Lục Nhân chỉnh lý

[ChanhKien.org]

1. Bá Du thương xót mẹ

Thuở xưa có một người con trai hiếu thảo, tên là Bá Du. Mỗi khi cậu phạm lỗi, mẹ cậu luôn nghiêm khắc dạy dỗ, có lúc bà còn đánh cậu. Sau khi Bá Du trưởng thành nên người, khi cậu phạm lỗi, mẹ cậu vẫn giáo huấn cậu y như vậy. Có lần bị mẹ đánh, cậu đột nhiên òa khóc nức nở. Khi đó mẹ cậu rất ngạc nhiên, mấy chục năm qua cậu chưa từng khóc mỗi khi bị đánh, vậy nên mẹ cậu bèn hỏi: “Vì sao con lại khóc?”

Bá Du trả lời rằng: “Từ nhỏ tới lớn, mỗi khi mẹ đánh con, con đều cảm thấy rất đau. Con có thể cảm nhận được rằng, vì để dạy dỗ con nên mẹ mới làm như vậy, bởi vậy con chấp nhận bị phạt và ghi nhớ bài học giáo huấn, nên con đã không khóc. Nhưng hôm nay mẹ đánh con, con không còn thấy đau nữa, điều này nói lên rằng sức khỏe của mẹ ngày càng yếu, thời gian con phụng dưỡng mẹ càng ngày càng ít đi rồi. Nghĩ đến đây, con không kìm được sự chua xót trong lòng, nên con đã khóc!”

Cái gì gọi là lòng hiếu thảo? Lòng hiếu thảo là như thế nào? Tiếng khóc nức nở của Bá Du, chính là sự thể hiện của lòng hiếu thảo một cách tự nhiên.

Cha mẹ vì nuôi nấng con cái, để con cái trưởng thành khỏe mạnh, ngày qua ngày, năm qua năm, tuổi tác trôi qua, cha mẹ cũng già đi từng ngày. Phận làm con, càng cần phải hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ.

2. Thái Thuận dùng hai giỏ để đựng dâu tằm, khiến bọn cướp cảm động

Vào triều Hán, có một thư sinh tên là Thái Thuận, mẹ của cậu rất thích ăn dâu tằm. Một ngày nọ, Thái Thuận ra ngoài để hái dâu, cậu cầm theo hai cái giỏ, một giỏ để đựng quả màu đen và màu tím, giỏ còn lại để đựng quả màu hơi đỏ. Vì sao cần phân thành hai giỏ để đựng? Bởi vì những quả dâu tằm sắp chín đều có màu đen và màu tím, còn những quả chưa chín thì có màu đỏ. Trên đường trở về nhà, Thái Thuận gặp phải bọn cướp. Bọn chúng cũng cảm thấy khó hiểu, bèn bắt cậu lại và hỏi: “Sao nhà ngươi đi hái dâu tằm lại dùng hai cái giỏ để đựng?” Cậu đáp: “Bởi vì quả chín thì ngọt, những quả đó để cho mẹ tôi ăn. Những quả này chưa được chín lắm, nên tôi sẽ giữ lại ăn”.

Bọn cướp nghe xong liền thấy rất cảm động, vốn dĩ chúng muốn cướp lấy để ăn, nhưng giờ chúng lại quyết định thả cậu đi. Bọn cướp đều là những kẻ sát nhân không chớp mắt, vì sao lại buông tha cho Thái Thuận? Chính bởi vì lòng hiếu thảo của cậu đã thức tỉnh lương tâm của chúng. Do vậy chúng ta cần phải tin rằng “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Chỉ cần chúng ta có đức hạnh tốt, kẻ ác cũng sẽ bị cảm hóa. Khi chúng ta đối mặt với kẻ ác, thì có cần chửi mắng họ không? Không cần! Điều quan trọng nhất là chúng ta phải tự mình làm tốt, từ đó sẽ ảnh hưởng đến xã hội và những người xung quanh.

Vì cảm động nên bọn cướp đã lấy gạo, thức ăn và một số thứ đã trộm được đưa cho Thái Thuận, rồi bảo cậu mang về phụng dưỡng mẹ. Tuy nhiên, Thái Thuận đắn đo suy nghĩ một lát và quyết định không lấy. Cậu thầm nghĩ trong tâm: Nếu như mình lấy những thứ này mang về nhà, đột nhiên quan viên của quan phủ đến, vừa vào nhà liền nhìn thấy gạo của nhà Trương Tam, thức ăn của nhà Lý Tứ vì sao lại ở nhà mình? Lúc đó mình sẽ bị bắt quả tang, hết đường chối cãi. Điều này cũng sẽ tổn hại đến mẹ! Do vậy, cậu đã không cầm bất cứ đồ gì của người khác. Nhất định phải suy xét xem nguồn gốc của vật phẩm có rõ ràng hay không trước đã.

Điều này hoàn toàn phù hợp với câu nói của Khổng Tử: “Quân tử hữu cửu tư”, chính là người quân tử có chín phương diện lúc nào cũng cần phải quan sát và suy ngẫm. Trong chín điều này, có nhắc đến câu: “Kiến đắc tư nghĩa”, ý tứ rằng, khi muốn đắc được bất cứ thứ gì cũng vậy, đầu tiên chúng ta cần phải suy xét đến nguồn gốc của nó có phù hợp với đạo nghĩa hay không. Nếu trái ngược với đạo nghĩa thì tuyệt đối không thể dùng và động đến, đó chính là cái gọi là: “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”.

“Hiếu vi bách hành chi thủ”, hiếu thuận là đức tính quan trọng nhất trong tất cả các đức tính. Người con hiếu thảo thực sự, bất tri bất giác sẽ trở thành người tuân thủ các quy tắc trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

3. Thần hộ Pháp ban phúc cho gia đình có người con hiếu thảo

Trong “Trung Dung” có nhắc đến: “Họa phúc tương chí; thiện, tất tiên tri chi; bất thiện, tất tiên tri chi”, ý tứ rằng: Họa hay phúc sắp đến, nếu là điều lành thì ắt có dấu hiệu báo trước; nếu là điều chẳng lành, cũng ắt có dấu hiệu báo trước. Một người nếu ở đâu cũng hành thiện, tự nhiên sẽ có thể đạt được: “Trăm điều phước cùng đến, ngàn điều lành cùng hội tụ”. Đây đều là có Thần hộ Pháp đang ban phúc. Do vậy, ngày xưa có rất nhiều ví dụ thực tế về những câu chuyện đạo hiếu khiến trời đất cảm động, bởi những ví dụ về nhờ hiếu hạnh, từ đó được hóa giải tai ương có rất nhiều.

Vào thời triều Nguyên, đã xảy ra một trận động đất lớn, nhà cửa bị đổ sập trên diện rộng. Trong khu vực đó có một người con hiếu thảo, tên là Lý Trung, khi sóng địa chấn đang men theo chính giữa truyền ra phía ngoài, khi sắp đến nhà của cậu, thì đột nhiên chia thành hai đường, sau khi qua nhà cậu, hướng truyền của sóng địa chấn lại hợp thành một, và lướt qua nhà của cậu.

Kết quả là, tất cả các ngôi nhà đều bị sụp đổ, chỉ có nhà của Lý Trung là ngoại lệ. Đó quả thực là một điều khó tin, lòng hiếu thảo của cậu khiến cả đất trời cũng cảm động.

4. Chiếc áo mỏng giữ mẹ kế ở lại

Vào thời Xuân Thu, có một người con trai hiếu thảo tên là Mẫn Tử Khiên. Mẹ của cậu qua đời khá sớm, cha cậu tái hôn, sau đó sinh thêm hai người con trai. Mẹ kế đối xử tệ bạc với cậu, thường xuyên ngược đãi cậu. Mùa đông nọ, mẹ kế dùng cây cỏ lau để làm quần áo cho cậu, trong khi quần áo của hai người em trai lại làm bằng bông.

Quần áo làm bằng cây cỏ lau nhìn có vẻ rất bồng bềnh và dày dặn, nhưng lại không thể giữ ấm. Đúng lúc đó, cha cậu đưa cậu ra ngoài và bảo cậu đi đánh xe ngựa. Vì thời tiết quá lạnh, gió lạnh thổi rít, quần áo lại không đủ ấm, nên cậu cứ run lên cầm cập vì lạnh.

Cha cậu thấy vậy thì rất tức giận. Quần áo mặc dày như vậy, mà vẫn còn run rẩy, có phải là cậu có ý bôi nhọ mẹ kế? Trong cơn tức giận, cha cậu liền cầm cây roi lên để quất cậu. Kết quả là vừa mới đánh, quần áo đã bị rách toạc ra, cỏ lau bay tứ tung, khi này cha cậu mới hiểu ra. Hóa ra người mẹ kế đã ngược đãi đứa con trai này của ông. Trở về nhà, ông muốn đuổi người mẹ kế đi.

Mẫn Tử Khiên vẫn luôn một lòng đối xử chân thành với mẹ kế. Lúc đó, trong cậu chỉ có một suy nghĩ, rồi cậu quỳ xuống nói với cha: “Cha ơi, cha không thể đuổi mẹ đi được, bởi vì khi có mẹ ở đây thì chỉ có mình con chịu lạnh, nếu như mẹ đi, thì con và hai em trai của con, đều sẽ chịu cảnh đói rét”.

Trong tình cảnh đó mà lòng hiếu thảo xuất phát từ lòng chân thành của Mẫn Tử Khiên cũng không vơi đi chút nào, hơn nữa, cậu còn nghĩ đến sự vui vẻ hòa thuận của anh em trong gia đình. Chính nhờ tấm lòng chân thành của cậu đã xoa dịu cơn giận dữ của cha, và cũng khiến người mẹ kế cảm thấy xấu hổ.

Tấm lòng hiếu thảo của Mẫn Tử Khiên đã chuyển hóa được ác duyên trong gia đình, mang lại hạnh phúc và hòa thuận. Do vậy mới nói: “Thân tăng ngã, hiếu canh hiền”, ý tứ rằng, cha mẹ ghét bỏ chúng ta, mà ta vẫn giữ trọn đạo hiếu thuận ấy mới là đức tính tốt. Chúng ta phải luôn luôn suy ngẫm rằng, là bản thân “đức chưa tu đủ”, nên “cảm tình chưa tới”! Trách cứ bản thân, tự suy ngẫm lại bản thân theo cách như vậy, thì sự chân thành sẽ không bao giờ mất đi, đồng thời có thể quan tâm đến người khác.

5. Mao Nghĩa nhẫn nhục để phụng dưỡng mẹ già

Thời xưa, có một người con hiếu thảo tên là Mao Nghĩa. Vì thời đó hỗn loạn, hầu hết các học giả đều không muốn làm quan, chỉ muốn tự lo cho thân mình, dạy học chăm chỉ, không thèm muốn những cái gọi là công danh lợi lộc. Tuy nhiên, Mao Nghĩa lại chấp nhận làm quan. Một số bằng hữu của ông cho rằng ông không nên làm như vậy, do đó, họ đã coi thường ông. Mao Nghĩa thậm chí còn mỉm cười khi nhận chức quan, do vậy, những người bằng hữu đều dần dần rời xa ông.

Một thời gian sau đó, mẹ của Mao Nghĩa qua đời. Ông liền từ chức, từ đó trở đi cũng không làm chức quan nào nữa. Trong số những bằng hữu của ông, có một vị học giả rất có danh vọng, tên là Trương Phụng, ông đã nhìn thấy Mao Nghĩa từ quan trở về, trong tâm cảm thấy rất hổ thẹn. Nụ cười khi đó của Mao Nghĩa là vì ai? Mao Nghĩa nói rằng, ông có chết đói cũng không sao, nhưng ông không thể để mẹ ông bị bỏ đói được. Ông vì để phụng dưỡng mẹ già, nên khi nhận chức quan đã sinh lòng vui sướng. Đợi sau khi mẹ mất, ông muốn giữ gìn sự chính trực của mình, không muốn giúp lũ sài lang hành hạ dân chúng, không hại dân hại mình, nên ông đã không nguyện ý ra ngoài làm quan nữa. Đây là cách tùy cơ ứng biến của một người con có hiếu.

Theo “Uyên Giám Loại Hàm” thời nhà Thanh

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/242487