân đảm trách. Vì thế, ông bên ngoài liên kết với Đông Ngô, bên trong bình định Nam Việt; xây dựng pháp luật, đặt ra quy chế; chỉnh đốn quân đội; phát triển kỹ thuật chế tạo vũ khí, khí cụ, đạt đến trình độ tinh xảo cao nhất. Ông thiết lập chế độ và giáo hóa nghiêm minh, thưởng phạt nhất định phải giữ đúng; không có điều ác nào không bị trừng phạt, không có việc thiện nào không được biểu dương, quan lại không dám dung túng gian tà, người người đều tự rèn luyện bản thân; không ai nhặt của rơi trên đường, kẻ mạnh không xâm phạm người yếu, phong hóa trở nên nghiêm túc, trong sạch!

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/16/5/30/n7945201.htm