Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Chuyện Hoàng đế Khang Hy thanh trừ Ngao Bái là việc đại sự vẻ vang đầu tiên mà vị Hoàng đế trẻ tuổi Khang Hy thực hiện, đồng thời cũng là sự kiện mang tính bước ngoặt quan trọng khẳng định quyền tự chủ chấp chính của ông. Trong hình là Khang Hy Đại Đế, người đã khai sáng nên thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)

Từ thời khắc tiến vào Trung Nguyên, Vương triều Đại Thanh không còn là một bộ lạc trấn giữ vùng Quan Ngoại, mà đã trở thành trung tâm thế giới thu hút sự chú ý của vạn quốc. Với tư cách là Vua của các vị Vua, nhất cử nhất động của Hoàng đế Đại Thanh không chỉ quyết định sự hưng suy của vương triều, mà còn ảnh hưởng đến cục diện thiên hạ. Tuy nhiên, hai vị oàng đế đầu tiên của nhà Thanh sau khi vào Trung Nguyên là Thuận Trị và Khang Hy đều lên ngôi khi tuổi đời còn rất nhỏ. Liệu việc Hoàng đế Khang Hy đăng cơ có thể giống như phụ hoàng của mình, thuận lợi vượt qua giai đoạn học tập và rèn luyện trước khi tự mình chấp chính hay không?

Chuyện Khang Hy trừ Ngao Bái có thể nói là một giai thoại truyền kỳ nổi tiếng nhà nhà đều biết. Đây là việc đại sự vẻ vang đầu tiên mà vị Hoàng đế trẻ tuổi Khang Hy thực hiện, đồng thời cũng là sự kiện đánh dấu con đường tiến tới tự mình chấp chính của ông. Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật hậu thế, đây cũng là câu chuyện được người đời say sưa bàn luận. Vậy cuộc đọ sức giữa mưu trí và dũng lực này trong lịch sử rốt cuộc là như thế nào? Và Ngao Bái rốt cuộc là người ra sao?

Phụ Chính Đại Thần

“Bốn người đó là những bậc nguyên lão trọng thần có công lao hiển hách, nay Trẫm đem toàn bộ quốc sự phó thác cho họ. Mong họ dốc lòng tận trung, phò tá ấu chúa, giúp xử lý triều chính.” — Hoàng đế Thuận Trị

(Nguồn: Đặc mệnh nội đại thần Sách Ni, Tô Khắc Tát Cáp, Át Tất Long, Ngao Bái vi Phụ thần, y đẳng giai huân cựu trọng thần, Trẫm dĩ phúc tâm kí thác, kì miễn thiên trung tận, bảo dực trùng chủ, tá lí chính vụ, nhi cáo trung ngoại, hàm sử văn tri. — “Thuận Trị Hoàng đế di chiếu”).

Một phần tranh chân dung Hoàng đế Khang Hy lúc khoảng 20 tuổi mặc triều phục, họa sĩ ẩn danh thời Thanh vẽ. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Hoàng đế Thuận Trị băng hà, Hoàng đế Khang Hy kế vị đã khiến lễ năm mới của năm Thuận Trị thứ mười tám (1661) biến thành thời khắc buồn vui lẫn lộn, thời khắc trọng yếu làm thay đổi dòng chảy lịch sử Đại Thanh. Sau khi Thiên tử đăng cơ, về danh nghĩa là người đứng đầu cai quản quốc gia, nhưng nếu Thiên tử tuổi còn nhỏ thì không cách nào độc lập xử lý chính sự.

Vì ấu chúa chưa thể trị quốc, triều đình sẽ chọn ra những người đặc biệt để đại diện hoặc phò tá Thiên tử nắm giữ triều chính, gọi là “Nhiếp chính”. Lịch sử đã ghi nhận nhiều vị cố mệnh đại thần (đại thần được nhắc tới trong di chiếu của Vua) lẫy lừng như Chu Công thời Chu Thành Vương, Gia Cát Võ Hầu thời Tam Quốc; họ đa phần là những bậc quốc sĩ rường cột, đức cao vọng trọng, tận tụy vì giang sơn xã tắc, để lại nhiều giai thoại đẹp. Ngoài ra, còn có một kiểu nhân vật khá đặc thù khác, chính là các Thái hậu buông rèm nhiếp chính.

Theo chế độ cũ của Đại Thanh, các Thân vương trong hoàng tộc sẽ chịu trách nhiệm thay Vua xử lý quốc gia chính sự. Chẳng hạn khi Hoàng đế Thuận Trị lên ngôi lúc sáu tuổi, Hòa Thạc Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn cùng các vị Thân vương khác cùng phụ chính. Về sau, Đa Nhĩ Cổn một tay thâu tóm quyền lực, liên tục được tấn phong đến tước vị “Hoàng phụ Nhiếp chính vương”, không chỉ chuyên quyền độc đoán triều chính mà các phương diện hưởng thụ gần như ngang hàng hoàng đế. Mọi chuyện chỉ xoay chuyển sau khi Đa Nhĩ Cổn đột ngột qua đời khi đang ở độ tuổi tráng niên. Việc Hoàng đế Khang Hy đăng cơ có tình cảnh tương đồng với Tiên đế đến kinh ngạc, nhưng lịch sử không thể diễn lại cảnh đó.

Vì vậy, trong di chiếu, Hoàng đế Thuận Trị đã thay đổi tập tục cũ, xác lập chế độ mới do các cố mệnh đại thần phụ chính. Bốn người ấy gồm: đứng đầu đại thần phụ chính Sách Ni — nguyên lão trải qua bốn triều, người họ Hách Xá Lý, thuộc Chính Hoàng kỳ; Tô Khắc Tát Cáp thuộc Chính Bạch kỳ; cùng hai người thuộc Tương Hoàng kỳ là Át Tất Long và Ngao Bái. Cả bốn đều xuất thân từ Thượng Tam kỳ do Hoàng đế trực tiếp thống lĩnh; là bậc khai quốc công thần, người là hậu duệ danh môn, người lập chiến công hiển hách, đều đã lập nên công lao to lớn trong việc khai sáng cơ nghiệp của Đại Thanh và rất được Hoàng đế Thuận Trị trọng dụng.

Tuy bốn vị đại thần này quyền cao chức trọng, nhưng trước trọng trách phụ chính mang tính chất phò tá ấu chúa, họ vẫn cảm thấy vô cùng lo sợ, e ngại sẽ bị các Thân vương và Bối lặc (một cấp bậc trong hoàng tộc) của Đại Thanh cản trở. Khi tuyên đọc di chiếu, cả bốn đã từ chối trước các thành viên tôn thất rằng: “Tiên đế ban di chiếu, lệnh cho bốn chúng tôi phụ tá ấu chúa. Nhưng từ trước đến nay quốc gia chính vụ đều do tông thất phụ trợ, chúng tôi là bề tôi ngoài họ, sao dám đảm đương trọng trách này? Vẫn nên để các vị Vương gia, Bối lặc cùng nhau quản lý triều chính thì hơn.”

Các Thân vương lập tức đáp lại: “Tiên đế biết rõ lòng trung thành của các vị nên mới giao phó đại nghiệp quốc gia cho các vị, xin đừng nên khước từ nữa.”

Bốn vị phụ chính đại thần lúc này mới trịnh trọng tuyên thệ trước linh vị của Hoàng đế Thuận Trị: “Chúng thần thề rằng, sẽ đồng tâm hiệp lực, cùng sinh cùng tử, phò tá triều chính. Không thiên vị người thân, không tính toán oán thù, không qua lại riêng tư với tôn thất, không kết bè kết cánh, không nhận hối lộ. Nếu trái lời thề, xin cam chịu trời cao nghiêm trị.” Các văn võ bá quan khác cũng tuyên thệ trước đại điện sẽ tận trung giữ trọn chức trách, phò tá tân hoàng đế.

Thế là, trước khi Hoàng đế Khang Hy đích thân chấp chính, triều đình nhà Thanh chính thức xác lập chế độ bốn đại thần phụ chính. Bốn người họ có thể thay mặt Hoàng đế thực thi chức trách ở một mức độ nhất định, nhân danh “phụ thần phụng chỉ” để hành sử quyền lực tối cao. Thông thường, bốn vị phụ chính đại thần sẽ cùng nhau bàn bạc đưa ra quyết sách và cùng dâng tấu lên Hoàng đế. Nhiệm vụ chính của Hoàng đế Khang Hy lúc này là học tập, lắng nghe, tham gia vào các cuộc bàn nghị của quần thần, tìm hiểu phương thức xử lý triều chính. Cuối cùng, Hoàng đế Khang Hy còn phải xin ý kiến của tổ mẫu là Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu.

Từ khi xác lập chế độ bốn đại thần phụ chính đến khi Hoàng đế Khang Hy đích thân chấp chính vào năm Khang Hy thứ 8 (1669), đã trải qua gần 8,5 năm. Giai đoạn quá độ này cũng được gọi là “thời kỳ phụ chính”. Trong thời gian đó, Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu cũng đóng vai trò hỗ trợ và dẫn dắt vô cùng quan trọng. Với tâm tính đạm bạc, không màng danh lợi, bà từ chối đặc quyền buông rèm nhiếp chính; đồng thời dùng uy vọng tôn quý của mình để dốc lòng ủng hộ và phò tá vị hoàng tôn còn nhỏ tuổi này.

Vì đã có kinh nghiệm phò tá Hoàng đế Thuận Trị, bà xử lý chính sự ung dung hơn và có thể đưa ra nhiều chỉ dẫn cho Hoàng đế Khang Hy. Tuy nhiên, thay vì chỉ trao cho con cá, bà chọn cách dạy Hoàng đế cách câu cá. Việc giáo dục Hoàng đế Khang Hy của bà thiên về răn dạy và khích lệ, dẫn dắt ông lĩnh hội đạo trị quốc của bậc đế vương.

Hiếu Trang Thái hậu từng tự tay viết thư răn dạy Hoàng đế Khang Hy rằng: “Cổ nhân thường nói, làm Hoàng đế rất khó. Bách tính trong thiên hạ đều đặt kỳ vọng vào Hoàng đế. Cho nên, bậc quân vương phải thấu hiểu sâu sắc chân lý ‘được lòng dân thì được thiên hạ’, phải khiến cho bốn bể an cư lạc nghiệp thì giang sơn mới có thể vững bền.” Bà còn ân cần dặn dò: “Cháu phải khoan dung nhân ái, ôn hòa cung kính, cẩn trọng trong lời nói và hành động, chăm chỉ việc triều chính. Có như vậy mới kế thừa được cơ nghiệp của tổ tiên, ta mới có thể yên lòng.”

Ngao Bái lộng quyền

“Ngao Bái và Át Tất Long vì chuyện Khoanh đất mà giết chết Thượng thư Tô Nạp Hải, Tổng đốc Chu Xương Tộ và Tuần phủ Vương Đăng Liên, quả thực là vô cùng oan ức. Những việc như thế này Trẫm không nhẫn tâm làm. Nhóm người Chu Xương Tộ (gồm Chu Xương Tộ, Tô Nạp Hải, Vương Đăng Liên) chẳng những không đáng bị giết, mà ngay cả khép tội cũng là không nên.” — Hoàng đế Khang Hy.

(Nguồn: “Chí vu ba đồ lỗ công Ngao Bái, át tất long vị khuyên địa sự sát Thượng Thư Tô Nạp Hải, Tổng Đốc Chu Xương Tộ, Tuần Phủ Vương Đăng Liên oan ức thù thậm. Thử đẳng sự giai trẫm sở bất nhẫn, giả Chu Xương Tộ đẳng bất đãn bất đương sát tịnh, tính bất đương trị tội dã.” — “Khang Hy Triều Thực Lục”)

Tranh chân dung quyền thần Ngao Bái mặc triều phục. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Hoàng đế Khang Hy ngày một trưởng thành, toàn bộ quốc gia dưới chế độ chính trị tốt cũng vận hành bình ổn. Thế nhưng, thế sự khó lường, lòng người dễ đổi, chế độ phụ chính tuy đã ngăn được tệ nạn tôn thất chuyên quyền, nhưng liệu bốn vị đại thần kia có thực sự giữ vững tâm nguyện ban đầu, vô tư phò tá hoàng đế trẻ tuổi như lời thề xưa hay không?

Trong bốn vị phụ thần, kẻ kiêu ngạo ngang ngược nổi tiếng nhất chính là Ngao Bái. Thuở đầu, Ngao Bái vốn là một vị tướng dũng cảm, thiện chiến và hết mực trung thành. Ông ta từng theo Thái Tông Hoàng Thái Cực Nam chinh Bắc chiến, lập nhiều chiến công hiển hách và trở thành tâm phúc của Thái Tông. Với danh hiệu “Ba Đồ Lỗ” (danh xưng dũng sĩ) của người tộc Mãn Châu, võ công của ông ta vô cùng cao cường, tương truyền có thể bắn mũi tên sắt cắm sâu vào cổng thành mà mười mấy thị vệ hợp lực cũng không rút ra được, qua đó có thể thấy phần nào sự dũng mãnh và gan góc của ông ta.

Ngao Bái quân công hiển hách nhưng thứ hạng trong hàng phụ thần lại đứng cuối, tất nhiên không cam tâm chịu dưới quyền người khác, dần dà không kiềm chế được dã tâm tranh quyền đoạt lợi. Ông ta bắt đầu lợi dụng chức quyền để trừ khử những kẻ đối đầu, ý đồ phá vỡ sự cân bằng của chế độ bốn đại thần phụ chính. Ví như, trước kia Ngao Bái vốn có thù oán với Nội đại thần Phí Dương Cổ. Vào năm phụ chính thứ hai, ông ta đã thêu dệt tội danh để giết chết Phí Dương Cổ cùng hai người con trai. Về sau, Ngao Bái ngày càng lộng quyền, bắt đầu gây dựng thế lực trong triều; thân thích của ông ta cùng những kẻ xu nịnh như em trai, cháu trai và Đại học sĩ Ban Bố Nhĩ Thiện lần lượt theo phe ông ta.

Khi nghị bàn chính sự, thái độ của Ngao Bái lại càng ngông cuồng tự cao tự đại. Ông ta cậy mình có quân công nên lời nói và hành động cực kỳ bạo ngược, khiến trăm quan khiếp sợ. Ba vị phụ thần còn lại lẽ nào lại bỏ qua sao? Bản ‘Thanh sử cảo’ có ghi rằng: “Sách Ni tuổi cao, Át Tất Long nhu nhược, Tô Khắc Tát Cáp thiển cận, dù tâm không phục hành vi của Ngao Bái nhưng mà cảm thấy bản thân không thể tranh giành”. Người đứng đầu nhóm phụ chính là Sách Ni tuổi cao sức yếu, người thứ hai là Tô Khắc Tát Cáp từng trải ít nhất, người thứ ba là Át Tất Long thì mê muội hèn nhát; cả ba đều không phải đối thủ của Ngao Bái, đối với hành vi của ông ta chỉ biết giận mà không dám nói gì.

Tuy nhiên, người mà Ngao Bái căm ghét nhất chính là Tô Khắc Tát Cáp và coi ông ta là đối thủ chính trị lớn nhất của mình. Với thân phận là con trai của Ngạch Phụ, Tô Khắc Tát Cáp rất được hoàng gia coi trọng, do đó vị trí của ông trong hàng ngũ cố mệnh đại thần chỉ đứng sau Sách Ni. Điều thú vị là Tô Khắc Tát Cáp và Ngao Bái vốn là thông gia, lẽ ra có khả năng kết thành vây cánh nhất. Thế nhưng, Tô Khắc Tát Cáp không ưa thái độ hống hách vênh váo của Ngao Bái nên khi nghị luận chính sự luôn đối đầu trực diện, khiến oán hận giữa hai người ngày càng sâu sắc.

Hơn nữa, Tô Khắc Tát Cáp thuộc Chính Bạch kỳ, vốn là kỳ do Đa Nhĩ Cổn thống lĩnh, có thâm thù với Lưỡng Hoàng Kỳ do đích thân hoàng đế thống lãnh. Vì vậy, Tô Khắc Tát Cáp mâu thuẫn chồng chất với ba vị phụ thần còn lại, bản thân rơi vào thế cô lập. Thế là Ngao Bái bèn mưu tính lợi dụng sự kiện “Khoanh đất” để gây sóng gió, rồi tiến thêm một bước nhằm mục đích cô lập và chèn ép Tô Khắc Tát Cáp.

Trước kia, khi Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính đã lợi dụng quyền thế để ưu tiên khoanh vùng ruộng đất, chia những phần đất tốt cho Chính Bạch Kỳ, sau đó mới đến Tương Hoàng Kỳ, khiến cho các thành viên Lưỡng Hoàng Kỳ bất mãn. 20 năm sau, vào tháng Giêng năm Khang Hy thứ năm (1666), Ngao Bái khơi lại chuyện xưa, yêu cầu phân chia lại đất khoanh vùng, quả nhiên nhận được sự ủng hộ của các đại thần thuộc Hoàng Kỳ và thậm chí là cả các vị phụ thần. Nhưng thực tế là dân chúng các kỳ đã an cư lạc nghiệp từ lâu, việc đột ngột di dời sẽ chỉ gây thêm náo loạn cho kinh thành.

Do đó, Hộ bộ Thượng thư thuộc Chính Bạch Kỳ là Tô Nạp Hải đã tỏ ý phản đối: “Chuyện khoanh đất đã qua lâu rồi, năm Khang Hy thứ ba triều đình đã quy định không được khoanh đất của dân. Vì vậy hiện tại không thích hợp để thay đổi”. Ngao Bái lại nhất quyết làm theo ý mình, mượn danh nghĩa “xưng chỉ” (truyền ý chỉ của Vua) để cưỡng ép ban bố ý chỉ đổi đất. Hành động này gây xôn xao khắp thành, lòng dân hoang mang lo sợ.

Đến tháng mười một, các quan viên địa phương gần kinh thành cũng lần lượt dâng sớ phản đối. Tổng đốc của Trực Đãi Tỉnh là Chu Xương Tộ nói: “Nếu đây là ý chỉ của Hoàng thượng, thần không dám quá phận mà thượng tấu. Chỉ là tận mắt chứng kiến quân dân khốn đốn, mong Hoàng thượng lập tức hạ chiếu dừng việc đổi đất”. Tuần phủ Vương Đăng Liên cũng nói: “Từ khi chiếu thư ban xuống, đất thuộc các kỳ chờ đổi, đất dân chờ khoanh, mọi người đều bỏ canh tác, ruộng đồng hoang vu, mong lập tức dừng việc này lại”.

Chỉ trong vòng một tháng, Ngao Bái đã giả mạo thánh chỉ, đem Tô Nạp Hải, Chu Xương Tộ và Vương Đăng Liên cùng bắt giữ rồi xử trảm. Cả ba người họ đều là cao quan từ hàng Nhị phẩm trở lên, vậy mà Ngao Bái nói giết là giết, đủ thấy dã tâm thâm độc và quyền thế lớn đến nhường nào. Hoàng Đế Khang Hy khi đó tuy mới 13 tuổi nhưng cũng hiểu rằng chuyện khoanh đất liên quan mật thiết đến dân sinh kinh thành, nên đã đặc biệt triệu kiến bốn vị phụ thần để hỏi han. Do mâu thuẫn giữa Hoàng Kỳ và Bạch Kỳ, ngoại trừ Tô Khắc Tát Cáp im lặng không nói, cả Sách Ni và Át Tất Long cũng đồng ý khép ba người Tô Nạp Hải vào trọng tội.

Lý trí mách bảo, Thiên tử tuổi còn trẻ nhưng cũng nhận thức được tính nghiêm trọng của sự kiện này, cho nên từ đầu đến cuối vẫn không đồng ý chủ trương của Ngao Bái. Thế nhưng đại thần lạm dụng quyền hành kiêu căng ngạo mạn, vẫn giả danh nghĩa Thiên tử, xem mạng người như cỏ rác. Cái chết của ba người họ khiến Hoàng đế Khang Hy vô cùng đau xót. Mãi đến 40 năm sau, khi Hoàng đế Khang Hy hồi tưởng lại sự việc này trước quần thần, Ngài vẫn gọi họ là những người “chịu nỗi oan ức tột cùng”, sự tiếc nuối và đau xót thể hiện rõ qua từng lời nói.

Ung dung điềm nhiên

“Ngao Bái uổng phí được xưng là cố mệnh đại thần, nhưng lại nhất mực trộm đoạt quyền hành, thao túng triều chính.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: “Cái Khang Hy tru Ngao Bái chiếu diệc hữu, vọng xưng cố mệnh mạng đại thần thiết lộng uy quyền.” — “Thập Diệp Dã Văn”)

Sau khi Hoàng đế Khang Hy lên nắm quyền, ông đã tiếp nối truyền thống “Ngự Môn Thính Chính” (nghe chính sự tại cửa điện) tại Càn Thanh Môn. Trong ảnh là tấm biển tên của Càn Thanh Môn. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Ngao Bái với cấp dưới thì nắm quyền sinh sát trong tay, với cấp trên lại càng ngạo mạn vô lễ. Ông ta thấy Hoàng đế Khang Hy tuổi còn nhỏ lại nhân từ khoan dung, dần dần không coi Hoàng đế ra gì, thường gọi thẳng Hoàng đế là “tiểu hài tử” (đứa trẻ), thậm chí còn nói năng lỗ mãng.

Theo ghi chép trong các tiểu thuyết bút ký, có một hôm Ngao Bái chuẩn bị tấu sự, thấy Hoàng đế Khang Hy đang đọc sách Nho thì rất không hài lòng, liền không khách khí mà “phản đối thẳng thừng”: “Theo chế độ của Đại Thanh ta, Hoàng thượng nên đọc nhiều kinh Lạt Ma, chứ không phải sách của đám nho sinh.” Khang Hy mỉm cười đáp: “Mỗi thời mỗi khác. Đại Thanh đã làm chủ Trung Nguyên, nếu không đọc sách Khổng Tử thì thật vô lý. Trẫm cho rằng tam giáo bình đẳng, không phân cao thấp, ái khanh sao lại có kiến thức hạn hẹp như vậy?”

Ngao Bái lại tức giận nói: “Hoàng thượng vừa tự mình chấp chính đã cự tuyệt lời can gián trung thành của thần, vậy thần còn dám hỏi đến quốc sự nữa sao!” Nói đoạn, ông ta phất tay áo định cáo lui. Khang Hy vẫn ôn tồn trấn an: “Trẫm không phải vị quân chủ cự tuyệt lời can gián, đọc sách cũng chẳng phải việc xấu gì. Ái khanh nên bình tâm mà suy xét.” Ngao Bái vẫn không chịu buông tha: “Hoàng thượng, xin hãy đem lời của thần nói để cho các thần tử thảo luận. Nếu lời thần có gì sai sót, thần nguyện lấy cái chết tạ tội.” Khang Hy biết tính tình ông ta kiêu ngạo phóng túng nên cũng không so đo, chỉ cười trừ cho qua.

Lại một lần khác, Ngao Bái thỉnh cầu gia phong cho một vị tiền bối trong gia tộc với lý do người này từng lập công lớn khi theo Thái Tông Hoàng Thái Cực chinh phạt Triều Tiên. Hoàng đế Khang Hy khước từ rằng: “Không phải công tích của vị ấy không hiển hách, mà là ân thưởng của Tiên đế dành cho vị ấy đã rất hậu hĩnh rồi. Sao hôm nay còn xin phong thưởng? Trẫm không dám vượt qua định lệ của Tiên hoàng, xin ái khanh tự trọng.” Ngao Bái không chịu tuân chiếu, còn ra sức biện bạch. Hoàng đế Khang Hy trong lòng vốn đã rất chán ghét sự hống hách vô lễ của ông ta, nhưng vì muốn giữ lại chút thể diện cho cố mệnh đại thần nên vẫn bình thản trấn an: “Trẫm sẽ có chỉ dụ khác, ái khanh không cần quá lao tâm phí sức.” Ngao Bái liền lập tức tạ ơn, tự cho rằng đã được Hoàng đế ân chuẩn, qua đó thấy rõ sự ngang ngược lộng quyền đến mức nào.

So với một Ngao Bái kiêu ngạo bất tuân, Hoàng đế Khang Hy đã thể hiện trí tuệ và hàm dưỡng vượt xa độ tuổi của mình. Ngay cả trước những thử thách sinh tử, Hoàng đế Khang Hy vẫn có thể thản nhiên bất động, hóa giải nguy nan thành vô hình.

Trong tiểu thuyết bút ký còn ghi lại một sự việc, có một ngày Ngao Bái cáo bệnh không lên triều, Hoàng đế Khang Hy đích thân đến phủ thăm hỏi. Khi bước vào phòng ngủ của Ngao Bái, một thị vệ có tính cảnh giác cao thấy sắc mặt Ngao Bái khác thường liền lập tức xông đến trước giường, lật tấm chiếu lên, bên dưới lộ ra một con dao găm sắc lẹm. Trong tình thế vừa nguy cấp vừa khó xử này, Hoàng đế Khang Hy lại mỉm cười thản nhiên nói: “Đao bất ly thân là tập tục của người Mãn xưa, cũng không có gì lạ cả.” Nói xong liền bình thản hồi cung.

Bề ngoài, Hoàng đế Khang Hy đối với Ngao Bái không lộ vui mừng hay tức giận, từng bước nhượng bộ, nhưng thực chất ông đang chờ đợi thời cơ để phản kích. Trong khi đó, Hiếu Trang Thái hậu và các phụ thần khác cũng đang âm thầm hoặc công khai tương trợ Hoàng đế Khang Hy chế ngự Ngao Bái, hy vọng Khang Hy sớm tự mình chấp chính để giải trừ đại quyền của ông ta. Năm Khang Hy thứ 4 (1665), Hoàng đế Khang Hy tổ chức hôn lễ, Hiếu Trang đã chọn cưới cháu gái của Sách Ni là Hách Xá Lý thị làm Hoàng hậu. Sau sáu năm ba tháng, Khang Hy 14 tuổi, đã đến tuổi tự mình chấp chính, Sách Ni đại diện cho bốn vị phụ thần nhiều lần dâng tấu xin Khang Hy tự mình chấp chính.

Ban đầu Hoàng đế Khang Hy cho rằng thời cơ chưa chín muồi nên giữ sớ lại không công bố, không lâu sau Sách Ni qua đời vì bệnh, Khang Hy bèn dẫn ba vị phụ thần bái kiến Hiếu Trang Thái hậu, định ngày làm lễ tự mình chính. Ngày 03 tháng 07 năm đó, tại điện Thái Hòa, Khang Hy tiếp nhận sự chúc mừng của văn võ bá quan và chiêu cáo thiên hạ tin tức tự mình chấp chính. Sau đó, Hoàng đế Khang Hy tiếp nối chế độ “Ngự Môn Thính Chính” thời Thuận Trị, chính thức xử lý chính vụ. Tuy nhiên Ngao Bái tham luyến quyền vị, tiếp tục can thiệp triều chính, cộng thêm việc văn võ bá quan trong triều đa phần là môn hạ của ông ta nên ý chỉ của Hoàng đế không thể thực sự thi hành.

Lúc này, Tô Khắc Tát Cáp với tư cách là người đứng đầu hàng phụ thần cũng đứng ra trợ giúp Hoàng đế Khang Hy. Ông nhiều lần tấu lên Hiếu Trang Thái hậu, bày tỏ quyết tâm từ bỏ chức vị phụ thần: “Buổi tối giao trả quyền chấp chính cho Hoàng thượng, sáng sớm hôm sau liền đi trông coi lăng tẩm cho Tiên đế”. Một khi Tô Khắc Tát Cáp từ nhiệm, chế độ phụ chính sẽ không còn tồn tại, Ngao Bái cũng không còn lý do để tiếp tục lộng quyền. Do đó, ông ta quyết định ra tay với Tô Khắc Tát Cáp. Ngao Bái lợi dụng ngôn luận, lợi dụng vây cánh tận sức thêu dệt, định cho Tô Khắc Tát Cáp 24 tội trạng, đòi xử lăng trì và tru di cửu tộc.

Đương nhiên Hoàng đế Khang Hy biết rõ tâm địa hiểm độc của Ngao Bái nên quyết đoán bác bỏ bản tấu chương. Nhưng Ngao Bái từng bước ép sát, “Xắn tay thượng tấu mỗi ngày không biết mệt mỏi”. Trước mặt Thiên tử, ông ta không còn chút lễ tiết của kẻ làm tôi, càng không có phong thái của một vị đại tướng, xắn tay áo, múa may chân tay, gào thét chất vấn Khang Hy suốt cả ngày, kiên quyết đòi xử tử Tô Khắc Tát Cáp.

Đây là lần đầu tiên quân thần chính thức giao phong. Vị thiếu niên Khang Hy mười mấy tuổi, đối mặt với một Ngao Bái võ công cao cường lại lộng hành ngang ngược, vẫn “nhất quyết không chuẩn y thỉnh cầu”, nỗ lực bảo toàn mạng sống cho Tô Khắc Tát Cáp. Nhưng kết quả của cuộc tranh luận này vẫn là Ngao Bái chiếm thế thượng phong, khiến nhà Tô Khắc Tát Cáp bị diệt môn. Thêm một vụ án đổ máu nữa đã khiến Hoàng đế Khang Hy hoàn toàn thất vọng về Ngao Bái, ông không cân nhắc đến tình cảm mà Tiên đế ủy thác nữa, mà bắt đầu mưu tính đại kế diệt trừ Ngao Bái.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/5/23/n12131668.htm