Tác giả: Tần Chính
[ChanhKien.org]
Lời của Ban biên tập: Loạt bài này được viết dựa trên lý giải của tác giả đối với luận thuật trong “Kim Cương Kinh”. Chúng tôi cho rằng bài viết này có giá trị tham khảo nhất định đối với việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ trong giới tôn giáo nên đã đăng lại tại đây. Đối với các đệ tử Đại Pháp không có liên quan đến việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ tôn giáo thì không cần thiết phải đọc. Hy vọng mọi người dĩ Pháp vi Sư, làm tốt ba việc mà Sư phụ yêu cầu chúng ta làm.
(Theo Ban biên tập báo Nhân Dân: “Luận giải Kim Cương Kinh” là những tâm đắc thảo luận nghiên cứu Kinh Kim Cương giữa tiên sinh Tần Chính với bạn bè trong giới Phật giáo).
Đàm luận thứ 8
1. Chúng ta hãy cùng xem “Đệ nhị thập nhất phẩm phi thuyết sở thuyết phần”:
“Tu-bồ-đề! Nhữ vật vị Như lai tác thị niệm: Ngã đương hữu sở thuyết Pháp, mạc tác thị niệm. Hà dĩ cố? Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp tức vi báng Phật, bất năng giải ngã sở thuyết cố”. (Tạm dịch: Đoạn thứ 21 – “Không năng thuyết và sở thuyết”: “Này Tu-bồ-đề! ông chớ bảo Như Lai khởi ý nghĩ thế này: ta đang thuyết Pháp, chớ khởi cái ý nghĩ ấy. Vì cớ sao? Nếu người nói Như Lai có nói Pháp tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu nghĩa ta đã nói). Điều này có nghĩa là gì? Từ mặt chữ mà lý giải thì dường như cực kỳ hỗn loạn, làm sao có thể nói “Nếu người nói Như Lai có nói Pháp” tức là phỉ báng Phật? Lẽ nào điều mà Phật giảng không phải là Pháp chăng? Kỳ thực, Thích Ca Mâu Ni ở đây đang cảnh báo các đệ tử tu hành và người đời sau rằng, bởi vì Pháp mà Ngài giảng chỉ là kể cho con người thời đó nghe những câu chuyện tu luyện của Ngài và một số thể ngộ của Ngài đối với Pháp lý của vũ trụ tầng ấy, cũng như nói bạn đang ở trên bầu trời rất cao và cảm nhận được gió; khi bạn xuống dưới nói cho mọi người nghe về gió, thì những điều bạn mô tả có phải chính là bản thân cơn gió đó không? Cơn gió ấy, dù bạn có dùng ngàn vạn cách ví von hay muôn kiểu giải thích, thì rốt cuộc vẫn không phải là bản thân Pháp. Cho nên Lão Tử nói: “Ta không biết tên của nó là gì, miễn cưỡng gọi nó là Đạo; lại miễn cưỡng gọi nó là Đại.” Vì vậy, Thích Ca nói: Tu-bồ-đề à, ông đừng cho rằng ta có ý nghĩ như thế này: ở đây ta muốn thuyết Pháp, nếu nghĩ như vậy thì sẽ không thể thực sự lý giải được hàm nghĩa chân chính mà ta đã giảng.
Phật Pháp là gì? Chỉ có tu luyện đạt đến tầng cao thì mới thực sự nhìn thấy và hiểu rõ. Tóm lại: Năm xưa Thích Ca quả thực không giảng ra Pháp lý chân chính của vũ trụ. Nhưng lời mà Ngài giảng đều mang Phật tính, bởi vì cảnh giới của Thích Ca Mâu Ni là cảnh giới của Phật Như Lai. Vậy thì người tu luyện, nếu tu luyện theo phương pháp “Giới – Định – Huệ” của Ngài, người đại căn khí có thể đạt được viên mãn, nhưng điều đó cũng chỉ giới hạn ở phó nguyên thần. “Tu Bồ Đề! Thuyết Pháp giả, Vô Pháp khả thuyết, Thị danh thuyết Pháp.” Tạm dịch: Này Tu-bồ-đề! Người thuyết Pháp thì không có Pháp nào có thể giảng, đó mới gọi là thuyết Pháp. Bản dịch câu này còn tồn tại khiếm khuyết, do đó dễ dẫn đến cách hiểu sai lệch.
Ý nghĩa thực sự chính là như điều Lão Tử đã nói trước đó: “Miễn cưỡng gọi tên nó”, chứ không phải nói rằng bản thân vũ trụ hay tầng cảnh giới Như Lai ấy là không có Pháp. Không có Pháp thì Như Lai còn giảng gì đây? Nói làm thế nào để an trụ cái tâm đó? Trí huệ của Như Lai sinh ra như thế nào? Năng lực của Ngài lại vận hành ra sao? Vì thế, không thể hiểu một cách đơn giản như vậy.
Khi Cưu Ma La Thập dịch bộ kinh này, bối cảnh xã hội – văn hóa lúc bấy giờ là thời kỳ Huyền học (玄学) thịnh hành. Bất luận là quan lại quyền quý hay giới văn nhân mặc khách, đều thích bàn luận về “huyền”. Cái gọi là “huyền” ấy, kỳ thực là một khái niệm mang tính biện chứng logic; bản thân nó sẽ dễ khiến những người chưa hiểu rõ đạo Pháp rơi vào trạng thái mê hoặc kiểu “vô khả vô bất khả” (cũng được mà không cũng chẳng sao). Cưu Ma La Thập khi dịch kinh này, dĩ nhiên khó tránh khỏi sự ảnh hưởng ấy, nên tự nhiên cũng đã dùng phương thức ngôn ngữ của con người thời đó để dịch.
“Nhĩ thời Tuệ Mạng Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh ư vị lai thế, văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ? Phật ngôn: Tu-bồ-đề! Bỉ phi chúng sanh, phi bất chúng sanh. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Chúng sanh, chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh, thị danh chúng sanh”. (Tạm dịch: Khi ấy ngài Tuệ Mệnh Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Có những chúng sinh nào, vào đời vị lai, khi nghe nói pháp này, mà sinh lòng tin chăng? Phật bảo: Tu-bồ-đề, kia chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chẳng chúng sanh. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, chúng sanh, chúng sanh ấy Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh”. Ở đây thêm hai chữ “Tuệ Mệnh” phía trước tên Tu-bồ-đề, kỳ thực đó là lời tán dương của người đời sau, cũng giống như nói Mục Kiền Liên “thần thông đệ nhất” vậy.
Trưởng lão Tu-bồ-đề được Phật giáo tôn xưng là “tuệ mệnh đệ nhất”, tức là đứng đầu về trí tuệ và cơ duyên, có thể vì câu hỏi của ông mà Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng bộ “Kim Cương Kinh”. Nhưng từ câu trả lời của ông, có thể thấy rằng vào lúc ấy, khi dùng trí tuệ của mình để lĩnh hội cảnh giới mà Đức Phật giảng, ông cũng đã cảm thấy có phần khó khăn, ông lo rằng chúng sinh đời vị lai khi nghe Pháp được giảng như vậy, liệu có vì không hiểu mà sinh tâm nghi hoặc hay không? Do đó mới có câu hỏi này. Câu trả lời của Thích Ca Mâu Ni, xét theo đoạn kinh văn này, rõ ràng lại càng khiến người đời sau khó mà hiểu nổi, kỳ thực đó là do người dịch dùng cách thức huyền học mà diễn đạt, khiến lời văn trở nên quanh co, rối rắm, đọc lên khó hiểu, điều này cũng giống như vấn đề đã nêu trước đó, lúc ấy, Thích Ca đã chỉnh lại lời Tu-bồ-đề rằng: “Đừng nghi ngờ như vậy”. Vậy nên ở đây xuất hiện nhiều lời như thế, là vì người ghi nhớ không giống nhau. Câu này lại bị dịch một cách lộn xộn, vẫn dùng phương pháp nhất quán là khẳng định và phủ định đồng thời tồn tại, kỳ thực, nói trắng một câu thì chính là: có những chúng sinh như vậy, cũng có những người vì một niệm mà phát sinh tín tâm thanh tịnh — đều có cả, không thể đều hiểu như nhau.
2. “Đệ nhị thập nhị phẩm: Vô pháp khả đắc phần”: “Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Phật đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vi vô sở đắc da? Phật ngôn: Như thị, như thị! Tu-bồ-đề! Ngã ư A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, nãi chí vô hữu thiểu pháp khả đắc, thị danh A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. (Tạm dịch: “Đoạn thứ 22 – Không có pháp nào có thể đắc”: “Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay là không được ư? Phật bảo: Đúng như thế, như thế! Này Tu-bồ-đề, ta đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn là không có một chút Pháp có thể đắc, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Lời này đối chiếu với phần trước thì cho thấy Tu-bồ-đề vẫn chưa thật sự hiểu rõ, vẫn còn nghi hoặc rằng Đức Phật chứng đắc Chính Giác, khai ngộ, lẽ nào thật sự không đắc được bất kỳ Pháp nào sao? Đức Phật thấy ông vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của lời mình đã nói, liền ngay nơi đó mà triển hiện cho ông, và bảo rằng: đúng như vậy, đúng như vậy. Không phải như ông hiểu. Ý nghĩa mà con người có thể hiểu được là nói khai ngộ chính là nhớ lại cái bản lai tiên thiên vốn có, mọi thứ vốn có sẵn đầy đủ từ trước, không thêm một phần nào, cũng không bớt một phần nào, chỉ là chứng ngộ theo cách phản bổn quy chân, cho nên không có bất kỳ một chút Pháp nào nơi sinh mệnh là do từ bên ngoài thêm vào. Ở đây chúng ta có thể tham chiếu lời của Tô Thức trong tác phẩm “Tiền Xích Bích Phú” như sau: “Thiên địa chi gian, vật các hữu chủ, cẩu phi kỷ chi sở hữu, phi nhất hào nhi mạc thủ”. (Tạm dịch: “Ở giữa Trời đất, vạn vật đều có chủ của nó, nếu không phải là thứ thuộc về mình, thì dẫu một ly cũng không nên lấy).
Dụng ý của Đức Phật là khuyên các đệ tử đừng khởi tâm mong cầu quá mức, mà hãy “vô sở cầu nhi tự đắc”. Đây là trạng thái trong thời kỳ tu luyện bình thường, dĩ nhiên vào thời kỳ Chính Pháp của vũ trụ thì không phải như thế. Ngày nay lại càng không đơn giản như vậy, bởi vì nó không phải chỉ là sự tu luyện giải thoát đơn thuần của một sinh mệnh, mà là sự canh tân và tái tạo của toàn bộ vũ trụ, những điều căn bản ấy hoàn toàn không còn liên quan gì đến cựu vũ trụ nữa, vì thế mọi thứ đều không quan trọng, ngoại trừ thái độ đối với Pháp và đối với Phật Chủ. Và mức độ biểu hiện của thái độ ấy sẽ quyết định tầng thứ và tương lai của sinh mệnh.
3. “Đệ nhị thập tam phẩm-Tịnh tâm hành thiện phần”: Phục thứ, Tu-bồ-đề! Thị Pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ, thị danh A-nậu-đa-la Tam Miệu Tam-bồ-đề”. (Tạm dịch: “Đoạn thứ 23: Tâm trong sạch làm việc thiện”: “Lại nữa Tu-bồ-đề, Pháp này bình đẳng không có cao thấp, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”). Thấy Tu-bồ-đề đã có chỗ lĩnh ngộ được, Thích Ca Mâu Ni lại nói “phục thứ”, nghĩa là “ta nói tiếp đây”, hoặc “nói thêm nữa”. Căn cứ vào lời này mà xét, bản ý của Thích Ca Mâu Ni là “có Pháp”, chứ không phải “không có Pháp”; trong bản dịch của Cưu Ma La Thập, câu “Pháp vô định Pháp” thường được dịch khiến người đời sau cảm thấy khó hiểu; bởi vì thực chất Pháp của vũ trụ vốn tồn tại, cho nên Thích Ca Mâu Ni mới giảng rằng “bất ưng thủ (câu) Pháp” (không nên câu nệ chấp trước vào Pháp). Bởi vì trong tất cả vật chất đều hàm chứa đặc tính của vũ trụ, không nơi nào không có, trong bất kỳ loại vật chất nào cũng đều có Pháp tính, đều do Pháp thành tựu nên; tất cả những gì do Pháp tạo thành ấy cũng đều là những trạng thái tồn tại của Pháp ở những tầng thứ khác nhau; Trang Tử nói: “Nếu dùng Đạo mà xem xét, thì vạn vật không có cao thấp, sang hèn”. Đó chính là ý này. Chỉ có hiểu rõ đạo lý này mới biết rằng cảnh giới đồng hóa với Pháp được gọi là “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Nhưng nếu xét từ góc độ cá thể sinh mệnh, thì quả thật vẫn có tầng thứ, đẳng cấp và sự sang hèn khác nhau. “Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp, tắc đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. (Tạm dịch: Do không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả tu tất cả pháp lành tức được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác). Bởi vì “Nhất thiết Thánh hiền giai y vô vi pháp nhi hữu khu biệt”. (Tạm dịch: nhất loạt Thánh hiền đều dựa theo Pháp vô vi mà có sự sai biệt). Tất cả thiện Pháp mà họ thành tựu, người tu hành nếu lấy tâm tính không vô chấp để tu luyện, thì sẽ chứng ngộ được sự ngộ Đạo về cái “Nhất” như vậy. Đương nhiên, ở những tầng thứ khác nhau, nhận thức về “Nhất” cũng không giống nhau, nhưng tất cả đều được sinh ra từ đặc tính căn bản ban đầu đó.
“Nhất trong nhất loạt” phải thuộc về “cái nhất của nhất loạt”, và phải căn cứ theo yêu cầu và quy luật của “cái nhất của nhất loạt” mà tự điều chỉnh chính mình. Nếu có sự sai lệch xảy ra thì tất nhiên nó sẽ bị đào thải. Ví dụ như trong quá khứ, con đường tu luyện mà nhân loại quen thuộc nhất và đạt đến đại thành tựu là Nho gia: lấy “cách vật trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” làm con đường để thành Thánh. Tu luyện theo Đạo giáo, ở Trung Quốc thường có hai phái là Chính Nhất và Toàn Chân, ngộ chân lý rồi cuối cùng trở thành “Chân nhân”. Tu theo Phật giáo, chiểu theo “Giới – Định – Huệ” y theo lời dạy đó mà thực hành, viên mãn tính Không, bản tính tự tại mà thành Phật. Tất cả đều sẽ ở tầng thứ tương ứng mà chứng ngộ cùng một chân lý vũ trụ và đạt đến sự viên mãn của tự tính. Điều này chỉ trạng thái tu luyện bình thường, phổ biến của nhân loại trong năm nghìn năm qua, ngoài ra còn có rất nhiều Đại Pháp cao thâm được truyền dạy theo phương thức mật truyền, chưa được công khai ra thế gian. Trong vũ trụ mênh mông bao la, những Pháp môn tu luyện mà nhân loại biết được cũng vô cùng ít ỏi. Những gì được công khai truyền trong xã hội nhận loại trước đây cũng đều rất thấp. Đây cũng là điều mà nhân loại nên biết. Bởi vì con người thường thích dùng tình cảm để đánh giá sự vật, nên những thứ có niên đại lâu đời một chút thì trong tình cảm người ta luôn xem chúng rất cao. Kỳ thực thời gian và không gian cũng chỉ là sự thể hiện trí huệ của tạo hóa vũ trụ, cao thấp không phải xét theo niên đại lâu dài. Ví như việc người xưa ăn cám bã không có nghĩa là tốt hơn việc người ngày nay ăn cơm gạo. Mọi người cần phải lý trí mà phân biệt rõ những điều này. Có lẽ những điều trước đây là để đặt nền tảng cho Đại Pháp, Đại Đạo chân chính về sau chăng?
“Tu Bồ Đề! Sở ngôn thiện Pháp giả, Như Lai thuyết tức phi thiện Pháp, thị danh thiện Pháp”. (Tạm dịch: Này Tu-bồ-đề! Nói rằng Pháp lành đó, Như Lai nói tức chẳng phải Pháp lành, ấy gọi là Pháp lành). Bản dịch sang tiếng Hán của Cưu-ma-la-thập có thể nói là đã làm khổ chúng sinh. Ý của câu này là nói rằng Như Lai có thể biết quá khứ, hiện tại và tương lai, biết rằng tất cả các Pháp của Phật, Đạo, Thần đều có quá trình thành, trụ, hoại. Ví dụ như Phật giáo, khi đến giai đoạn hoại thì chính là thời kỳ mạt kiếp. Do đó, ý nghĩa ban đầu của câu “thiện Pháp tức phi thiện Pháp, thị danh thiện Pháp” là nói rằng người ta không nên cứng nhắc cố chấp vào hình thức, Pháp của vũ trụ và đặc tính căn bản của vũ trụ vốn xưa nay chưa từng biến đổi. Còn tất cả Phật, Đạo, Thần khi ngộ Đạo từ Pháp căn bản của vũ trụ này thì lại là một quá trình diễn hóa, cần phải hiểu rõ điểm này thì mới có thể nhận thức được hàm nghĩa của “thiện Pháp” mà ta giảng. Bởi vì Thích Ca Mâu Ni trong những hoàn cảnh khác đã từng giảng về các thời kỳ ‘Chính Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, Mạt Kiếp’ trong Pháp của Ngài, cho nên mới có lời nói này. Ngài còn nói rằng vào thời mạt kiếp sẽ có Di Lặc Phật hạ thế truyền Pháp mới, con người trong thời mạt kiếp mạt Pháp chỉ có dùng Pháp mới của Di Lặc Phật mới có thể được cứu độ. Nhưng Pháp của Ngài trong thời kỳ chính truyền là có Phật quản, là Pháp của thiện (chính), người tu luyện nên tuân theo.
4. “Đệ nhị thập tứ phẩm-Phúc trí vô tỷ phần”: “Tu-bồ-đề! Nhược tam thiên đại thiên thế giới trung sở hữu chư Tu-di sơn vương, như thị đẳng thất bảo tụ, hữu nhân trì dụng bố thí; Nhược nhân dĩ thử ‘Bát-nhã ba-la-mật kinh’, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì độc tụng, vị tha nhân thuyết, ư tiền phước đức bách phần bất cập nhất, bách thiên vạn ức phần, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập”. (Tạm dịch: Đoạn thứ 24 – Phúc trí không gì sánh bằng”: “Này Tu-bồ-đề! Nếu tất cả các vị Tu Di sơn vương trong tam thiên đại thiên thế giới, nếu có người mang ra bố thí thất bảo (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, san hô, hổ phách) gộp lại. Hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát-nhã ba-la-mật này hay bốn câu kệ v.v…, tụng đọc vì người khác, thì phước đức của người này so với người trước (người bố thí thất bảo), người này trăm phần, người kia không bằng một, trăm ngàn muôn ức phần cho đến dùng toán số ví von cũng không thể bằng. Đây cũng là lời đánh giá của Thích Ca Mâu Ni sau này về Pháp mà Ngài đã giảng lần đó. Bởi vì đây là đạo lý của Phật mà Ngài vào cuối đời sau khi đạt đến quả vị Như Lai mới giảng ra. Bởi vì về phương diện tầng thứ và nội hàm quả là vượt qua những điều đã giảng trước đây.
5. “Đệ nhị thập ngũ phẩm-Hóa vô sở phần”: “Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Nhữ đẳng vật vị Như Lai tác thị niệm: Ngã đương độ chúng sanh”. (Tạm dịch: “Đoạn thứ 25 – Giáo hóa không có chỗ giáo hóa”: “Này Tu-bồ-đề! ý ông nghĩ sao? Các ông chớ bảo Như Lai khởi ý nghĩ thế này: Ta sẽ độ chúng sinh”. Thích Ca Mâu Ni giảng ra lời này cũng là vì trạng thái của vũ trụ cũ lúc bấy giờ, đó là sự bất đắc dĩ của Ngài. Bởi vì Thích Ca từ tầng thứ sáu của vũ trụ hạ xuống, ở tầng thứ cao như vậy cũng chỉ có thể độ phó nguyên thần, đối với các đệ tử của Ngài ở thế gian, Ngài chỉ có thể an bài cho họ trong luân hồi chuyển sinh qua lại để tích lũy phúc đức, còn người thực sự tu luyện thành tựu thì đều là phó nguyên thần, trong đó có những trường hợp mà mọi người đều biết, như chúng sinh từ thế giới Cực Lạc và thế giới Lưu Ly mượn thân thể để tu luyện mà thành tựu, đương nhiên còn có những trường hợp ở tầng cao hơn nữa. Đây chính là nguyên nhân vì sao nói rằng trong lịch sử từng có rất nhiều người tu thành, tổng thể mà nói là vô cùng nhiều, nhưng con người thì không một ai tu luyện mà thành tựu được. Ngài đã an bài một cách hệ thống cho đệ tử của mình trạng thái vào thời kỳ mạt Pháp mạt kiếp, bởi vì vào thời điểm ấy, Pháp Luân Thánh Vương sẽ lấy danh hiệu Phật Di Lặc hạ thế truyền Pháp, “Nhất thống đại Pháp lý”, chỉ khi vấn đề căn bản được xoay chuyển, chúng sinh đồng hóa với Đại Pháp, thì mới có thể không rời nhục thân mà tu thành Phật. Đừng nói đến các đệ tử, ngay cả nhục thân từng mang tải Đức Thích Ca Mâu Ni năm xưa cũng vẫn còn luân hồi trong thế gian, vẫn chưa đắc độ. Vậy thì, điều mà Ngài trước kia làm cho con người cũng chính là truyền ra văn hóa tu luyện của Phật, là để đặt định một nền tảng văn hóa cho sự hồng truyền của Đại Pháp sau này, đồng thời để an bài cho các đệ tử của Ngài một con đường trải qua 2500 năm tích lũy phúc đức to lớn, nhờ có điều kiện ấy mà cuối cùng mới có thể được nghe Đại Pháp, phản bổn quy chân.
“Tu-bồ-đề! Mạc tác thị niệm. Hà dĩ cố? Thật vô hữu chúng sanh Như Lai độ giả.” (tạm dịch :“Tu Bồ Đề! Chớ khởi niệm như vậy. Vì sao? Thật ra không có chúng sinh nào được Như Lai độ cả”). Điều này nói rất minh bạch rằng tức là từ trước đến nay chưa từng có một sinh mệnh ‘con người’ nào đã bước vào Tam giới mà thực sự được cứu độ. “Nhược hữu chúng sanh Như Lai độ giả, Như Lai tắc hữu ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Tu-bồ-đề! Như Lai thuyết: ‘Hữu ngã giả, tắc phi hữu ngã, nhi phàm phu chi nhân dĩ vi hữu ngã’. Tu-bồ-đề! Phàm phu giả, Như Lai thuyết tắc phi phàm phu”. (Tạm dịch: Nếu có chúng sanh Như Lai độ đó thì Như Lai ắt có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Này Tu-bồ-đề! Như Lai nói có ngã ắt không phải có ngã mà người phàm phu cho là có ngã’. Này Tu-bồ-đề! người phàm phu đó Như Lai nói tức không phải phàm phu”). Bởi vì trạng thái trong quá khứ đều là như vậy, bất luận Phật gia, Đạo gia hay Đại Thành Nho gia, cũng đều là độ phó nguyên thần của con người. Nhà tiên tri Hy Lạp cổ đại Socrates từng nói: từ vạn cổ đến nay, những người đến thế gian này kỳ thực chưa từng có ai quay trở về. Việc này trước đây vốn là thiên cơ trong thiên cơ, tuyệt đối không thể nói ra. Đó là bởi vì Phật Chủ hạ thế hồng truyền Đại Pháp của vũ trụ, đem trạng thái nguyên lai ấy hoàn toàn xoay chuyển trở lại, lần đầu tiên nói ra thiên cơ này, đồng thời truyền ra Đại Pháp tu luyện chủ nguyên thần theo cách “Pháp luyện người” độc nhất vô nhị từ trước tới nay trong lịch sử, hơn nữa điều quan trọng hơn là đang ở trong thời kỳ Chính Pháp.
Cho nên, chúng sinh cần phải minh bạch tiền đề này, thì mới có thể lý giải được trạng thái phức tạp của ngày nay, đó không còn là việc một sinh mệnh làm thế nào đi theo con đường trong quá khứ, dựa vào cảm tính của bản thân và chút hiểu biết nhỏ bé nông cạn mà làm cái gọi là “tu hành”. Khi phương hướng đã sai lệch, thì dù chư vị mỗi bước đều dùng thước đo cho thật chuẩn xác cũng có ích gì đâu? Nếu vật chất căn bản của sinh mệnh đã không còn thuần tịnh, thì dù dùng phương pháp tinh vi đến đâu để chế tạo thành phẩm, rốt cuộc còn có giá trị gì nữa? Phật, Như Lai là bậc Giác Giả vĩ đại, với đầy đủ hết thảy thần thông của Thần, không còn tồn tại hình tướng của con người, trong quá khứ, thân thể mà Ngài mượn dùng ở thế gian cũng chỉ là một vật mang tạm thời mà thôi (ngày nay và về sau thì không còn như vậy), tuy nhiên, sinh mệnh đến nơi thế gian này, Thích Ca Mâu Ni cũng biết rằng có rất nhiều không phải do tầng thấp nơi đây tạo thành, mà là đến từ những tầng thứ rất cao, vì vậy, sinh mệnh nơi thế gian cũng không hoàn toàn đều là phàm phu. Còn như nói: “Có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng phàm phu lại cho là có ngã”, vẫn là đang nói rằng không nên dùng quan niệm của con người để suy nghĩ hay lý giải những gì Như Lai giảng, suy nghĩ và hành xử, vậy thì “cái ngã của vô ngã” rốt cuộc là một trạng thái như thế nào? Chỉ người tu luyện chân chính mới tự mình biết được ý nghĩa ấy, trạng thái đó trong cảnh giới chân thực thì vốn rất giản đơn, nhưng dùng ngôn ngữ của con người, dù trăm nghìn vạn lời cũng khó mà diễn đạt. Chính là như vậy. Bởi vì giá trị của nhân loại trong quá khứ là vì Chính Pháp thời mạt kiếp mà rèn luyện thành tải thể phù hợp với yêu cầu, do đó xem ra chỉ là một phàm phu, nhưng xét theo giá trị tương lai của nó, sau này người ta sẽ biết rằng sự tồn tại ấy không phải vì phàm phu”.
6. “Đệ nhị thập lục phẩm-Pháp thân phi tướng phần”: “Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Như thị, như thị! Dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai. Phật ngôn: Tu-bồ-đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai giả”. (Tạm dịch: Đoạn 26 – Pháp thân phi tướng”: “Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng 32 tướng mà nhận biết Như Lai chăng? Tu-bồ-đề thưa rằng: Đúng vậy! Đúng vậy! Có thể dựa vào 32 tướng mà nhận biết Như Lai”). Đây là một đoạn đối thoại khiến người ngày nay rất khó hiểu, nếu biết rằng năm xưa cuộc đối thoại giữa Thích Ca Mâu Ni và Tu-bồ-đề không chỉ ở một bình diện, một tầng thứ, mà trong không gian khác còn có sự thể hiện chân thực, thì ắt sẽ minh bạch được ý nghĩa ấy. Con người thường dùng suy nghĩ và quan niệm của bản thân để suy đoán những sự việc ở tầng cao, kỳ thực tất cả đều là vọng tâm (tâm bị mê lầm). Bởi vì ý thức, trí huệ và quan niệm của con người đều rất thấp kém, hơn nữa còn mang theo dục tình mạnh mẽ và tâm lý ích kỷ, nên không thể để họ nhìn thấy hình tượng chân thật của Phật. Sự thị hiện ấy chỉ là ngẫu nhiên, trong quá khứ cũng chỉ xảy ra trong phạm vi rất nhỏ, hơn nữa chỉ thị hiện đối với những người có căn cơ cực kỳ tốt. Tu-bồ-đề đã chứng đạt đến quả vị A-la-hán, được Thích Ca Mâu Ni gọi là “Đệ nhất ly dục A-la-hán” (Vị A-la-hán đứng đầu về sự xa lìa dục vọng), lại được đại chúng tôn xưng là “huệ mạng đệ nhất” (người đứng đầu về huệ mạng), vì vậy, ông dĩ nhiên có thể thấy được Pháp tướng chân thật của Như Lai mà Đức Thích Ca Như Lai triển hiện cho mình, do đó ông vô cùng xúc động, liên tục nói: “Đúng vậy! Đúng vậy!”, chính là nói: “Ồ, ra là như vậy! Đúng là như vậy!”
“Phật ngôn: Tu-bồ-đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai giả, Chuyển Luân Thánh Vương tắc thị Như Lai” (Tạm dịch: “Phật bảo: Tu-bồ-đề! Nếu dựa vào 32 tướng mà nhận biết Như Lai, thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai”). Ở đây, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhắc đến Chuyển Luân Thánh Vương, kỳ thực đây là tôn hiệu tối thượng của bậc “Vạn Vương chi Vương” (vua của muôn vua) trong Pháp giới, còn được gọi là Pháp Luân Thánh Vương. Trong các bài giảng Pháp của Thích Ca Mâu Ni có một số lời dự báo quan trọng. Một trong số đó là: vào thời kỳ mạt Pháp, Phật Di Lặc sẽ hạ thế truyền ra Pháp mới, người tu luyện phải tu theo Pháp của Phật Di Lặc thì mới có thể đạt đến viên mãn. Một là Chuyển Luân Thánh Vương sẽ hạ thế truyền Chính Pháp vào thời kỳ mạt Pháp. Hai là trạng thái của nhân loại trong thời kỳ mạt Pháp. Ở đây gọi là Pháp Luân Thánh Vương, xét theo cấu trúc câu này thì không có nhiều giải thích, hiển nhiên năm xưa khi giảng Pháp cho đệ tử, Thích Ca Mâu Ni đã nói rất nhiều về Chuyển Luân Thánh Vương, nên đối với họ không phải là điều xa lạ, vì vậy ở đây tôi cũng không giải thích thêm. Ý nghĩa chân chính của câu này là: nếu chúng sinh muốn không rời khỏi thế tục mà thành Thánh, minh minh bạch bạch thành tựu ngay trong nhân gian, thì phải đợi đến khi Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế, dùng danh hiệu Phật Di Lặc để truyền Pháp độ nhân, tức là Như Lai — Di Lặc Như Lai.
“Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, bất ưng dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai” (Tạm dịch: “Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Như chỗ hiểu của con qua nghĩa Phật nói, không nên dựa vào 32 tướng mà nhận biết Như Lai). Câu trả lời này của Tu-bồ-đề không còn nhắm vào bản thân câu hỏi nữa, mà là dựa trên sự lĩnh hội của ông khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Pháp cho mình lúc bấy giờ, khi sư phụ và đệ tử câu thông với nhau bằng sự truyền cảm tư duy và lĩnh ngộ trong trạng thái toàn tri của cảnh giới thần thánh, Tu-bồ-đề đã nhận ra được vấn đề lúc đó, nên thưa với Thích Ca Mâu Ni rằng: Theo chỗ con hiểu về ý nghĩa chân chính như lời Phật dạy, người đời không nên dùng khái niệm 32 tướng để quán tưởng Như Lai. Vì trước kia Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy họ Pháp quán tưởng, trong “Kinh Lăng Nghiêm” cũng luận thuật rất nhiều về các phương pháp quán tưởng. Tuy nhiên, những điều ấy rốt cuộc cũng chỉ là một phương tiện thiện xảo thuộc Pháp hữu vi ở tầng thấp, nhưng muốn thật sự lý giải được Phật Pháp thì không nên chấp vào tướng, mà phải lìa tướng và nhập tính Không để chứng ngộ.
“Nhĩ thời, Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn: ‘Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.’” (Tạm dịch: “Khi ấy, Thế Tôn liền nói kệ rằng: Nếu lấy sắc mà thấy Ta, Lấy âm thanh mà cầu Ta, Người ấy hành tà đạo, Không thể thấy Như Lai”). Tu-bồ-đề được xưng là vị A-la-hán đệ nhất về ly dục, đã chứng đắc địa vị tôn quý của bậc A-la-hán hành giả A-lan-nhã an lạc. Trong phương diện đoạn trừ dục vọng, ông vô cùng dụng tâm đối với Pháp quán tưởng mà Thích Ca Mâu Ni giảng; nhờ quán tưởng mà nhận rõ dục vọng của con người vốn là hư vọng, thấp kém, thô lậu và ô uế. Bởi vì ông đang tu luyện hướng lên tầng thứ cao hơn, nên ở đây Thích Ca Mâu Ni giảng rõ đạo lý này cho ông, nhằm vào sự dụng tâm của ông đối với Pháp “quán tưởng”, có thể trong một số phương diện, ông đã vô tình cho rằng quán tưởng chính là diệu Pháp có thể mở ra mọi sự phong tỏa. Kỳ thực, ở cảnh giới cao hơn, quán tưởng hữu hình này lại trở thành một chướng ngại rất lớn, ví như người học vật lý trước kia dùng nguyên lý cơ học Newton để lý giải các vấn đề về lực trong thế giới hai chiều, giải quyết đâu vào đó, cảm thấy đó quả thật là chân lý, nhưng tại lĩnh vực vi quan của nguyên tử, khi bước vào lĩnh vực của thuyết tương đối với các biến số không gian và thời gian, thì những điều trước kia lại trở thành một chướng ngại, thậm chí là một sai lầm. Nếu lên đến cảnh giới cao hơn nữa, thì quan niệm của thuyết tương đối lại là sai. Nhưng trong phạm vi ứng dụng thích hợp ban đầu của chúng, thì đó lại chính là “chân lý” ở tầng thứ ấy. Vì vậy, trong cảnh giới Pháp của Như Lai, nếu người tu trong tâm tính không đạt đến cảnh giới tính không, mà lại tập trung vào vọng cầu vọng niệm hữu hình, thì đó chính là hướng ngoại cầu, là đi theo tà đạo, rốt cuộc vĩnh viễn không thể đắc chứng ngộ được cảnh giới của Phật.
Như Lai ở đây không phải riêng chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà là chỉ Phật tính bản nhiên. Thích Ca Mâu Ni từ tư thế “Kim cương tọa” (kiết già) dưới cội bồ đề đứng dậy, liền thốt lời đầu tiên rằng: “Kỳ tai! Kỳ tai! Đại địa chúng sanh, giai hữu Như Lai bổn lai pháp tướng, giai nhân phiền não chấp trước, bất năng chứng đắc” (Tạm dịch: Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sinh trên khắp đại địa đều sẵn có Pháp tướng bản lai của Như Lai; chỉ vì phiền não chấp trước nên không thể chứng đắc). Ý câu này là hễ hướng ngoại mà cầu tức rơi vào vọng niệm tà đạo, không thể chứng ngộ bản nhiên Phật tính, cũng chẳng thể đạt đến viên mãn cuối cùng. Vì vậy xưa kia Đạo giáo có lời răn: “Đạo bất ngoại cầu”, Phật giáo có câu: “Phật tại tâm trung”, há phải lời nói suông sao! Xét từ góc độ đó mà nói, vào thời mạt Pháp vẫn còn có người cho rằng xây dựng bao nhiêu ngôi chùa, tụng đọc bao nhiêu kinh, làm bao nhiêu việc thiện thì chính là con đường viên mãn, thật đáng buồn cười lại càng đáng thương vậy! Điều ấy hoàn toàn trái với giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni!
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48541