Tác giả: Lý Dực Vân

[ChanhKien.org]

Chu Du. (Ảnh tổng hợp: Thiên Ngoại Khách/The Epoch Times)

Chu Du luôn kiên định phò tá thiếu chủ Tôn Quyền, quyết chí đưa Giang Đông đến mục tiêu xưng bá phương Nam. Khi đất nước lâm vào cơn nguy biến trước mấy chục vạn quân Tào, ông đã bất chấp mọi lời bàn lui, đứng ra nhận lấy trọng trách chống lại đại quân của Tào Thào, vị bá chủ siêu cấp thời bấy giờ.

Sau trận Xích Bích, Tào Tháo rút quân về phương Bắc. Lưu Bị liền dâng biểu tấu xin phong Lưu Kỳ làm Kinh Châu mục. Bốn quận Vũ Lăng, Linh Lăng, Quế Dương và Trường Sa cũng nhanh chóng chủ động bày tỏ ý nguyện quy phục. Không lâu sau, Lưu Kỳ qua đời, Lưu Bị được mọi người tôn làm Kinh Châu mục.

Như vậy, sau nhiều năm phải nương nhờ người khác, Lưu Bị cuối cùng đã chính thức sở hữu bốn quận phía Nam Kinh Châu. Còn Tôn Quyền thì giành được Nam Quận – một trong tám quận của Kinh Châu – và cử Chu Du đảm nhiệm chức Thái thú Nam Quận.

Nhờ chiến dịch này, Tôn Quyền đã rũ bỏ được vẻ non nớt để lột xác thành một bậc Quân vương thực sự có thể độc lập và tự chủ, thế trận chia ba thiên hạ (Tam Quốc) cũng từ đó mà được xác lập. Năm ấy, Tôn Quyền 27 tuổi, Lưu Bị 48 tuổi, còn Tào Tháo 53 tuổi.

Chu Du biết nhìn người và khéo dùng người, bổ nhiệm Bàng Thống

Sau trận Xích Bích, Chu Du phòng thủ Nam Quận, phía Bắc chống Tào Tháo, phía Nam phòng Lưu Bị, gánh vác trên vai trọng trách bảo vệ giang sơn nhà Tôn Ngô. Trong suốt khoảng thời gian này, Chu Du đã bổ nhiệm Bàng Thống quản lý các sự vụ chính của Nam Quận, còn bản thân ông chính là hoàn toàn vô vi mà trị.

Bàng Thống là người như thế nào? Ông là cháu của tiên nhân Lộc Môn – Bàng Đức. Theo ghi chép trong “Hậu Hán thư – Dật dân truyện”, Bàng Đức là một dị nhân thoát tục, vì vậy mọi người đều tôn xưng ông là Bàng Đức Công. Thường ngày, ông vừa làm ruộng vừa dạy học, thậm chí chưa từng vào thành. Ông và vợ đối đãi kính trọng nhau như khách quý. Sau này, Bàng Đức Công cùng vợ lên núi Lộc Môn hái thuốc rồi không trở về nữa, từ đó bặt vô âm tín, không ai biết tung tích của họ.

Gia Cát Lượng khi còn trẻ cũng quen biết Bàng Đức Công. Mỗi lần đến thăm, ông đều cung kính quỳ lạy bên dưới giường của Bàng Đức Công. Bàng Đức tiên sinh cũng không lấy đó làm lạ, chưa từng ngăn cản. Ngoài ra, người chị út của Gia Cát Lượng còn kết hôn với con trai của Bàng Đức Công là Bàng Sơn Dân, khiến hai gia đình trở thành thông gia.

Chân dung Bàng Đức Công trong “Vãn Tiếu Đường Trúc Trang Họa Truyện”. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Bấy giờ ở vùng Kinh Châu còn có một vị ẩn sĩ danh tiếng khác tên là Tư Mã Huy, ông có học vấn uyên thâm, rất giỏi nhìn người và đoán định tài năng, được người đời xưng tụng là “Thủy Kính tiên sinh”. Tư Mã Huy kém Bàng Đức tiên sinh 10 tuổi, hai người giao tình vô cùng khăng khít, thân thiết như người một nhà.

Lúc còn trẻ, Bàng Thống trông có vẻ chân chất, chậm chạp, diện mạo lại bình thường, ngoại trừ Bàng Đức Công ra thì không một ai nhận thấy tài hoa của ông. Đến năm 20 tuổi, Bàng Thống lặn lội tới gặp Tư Mã Huy. Khi đó, Tư Mã Huy đang ở trên cây hái lá dâu, còn Bàng Thống thì ngồi dưới gốc cây, hai người cứ thế trò chuyện say sưa từ sáng sớm cho tới tận đêm khuya. Sau cuộc đàm đạo dài ấy, Tư Mã Huy đã đánh giá Bàng Thống rất cao, ca ngợi ông là bậc danh sĩ đứng đầu vùng Kinh Nam, là người có “Thịnh đức”. Cũng từ đó, danh tiếng của Bàng Thống mới dần dần vang xa. Bàng Đức Công còn gọi Gia Cát Lượng là “Ngọa Long”, gọi Bàng Thống là “Phượng Sồ”, tin tưởng tuyệt đối vào tài năng lẫn học thức của cả hai người.

Chu Du, người biết nhìn và khéo dùng người, đã trọng dụng Bàng Thống mới chỉ 30 tuổi, đồng thời dành cho ông quyền hạn và sự tin tưởng tuyệt đối.

Chí lớn đong đầy, bạo bệnh bủa vây

Do lãnh thổ của Lưu Bị nhanh chóng mở rộng, Tôn Quyền muốn gả em gái mình cho Lưu Bị nhằm củng cố tình giao hảo giữa hai bên. Lỗ Túc cho rằng việc liên hôn giữa hai nước sẽ có lợi cho việc cùng nhau chống lại Tào Tháo, nhưng thái độ của Chu Du lại hoàn toàn khác hẳn.

Tranh minh họa hồi thứ 54 trong tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa” do Kim Hiệp Trung vẽ màu: Ngô Quốc Thái xem mặt chàng rể mới tại Phật tự. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Năm Kiến An thứ mười lăm (năm 210), Lưu Bị sửa soạn sang Đông Ngô hội kiến Tôn Quyền để xin mượn vùng đất phía Nam bờ sông của Nam Quận. Chu Du lập tức dâng thư khuyên Tôn Quyền rằng:

“Lưu Bị mang dáng dấp của một bậc kiêu hùng, lại có Quan Vũ và Trương Phi là những mãnh tướng dũng mãnh như hổ báo. Những người như vậy nhất định sẽ không chịu ở dưới người khác lâu dài để bị sai khiến. Theo ý tôi, nên giữ Lưu Bị ở lại nước Ngô, xây cho ông ta cung thất hoa lệ, ban cho nhiều mỹ nữ và kỳ trân dị bảo, khiến ông ta đắm chìm trong hưởng lạc. Đồng thời, tách Quan Vũ và Trương Phi ra, bố trí ở những nơi khác nhau, rồi phái những đại tướng như tôi nhân cơ hội đánh họ. Như vậy, đại sự ắt có thể định xong. Nay chúng ta lại còn cắt đất để giúp ông ta gây dựng cơ nghiệp, khiến ba người ấy tụ họp cùng một chỗ. Về sau, trên chiến trường, e rằng họ sẽ giống như giao long gặp được mây mưa, tuyệt không phải là những kẻ có thể mãi bị giam trong ao nhỏ đâu!” [1] Tuy nhiên, Tôn Quyền cho rằng Tào Tháo ở phương Bắc mới là mối đe dọa lớn nhất. Lúc ấy, điều cần làm là kết giao rộng rãi và thu phục anh hùng trong thiên hạ, vì vậy đã không chấp nhận đề nghị ấy.

Tiếp đó, Chu Du lại hiến kế với Tôn Quyền rằng nên thừa cơ Tào Tháo mới bại trận, quốc lực còn suy yếu mà tiến đánh Lưu Chương để chiếm lấy Ích Châu (đất Thục), thu phục và sáp nhập thế lực của Trương Lỗ ở Hán Trung, rồi để lại tướng lĩnh trấn giữ vùng này, đồng thời kết minh với Mã Siêu ở Tây Bắc. Sau đó, Chu Du sẽ quay trở về Đông Ngô, thống lĩnh quân đội từ Kinh Châu tiến đánh Tào Tháo ở phía Bắc. Hai đường Nam Bắc cùng giáp công, đại cơ đồ phương Bắc có thể thu về tay.

Chiến lược này của Chu Du vừa táo bạo lại vừa tràn đầy sáng tạo nên đã nhận được sự ủng hộ từ Tôn Quyền. Tôn Quyền thậm chí còn bắt đầu tìm Lưu Bị để bàn việc mượn đường qua Kinh Châu tiến đánh Lưu Chương. Thế nhưng, mưu sự tại nhân mà thành sự tại thiên, ngay khi Chu Du đang bắt tay vào chuẩn bị các việc liên quan thì ông lại đột ngột lâm bạo bệnh, không thể gượng dậy nổi.

Lời trăn trối trước lúc lâm chung, một lòng vì nước

Trong cơn bạo bệnh, Chu Du đã viết một bức thư ngắn gửi cho Tôn Quyền:

“Nay thiên hạ đang lúc trăm bề nhiễu nhương, thần cũng vì thế mà đêm ngày lo nghĩ. Kính mong Chúa công có thể nhìn xa trông rộng, phòng ngừa chu đáo, có như vậy mới mong gặt hái được quả ngọt về sau.

Nay chúng ta đang đối địch với Tào Tháo, mà Lưu Bị lại đóng quân ngay tại Công An, ngay sát bờ cõi của ta, lòng dân bách tính thì vẫn chưa hoàn toàn quy thuận, rất cần phải phái một vị lương tướng đến trấn giữ và vỗ về. Lỗ Túc là người có đủ trí tuệ lẫn mưu lược để gánh vác trọng trách này, kính xin Chúa công phái Lỗ Túc đến thay thế chức vị của thần. Thần chẳng còn sống được bao lâu nữa, những điều muốn nói cũng đã tỏ bày hết rồi”.

Bức thư lời ít ý sâu, từng câu từng chữ vẫn một lòng đau đáu việc nước. Ông không chỉ nhìn nhận cái chết bằng thái độ an nhiên, không lo không sợ, mà còn tiến cử chính Lỗ Túc — người vốn có nhiều bất đồng chính kiến với mình — lên tiếp quản vị trí trấn thủ tiền tuyến. Điều đó không chỉ minh chứng cho niềm tin tuyệt đối mà ông dành cho người bạn già, mà còn hiển lộ rõ ràng tấm lòng bao dung, không chút tị hiềm, cùng một dạ trung trinh, son sắt vì quân vì quốc của Chu Du. Có thể nói, đời người đi đến bước này, ông đã không thẹn với lương tâm.

Tôn Quyền mặc áo tang đưa tiễn, niềm tiếc thương khôn nguôi

Chu Du tạ thế khi tuổi đời mới tròn 36. Tôn Quyền đã tự mình mặc tố phục (áo tang trắng) để chịu tang Chu Du. Ông đau đớn khôn cùng, gạt lệ khóc than rằng: “Công Cẩn có tài phò tá vương triều, nay lại đoản mệnh mà đi, từ nay về sau ta còn biết dựa dẫm vào ai đây?”

Sau khi Chu Du qua đời, Tôn Quyền đã tận tâm sắp đặt mọi chuyện một cách chu toàn để chăm lo cho hai người con trai và một người con gái mà Chu Du để lại. Trưởng nam của Chu Du là Chu Tuần được cưới Công chúa Tôn Lỗ Ban (con gái của Tôn Quyền và Bộ phu nhân), làm quan đến chức Kỵ đô úy; thứ nam là Chu Dận cũng cưới con gái trong tôn thất nhà họ Tôn, quan chức đến bậc Đô úy, được phong tước Đô Hương hầu; còn trưởng nữ của Chu Du thì được gả cho Thái tử Tôn Đăng.

Tôn Quyền dùng chính con cái trong tôn thất ruột thịt của mình để kết thông gia với nhà Chu Du, bấy nhiêu đó đã đủ thấy ông đối xử với Chu Du ân sâu nghĩa trọng đến nhường nào. Cho nên về sau, ông vẫn thường tự than thở rằng: “Cô niệm Công Cẩn, khởi hữu dĩ hồ?” (Tâm nhớ nhung Công Cẩn của ta, há có lúc nào nguôi dứt!) như một lời cảm thán cho nỗi nhớ thương Chu Du vô hạn luôn chất chứa trong lòng.

Hùng liệt đảm lược, thiên cổ anh hào

Trong suốt thời gian diễn ra trận đại chiến Xích Bích, Lưu Bị và Chu Du đã có sự tương tác, phối hợp chặt chẽ. Nhờ vậy, Lưu Bị đã có dịp quan sát và thấu hiểu sâu sắc về con người Chu Du. Ông đã không tiếc lời ca ngợi Chu Du là bậc “Văn võ trù lược, vạn nhân chi anh, khí lượng quảng đại” (Tài thao lược gồm cả văn lẫn võ, là bậc tinh anh trong muôn người, khí độ bao la rộng lớn). Đây có thể nói là anh hùng biết anh hùng, nhận thức sâu sắc về tài năng và khí phách bất phàm của Chu Du.

Với tư cách là nguyên lão khai quốc của nhà Tôn Ngô, Chu Du luôn tâm đầu ý hợp với Tôn Sách. Cả hai đã cùng nhau kề vai sát cánh chinh phạt Giang Đông từ thuở mười chín đôi mươi, chí hướng lập nên một phen sự nghiệp vĩ đại. Sau cái chết của Tôn Sách, trong suốt khoảng mười năm phò tá Tôn Quyền, Chu Du luôn một lòng nâng đỡ thiếu chúa, dũng mãnh tiến về phía trước vì mục tiêu “bá chủ phương Nam”. Trong thời khắc quốc gia lâm vào cảnh nguy cấp tồn vong trước sự đe dọa từ hàng chục vạn đại quân Tào Tháo, Chu Du đã gạt bỏ mọi lời bàn lùi, một tay gánh vác trọng trách to lớn là đối đầu với thế lực bá chủ siêu cường của quân Tào.

Dù lấy ít địch nhiều, ông vẫn giữ vững tâm chí, mưu lược vững vàng, không một chút nao núng, tràn đầy trí tuệ và lòng dũng cảm. Chẳng trách nhiều năm sau này, khi Gia Cát Cẩn và Bộ Chất dâng sớ lên Tôn Quyền, họ đã hết lời ngợi ca tiết nghĩa trung dũng của Chu Du, tán dương ông như thể đã tự biến bản thân thành bia đỡ lấy đạn của quân thù, “Mình che tên đá, dốc trọn lòng thành, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng”, khiến người đời sau mãi mãi không quên.

Nhà sử học Vương Mậu Hoành thời Thanh từng bình rằng: “Nếu Chu Du không nửa đường lâm bệnh qua đời, nhất định ông sẽ đánh chiếm được Thục Hán, như vậy thì Lưu Bị đã chẳng còn đất dung thân… Những điều này đều là ý Trời, không phải sức người có thể can dự vào được vậy!”

Quả thực, Thiên ý chia ba (Tam Quốc), vốn chẳng phải sức người có thể xoay chuyển. Thông qua những tình tiết lịch sử về cuộc tranh bá mở mang bờ cõi của các anh hùng thời Tam Quốc, người đời cuối cùng cũng nhận ra được phong phạm tráng chí của những bậc thiên cổ anh hùng, dùng lý tưởng hào hùng để diễn dịch nên tấm lòng nghĩa dũng cùng trí tuệ kiệt xuất.

Sau trận đại chiến Xích Bích, nhà Tôn Ngô đã có thể tạo thế chân vạc, Chu Du một trận định giang sơn. Phong thái cao sang nhã nhặn của một bậc nho tướng, mưu lược tinh anh đầy dũng mãnh táo bạo, cùng khí độ cao xa trung dũng của ông, sẽ mãi cùng phong vân của trận Xích Bích lưu truyền bất hủ, vạn cổ trường tồn.

(Hết)

[1] Tam quốc chí – Chu Du truyền

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/24/12/12/n14389798.htm