[ChanhKien.org]
Nền văn minh 5000 năm của Trung Hoa khai thủy từ thời “Nhân văn sơ tổ” – Hiên Viên Hoàng Đế. Tương truyền rằng một vị sử quan bên cạnh Hoàng Đế là Thương Hiệt đã sáng tạo ra chữ viết. Tuy nhiên, những ghi chép liên quan đến Ngũ Đế trong sử liệu Trung Quốc lại vô cùng ít ỏi, hơn nữa giữa kho tàng sách sử đồ sộ, tư liệu về các triều đại Hạ, Thương và Tây Chu cũng chỉ như hạt cát trong sa mạc.
Hơn 2500 năm trước, vào lúc nền văn minh Trung Hoa đi qua một nửa chặng đường của mình, thì lần đầu tiên trong lịch sử đã diễn ra một cuộc biến động lớn giữa trời đất, khi ấy hàng trăm quốc gia chư hầu chém giết lẫn nhau, cá lớn nuốt cá bé, khỏi lửa chiến tranh rợp trời, thiêu đốt ròng rã suốt 500 năm. Theo cùng trận đau đớn kéo dài 500 năm ấy là bước nhảy vọt của những ghi chép sử liệu Trung Hoa, những tác phẩm như “Tả Truyện”, “Xuân Thu”, “Chiến Quốc Sách”, “Quốc Ngữ” và “Lã Lãm” (Lã Thị Xuân Thu) đã lần lượt ra đời. Hơn nữa, Đạo gia, Nho gia, Binh gia, Mặc gia, Pháp gia, Tung Hoành gia, Âm Dương gia… rất nhiều rất nhiều các loại học thuyết bách gia chư tử cũng ‘cất tiếng khóc chào đời’ giữa cuộc loạn thế kỳ lạ kéo dài 500 năm ấy. Cảnh tượng tráng quan của sân khấu “Bách gia tranh minh” này đã xuất hiện sớm hơn thời kỳ Văn nghệ Phục hưng của châu Âu gần 2000 năm.
Vào thời đại bách gia chư tử, mỗi phái đều dựng một ngọn cờ riêng, thi nhau đua tiếng tranh tài, đây tưởng như là thời đại cực kỳ phát triển cả về trí huệ, tư tưởng và văn hóa của Trung Hoa, thế nhưng chính vào lúc ấy, Khổng Tử – người được hậu thế tôn là “Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư” lại đứng trước gió mà thở dài, ông nói với đệ tử Ngôn Yển rằng: “Ta dù chẳng kịp chứng kiến thời ‘Đại Đạo chi hành’ cũng như thời các bậc hiền vương Hạ, Thương và Tây Chu trị thế, tuy nhiên trong cổ thư cũng có ghi chép lại. Vào thời ‘Đại Đạo chi hành’, thiên hạ là của chung, trong đó lại tuyển chọn ra một người hiền minh bậc nhất, hơn nữa còn có năng lực để cai quản xã hội, thời đó ai ai cũng thành thật thủ tín, chung sống hòa thuận, không xem tài sản như của riêng mà xem lao động là mỹ đức, không có mưu mô và đạo tặc. Thế nhưng hiện nay Đại Đạo đã suy vi rồi, thiên hạ đã thành nhà của những kẻ thống trị, cha truyền con nối, anh hết thì đến em, người ta chỉ biết lo cho con cái và thân quyến của mình, vun vén của cải và sức lực cho bản thân, ai nấy đều khư khư chiếm lợi riêng.”
Vào những năm cuối đời, Khổng Tử đã bùi ngùi than thở: “Phượng Hoàng không còn bay đến, Hà Đồ chẳng hiện ra nữa, ta cũng đã rất lâu không mộng thấy Chu Công rồi. Thái Sơn a, sắp sụp đổ rồi; trụ cột a, sắp rơi gãy rồi; Thánh nhân a, cũng sắp lụi tàn thôi.”
Về sau, khi Hán Vũ Đế thực hiện chính sách “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” thì hậu thế từ vua quan đến sĩ dân đều xem những lời của Khổng Tử là phép tắc chuẩn mực. Thế nhưng ai có thể biết được, thuyết nhân nghĩa mà Khổng Tử đề xướng liệu có thực là trí huệ tối hậu không? Vì sao một bậc trí huệ như Khổng Tử lại chỉ có thể cất lời ai oán “Đại Đạo suy vi” trong bất lực?
Chính vào lúc Khổng Tử chu du liệt quốc, truyền bá triết học nhân nghĩa, khắc kỷ phục lễ của mình, thì cùng thời với ông, một bậc Đại Giác Giả khác là Lão Tử lại viết trong cuốn “Đạo Đức Kinh” được lưu truyền thiên cổ rằng: “Thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu Nhân, thất Nhân nhi hậu Nghĩa, thất Nghĩa nhi hậu Lễ” (Tạm dịch: Đạo mất rồi thì mới có Đức, Đức mất rồi mới có Nhân, Nhân mất rồi mới có Nghĩa, Nghĩa mất rồi mới sinh ra Lễ), rõ ràng Lão Tử coi Đạo và Đức cao hơn hẳn Nhân và Nghĩa, nên ông mới nói: “Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa”.
Lão Tử tiếp tục luận giải: “Trí huệ xuất, hữu đại ngụy; lục thân bất hòa, hữu hiếu từ; quốc gia hôn loạn, hữu trung thần” (Tạm dịch: Khi trí huệ xuất hiện thì mới sinh ra đại ngụy, thân quyến không hòa thuận mới cần hiếu từ, quốc gia hỗn loạn mới thấy trung thần). Trong khái niệm của người hiện đại, sự xuất hiện của “nhân nghĩa”, “trí huệ”, “hiếu tử” hay “trung thần” đều là chuyện đáng mừng, thế nhưng Lão Tử lại cho rằng những điều này đều là hệ quả Đại Đạo suy vi và sự rối ren của xã hội.
Thật đồng điệu là trong “Thánh Kinh” của Tây phương cũng ghi lại một điển cố nổi tiếng tương tự, kể rằng: Eva vì bị một con rắn dụ dỗ mà ăn quả của Cây Trí Huệ trong Vườn Địa Đàng, từ đó biết phân biệt thiện ác, thế nhưng Adam và Eva sau khi biết được thiện ác lại bị Thượng Đế đuổi khỏi Vườn Địa Đàng. Kinh sách của Đạo gia ở phương Đông và “Thánh Kinh” trong tôn giáo phương Tây ấy thế mà nhận thức về trí huệ lại có sự tương đồng đến kinh ngạc!
Từ thuở chư tử bách gia khai thủy, điều mà các nhà tư tưởng suốt bao triều đại, trải qua 2500 năm dốc trọn tâm huyết, nghiên cứu kinh sách đến bạc đầu, truy tầm khắp trời đất, cái gọi là “Đại Đạo” như ánh cầu vồng vắt ngang bầu trời mà cả Khổng Tử và Lão Tử đều tôn sùng ấy rốt cuộc là gì? Nó đến từ đâu? Vì lẽ gì mà suy tàn? Suy tàn từ khi nào? Phải chăng trong vũ trụ này vẫn tồn tại một chủng lực lượng có thể chính lại mọi thứ từ gốc rễ, xoay chuyển càn khôn?
Khi đào bới tận căn nguyên để truy tìm Đại Đạo, chúng ta ắt phải đối diện với một câu hỏi không cách nào né tránh: Con người thuở ban sơ nhất đến từ đâu?
Thuyết tiến hóa cho rằng con người là do khỉ tiến hóa thành. Thế nhưng chính Darwin – người đề xướng thuyết tiến hóa, trong phần dẫn luận của cuốn sách “Nguồn gốc các loài” đã viết một đoạn như vậy: “Tôi ý thức rõ ràng rằng hầu như không một luận điểm nào trong cuốn sách này không thể bị sự thật khảo chứng, mà những sự thật này thông thường sẽ trực tiếp dẫn đến kết luận trái ngược hoàn toàn với kết luận của tôi.” Ông ta đã dành trọn hai chương tiếp theo để phân tích những “chỗ vướng mắc” của học thuyết này. Mở đầu chương VI, Darwin đã viết với giọng điệu thấp thỏm: “Có một số vướng mắc nghiêm trọng đến mức giờ đây mỗi lần hồi tưởng về chúng tôi vẫn không khỏi do dự”. Thế nhưng điều khiến người ta khó tưởng tượng nổi là thuyết tiến hóa đầy những lỗ hổng và mâu thuẫn nội tại này lại được tôn vinh là một trong ba phát hiện khoa học lớn nhất thế kỷ XIX một cách hoang đường, còn được ngang nhiên đưa vào sách giáo khoa, trở thành công cụ đắc lực nhất để nhân loại thần thánh hóa tự ngã và đi chệch khỏi Đạo.
Lịch sử lặng lẽ bước vào năm cuối cùng của thế kỷ XX, trong biển sách mênh mông bỗng xuất hiện bộ sách mang tên “Loạt báo cáo chân thực về những hiện tượng khảo cổ vĩ đại nhất thế giới” do nhiều nhà khảo cổ học nổi tiếng thế giới biên soạn. Bộ sách này thông qua tám tập như “Bí ẩn hộp sọ thủy tinh”, “Dấu vân tay của Thượng Đế”… đã tái hiện một cách sống động những khám phá trọng đại trong công tác khảo cổ trên thế giới bằng hình ảnh minh họa phong phú và nội dung hấp dẫn. Những biến chuyển thăng trầm trên Trái Đất dường như đã quét sạch mọi dấu vết của nền văn minh, thế nhưng nhiều tàn tích hiếm hoi may mắn được bảo tồn lại cho thấy rằng: Từ hàng ức vạn năm trước, những người mà chúng ta coi là “man rợ” vào thuở tiền sử hoang sơ ấy lại sở hữu một nền văn minh siêu cấp mà ngay cả con người hiện đại cũng không thể sánh kịp. Kim tự tháp cao 200 mét dưới đáy biển Bermuda; lò phản ứng hạt nhân hai tỷ năm tuổi ở Cộng hòa Gabon; hóa thạch in dấu chân người từ 260 triệu năm trước; Kim tự tháp Ai Cập tụ hội tinh hoa tri thức từ thiên văn, lịch pháp, hình học và số học; bản đồ địa hình Nam Cực được đo vẽ từ trên cao vào ít nhất 6000 năm trước… không cách nào kể hết. Khi ngày càng nhiều bằng chứng không thể chối cãi được phơi bày ra ánh sáng, từ đó chúng ta biết được rằng thuyết tiến hóa chỉ là một giả thuyết, một trò cười, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa biết được những nền văn minh tiền sử ấy đã lưu lạc về đâu? Làm thế nào mới có thể khôi phục lại lịch sử chân thực của nhân loại?
Lịch sử của bất kể dân tộc nào trên thế giới cũng đều bắt nguồn từ những thần thoại. Hơn nữa, điều khiến người ta phải chấn động là cho dù toàn thế giới có bao nhiêu dân tộc, cho dù các dân tộc này có cách xa vạn dặm sông núi nhưng họ đều lưu giữ chung một truyền thuyết, chính là: Thần dùng bùn đất tạo con người.
Trong cuốn “Thái Bình Ngự Lãm” của người Trung Quốc có ghi chép rằng: Nữ Oa dùng đất sét vàng nặn thành tượng đất hình người, sau đó những hình người này liền có sinh mệnh.
“Kinh Thánh” cũng viết rằng Thượng Đế đã dùng bụi đất tạo ra một người, sau đó thổi sinh khí vào lỗ mũi người này và anh ta liền trở thành một người có sinh khí, tên là Adam. Sau đó Thượng Đế khiến Adam ngủ say rồi lấy đi một chiếc xương sườn của anh ta để tạo ra một người nữ, gọi là Eva.
Theo truyền thuyết của người Maori bản địa ở New Zealand, có một vị Thần tên là Tena, Ngài đã dùng đất sét đỏ bên bờ sông, chiểu theo hình tượng của bản thân và trộn với máu của mình để nặn thành một người, sau khi nặn xong liền thổi vào mũi và miệng của ‘người đất’ này một luồng khí, ban cho anh ta sự sống.
Theo thần thoại ở Úc, đây là cách con người được tạo ra: Đấng Sáng Thế Bunjil dùng thanh đao lớn của mình chặt ba mảnh vỏ cây to. Ngài đặt đất sét lên một mảnh, dùng thanh đao của mình để trộn đều đất sét, rồi lấy một phần đất sét này đặt lên một mảnh vỏ cây khác, tạo ra một hình người. Sau đó, Ngài dùng hết sức thổi khí vào miệng, lỗ mũi và rốn của người đất ấy, ngay lập tức những người đất này liền cử động, nhảy nhót xung quanh vị Thần.
Thần thoại của người Shilluk sống dọc theo dòng sông Nile trắng ở châu Phi kể rằng: Đấng Sáng Thế Juok quyết định tạo ra con người, do đó Ngài cầm lên một nắm đất sét và tự nói với bản thân: Ta sẽ tạo ra con người. Thần thoại Hy Lạp cổ đại thì viết rằng: Các vị Thần đã lấy đất và lửa từ lòng đất, sau đó phái hai anh em là Thần Prometheus và Thần Epimetheus – mỗi vị đảm nhận việc tạo ra động vật và con người. Tộc người Pima sống ở Arizona, Bắc Mỹ cho đến nay lại tin rằng vị Chủ của Đại Địa đã tạo ra hết thảy mọi thứ trên thế giới, Ngài tạo ra một bức tượng bằng bùn tuyệt đẹp và đặt trên cho bức tượng này là “Người”. Thần thoại sáng thế Ả Rập kể rằng Thượng Đế đã phái Thiên Thần Azrael tạo ra con người, vị Thần này đã mang một ít đất sét đến vùng Arabia, sao đó nặn ra một hình người, rồi đặt ‘người đất’ này vào một nơi để nó từ từ khô lại. Qua 40 ngày, sau khi ‘người đất’ này khô hẳn, Thượng Đế đã ban cho nó sinh mệnh, cấp cho nó một linh hồn có lý tính. Trong Thánh thư của người Maya-Quiché ở Nam Mỹ có viết: Thế giới vào thời nguyên sơ cái gì cũng không có, chỉ có các Đấng Sáng Tạo Tepeu và Gucumatz, họ muốn tạo một sinh vật có linh hồn, do đó, họ đã dùng bùn đất tạo ra một con người.
Trên đây tuy chỉ là vài ví dụ liệt kê những thần thoại về việc tạo ra con người, nhưng những địa khu mà chúng bao phủ lại trải rộng khắp tất cả các lục địa trên thế giới, từ Trung Quốc, Trung Á, New Zealand, Úc, châu Phi, Hy Lạp cổ đại, khu vực Ả Rập cho đến châu Mỹ. Có thể thấy rằng, trong xã hội nguyên thủy khi chưa có bất kỳ phương tiện giao thông đường dài nào, càng chưa nói đến giao lưu văn hóa, thì việc cùng một câu chuyện thần thoại tương đồng lại được lưu truyền trên khắp các lục địa của Trái Đất tuyệt đối không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Nếu như con người thật sự là do Thần tạo ra thì vào thuở ban sơ ấy đã phát sinh những gì? Chúng ta cũng không cách nào khảo chứng được những nền văn minh tiền sử vốn đã tan thành mây khói kia. Nhưng may mắn là chúng ta có lẽ vẫn có thể từ những ghi chép điển tịch của các nền văn minh lâu đời ấy, cũng như từ những câu chuyện thần thoại được truyền miệng mà tìm lại các manh mối rời rạc về thuở ban sơ của loài người.
Thế giới từng xuất hiện bốn nền văn minh cổ đại lớn gồm Babylon, Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc, tất cả đều có lịch sử lâu đời, cũng đều từng vì nhân loại mà sáng tạo nên những nền văn hóa huy hoàng, xán lạn. Tuy nhiên, nền văn hóa do các dân tộc văn minh này kiến tạo đều phải kinh qua quá trình lịch sử có sinh có diệt, có thịnh có suy, nổi lên rồi lại lụi tàn. Ví như văn hóa Ai Cập, văn hóa Babylon đều có xu hướng ảm đạm từ 2000 năm trước; văn hóa Harappa của Ấn Độ bị tộc người Aryan từ Trung Á xóa sổ; nền văn hóa Maya từng xây dựng nên Kim tự tháp Mặt Trời cũng suy bại trong rừng rậm Trung Mỹ; văn hóa Hy Lạp cổ đại rực rỡ một thời lại bị La Mã thay thế; còn nền văn hóa La Mã lại bị tàn phá gần như hoàn toàn do sự xâm lược của các bộ tộc man rợ Germanic. Duy chỉ có nền văn hóa Trung Hoa khởi nguồn từ lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang trên Đại lục Đông Á, dù trải qua bao thăng trầm nhấp nhô vẫn liên tục phát triển hàng nghìn năm. Dù kinh qua bao lần cải triều hoán đại, hợp rồi lại tan, nhưng chưa từng bị đứt đoạn, từ đó hình thành nên một thể hệ văn hóa bác đại tinh thâm độc đáo, cũng trở thành “nền văn hóa có tính liên tục” duy nhất trong lịch sử thế giới.
Người Trung Quốc tự nhận mình là “con cháu Viêm Hoàng” và trong “Sử ký” gọi năm vị Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn là “Ngũ Đế”. Trong “Tứ khố toàn thư” có ghi chép tác phẩm “Bổ Sử ký – Tam hoàng bản kỷ” của Tư Mã Trinh thời nhà Đường, trong đó viết về sự tích của ba vị Tam Hoàng trước thời Ngũ Đế, gồm có Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa. Theo truyền thuyết thì Phục Hy và Nữ Oa đều mang họ “Phong”, do đó có quan hệ anh em.
Vào cuối thời Nữ Oa, Thủy thần Cộng Công và Hỏa thần Chúc Dung đã phát sinh chiến tranh. Khi Cộng Công bại trận, nộ khí phát tiết không có chỗ giải tỏa bèn húc đầu vào núi Bất Chu, kết quả khiến “cột đỡ Trời bị gãy, dây buộc Đất bị đứt”. Sau đó, Nữ Oa bèn luyện đá ngũ sắc để vá Trời, mượn chân rùa để dựng lại bốn cực, thu gom tro của lau sậy để ngăn nước lũ.
Mẫu thân của Phục Hy tên là Hoa Tư, vì giẫm lên vết chân người khổng lồ ở Lôi Trạch mà mang thai, 12 năm sau sinh hạ Phục Hy. Trong “Đông Chu liệt quốc chí” nói rằng Phục Hy đã dựa theo số Chu thiên và Ngũ hành mà chế tạo ra nhạc cụ Dao Cầm, dựa theo hình dáng cánh chim phượng hoàng mà chế tạo ra nhạc cụ Tiêu. “Tam Hoàng bản kỷ” miêu tả Phục Hy có “mình rắn đầu người, mang theo Thánh Đức”. Ông dạy con người dùng phù hiệu văn tự thay thế cho việc thắt nút dây để ghi nhớ các sự kiện, dùng lưới để đánh cá, nuôi gia súc làm nguồn thức ăn. Đồng thời ông còn biết “ngẩng lên xem tượng Trời, cúi xuống nhìn phép Đất, quan sát văn vẻ của chim thú cùng sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy từ sự vật, từ đó bắt đầu tạo ra Bát Quái, để thông hiểu cái đức của Thần minh, thấu rõ cái tình của vạn vật” (1).
Sách “Xuân thu nguyên mệnh bao” viết rằng Thần Nông sinh ra được ba thời thần đã biết nói, sau năm ngày liền biết đi, sau bảy ngày đã mọc đủ răng, lên ba tuổi thì biết canh tác trồng trọt. Trong “Hoài Nam Tử – Tu Vụ Huấn” có ghi chép rằng, Thần Nông nhìn thấy bách tính thường vì ăn uống không đúng cách mà trúng độc hoặc bị tổn hại do bệnh tật, vì thế ông đã căn cứ theo các tính chất khô, ẩm, phì nhiêu, cằn cỗi, cao và thấp của đất mà “dạy dân chúng gieo trồng ngũ cốc”. Truyền thuyết nổi tiếng nhất về Thần Nông chính là “nếm bách thảo”. Ban đầu, Thần Nông vì đích thân nếm trăm loại cỏ cây mà một ngày trúng độc đến 70 lần, sau này ông có được một cây roi màu đỏ, ông đã “dùng roi đỏ quất vào cây” liền có thể biết được “các đặc tính lành, độc, hàn, ôn” của cây cỏ, cũng từ đó dân tộc Trung Hoa bắt đầu có khái niệm về y dược.
Từ những truyền thuyết dân gian và ghi chép lịch sử này, chúng ta có thể thấy rằng ngoài Đại Thánh Đức thì các vị Tam Hoàng còn có cả Đại Công Năng. Khi loài người vừa được tạo ra, vì để họ có thể sinh tồn và phát triển mà Thần đã đích thân truyền cấp cho con người những năng lực thiết yếu trong cuộc sống, đồng thời khai sáng một đoạn văn hóa Thần-nhân đồng tại. Nhân loại còn non nớt ấy đã từng bước rời khỏi chiếc nôi của mình dưới sự che chở của Thần linh như thế. Trong “Sáng Thế Ký” của Thánh Kinh cũng ghi chép rằng, sau khi Adam và Eva bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng thì “Đức Jehovah đã vì Adam và vợ anh ta mà dùng da thuộc làm thành y phục cho họ mặc”.
Thời thượng cổ, dân phong thập phần thuần phát, con người ngước lên thì hứng sương mật, cúi xuống thì uống suối ngọt, Mặt Trời lên thì làm việc, Mặt Trời xuống thì nghỉ ngơi, không vui mừng vì được sống, cũng không sợ hãi vì cái chết, sống một cuộc đời hoàn toàn thuận theo tự nhiên. Trong “Hoàng Đế Nội Kinh – Thượng cổ thái chân luận” có viết: “Người thượng cổ hiểu Đạo, noi theo âm dương, hòa hợp với thuật số, ăn uống có chừng mực, sinh hoạt điều độ, không lao lực vô độ, do đó thân thể và tinh thần hài hòa, sống trọn tuổi đời, qua trăm tuổi mới ra đi.” Lão Tử cũng từng viết: “Đạo Pháp tự nhiên”, nghĩa là khi con người hoàn toàn sống thuận theo tự nhiên, thì sẽ ở trong một loại trạng thái gọi là ‘tuy không tu Đạo nhưng đã ở trong Đạo’.
Giai đoạn Thần-nhân đồng tại vẫn tiếp diễn một mạch cho đến thời Ngũ Đế mà không bị đứt đoạn. Trong ‘Thái Bình Ngự Lãm’ quyển 15 kể rằng Xi Vưu đã khởi binh tấn công Hoàng Đế. Hai bên khai triển trận đại chiến ở Trác Lộc. Xi Vưu dùng pháp thuật giáng sương mù dày đặc suốt ba ngày không tản, Hoàng Đế bèn lệnh cho Phong Hậu làm xe chỉ nam để phân biệt phương hướng. Trong “Sơn Hải Kinh – Đại Hoang Bắc Kinh” cũng ghi chép: Xi Vưu triệu hồi Phong Bá và Vũ Sư gây ra mưa to gió lớn. Hoàng Đế bèn mời đến một vị Thiên nữ tên “Bạt”, ngăn chặn trận mưa lớn rồi giết chết Xi Vưu.
Thời kỳ Thần-nhân đồng tại cũng có ghi chép trong thần thoại Hy Lạp. Năm Công nguyên 1870, một người Đức tên Heinrich Schliemann đã khai quật được di tích thành Troy tại Hisarlik, Thổ Nhĩ Kỳ, từ đó chứng minh cuộc chiến giữa người Hy Lạp và người Troy được kể lại trong “Sử thi Homer” không phải là không có căn cứ. Trường thiên sử thi “Iliad” quyển thứ 20 có tiêu đề “Chư Thiên Thần dồn về chiến trường, mỗi vị đều triển hiện thần uy”. Dường như tất cả các vị Thần trong thần thoại Hy Lạp đều bị cuốn vào cuộc chiến thành Troy, như Zeus, Hera, Poseidon, Hermes, Apollo, Ares, Athena và nhiều vị khác.
Cảnh tượng Thần và người hỗn chiến được miêu tả trong “Iliad” cũng từng xuất hiện ở Trung Quốc, đó chính là tác phẩm “Phong Thần diễn nghĩa” do Hứa Trọng Lâm đời nhà Minh viết. Trong truyện, Lão Tử, Nguyên Thủy Thiên Tôn và Thông Thiên Giáo Chủ cùng ký tên vào Bảng Phong Thần, sau đó được Nguyên Thủy Thiên Tôn đưa cho Khương Tử Nha. Khi Vũ Vương phạt Trụ, tuyệt đại đa số các vị Thần cũng như các Đạo sĩ đều tử trận trong cuộc đại chiến này, linh hồn của họ được triệu dẫn về Đài Phong Thần. Sau khi chiến tranh kết thúc, Khương Tử Nha chiểu theo Bảng Phong Thần mà phong tước, căn cứ theo thiện ác của những linh hồn này mà phong cho họ làm các chính Thần hoặc ác sát khác nhau trong Tam Giới. Các vị Thần không bị tử trận trong chiến tranh như Dương Tiễn, Na Tra, Lý Tĩnh, Lôi Chấn Tử… cũng từ biệt Vũ Vương, ẩn cư tu luyện, từ đó không còn xuất thế nữa.
Văn hóa Thần bản cuối cùng đã hạ cấp thành văn hóa nhân bản
“Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa”, câu này nói gần thì là khi Khổng Tử khóc bảo với Tử Cống rằng “Thiên hạ vô Đạo đã lâu” trong khi tư tưởng nhân nghĩa của Nho gia lại được hệ thống hóa, nói xa thì sau khi Vũ Vương phạt Trụ, lúc tất cả các vị Thần đều rời khỏi nhân gian, thì một phần lịch sử nhân loại chân chính cũng đã bắt đầu. Học thuyết vốn không bàn đến những chuyện quái lực loạn thần của Khổng Tử có nguồn gốc từ em trai Chu Công Đán của Chu Vũ Vương.
Ngay trước lúc Khổng Tử ra đời vài năm, tại lục địa Nam Á cũng xuất hiện một nhân vật kinh thiên động địa, Ông chính là Phật Thích Ca Mâu Ni được hậu thế tôn xưng là Đại Hùng Thế Tôn. Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời cũng là lúc Ấn Độ đang trong thời kỳ biến loạn. Khi ấy, tôn giáo duy nhất ở Ấn Độ cổ là Bà La Môn giáo cũng đã bước vào thời kỳ mạt Pháp, nhường chỗ cho đủ loại đoàn thể tu hành khác nhau, trong đó những nhóm tương đối có sức ảnh hưởng gồm Lục sư ngoại đạo, Lục thập nhị kiến và Lục phái triết học… Thời điểm ấy, toàn bộ Ấn Độ vẫn chưa thống nhất, chỉ riêng theo ghi chép trong “Trường A Hàm Kinh” đã có 16 quốc gia khá lớn như Xá Vệ Quốc, Ma Kiệt Đề Quốc… Chính trong thời đại được xem là “ngũ độc ác thế” của Ấn Độ cổ này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện giữa thế gian, giáo hóa tất cả không phân biệt đối tượng, và phổ độ chúng sinh.
500 năm sau khi Khổng Tử và Thích Ca Mâu Ni xuất thế, tại đất nước Israel thuộc vùng Trung Á cũng có một vị Đại Giác Giả ra đời, Ngài chính là Chúa Giê-su – người khai sáng Cơ Đốc Giáo. Sau khi Chúa Giê-su xuất thế, Israel cũng đang rơi vào thời kỳ hỗn loạn. Theo “Xuất Ai Cập ký” trong “Cựu Ước toàn thư”, khi Moses dẫn dắt người Do Thái rời khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va đã truyền “Mười điều răn” cho Moses trên núi Sinai, trong đó quy định mười việc mà người Do Thái không được phép phạm vào. Thế nhưng, người Do Thái lại thường làm trái với mười điều răn này, họ không chỉ thờ phụng thần tượng mà còn cúng tế tà thần ngoại bang. Do đó Israel đã lần lượt bị Assyria, Babylon, Ba Tư, Hy Lạp và La Mã thôn tính. Lúc Chúa Giê-su ra đời cũng chính là thời kỳ Hoàng đế Augustus của Đế quốc La Mã thống trị Israel, khi ấy Do Thái giáo cũng bị chia rẽ thành nhiều giáo phái, như phái Pharisees, phái Sadducees, phái Zealots và phái Essenes… Chính vào thời kỳ Israel bị ngoại tộc xâm lược, giáo phái hỗn tạp này, Chúa Giê-su đã dùng hình tượng con người để hành sự trên thế gian, truyền bá phúc âm, cứu nạn và giải thoát khổ ải cho chúng sinh.
Vô luận là Lão Tử, Khổng Tử, Giê-su hay Thích Ca Mâu Ni, tất cả các vị ấy đều sau khi Thần rời bỏ con người mà giáng sinh tại nhân gian để quy phạm tư tưởng cho nhân loại, nguyên nhân cũng chính là vì đạo đức nhân loại đã bắt đầu hướng về suy thoái. Chính như lời Chúa Giê-su từng giảng: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người có bệnh mới cần… Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà để gọi kẻ có tội.” Có thể nói tôn giáo chính là sản phẩm của văn hóa nhân bản sau khi Đại Đạo suy vi. Tại Trung Quốc, sau thời Xuân Thu, Nho-Phật-Đạo tam giáo cùng tồn tại, từ đó một phần lịch sử chân chính của nhân loại cũng được vén màn khai mở.
Chú thích:
Câu “Ngưỡng tắc quan tượng vu thiên, phủ tắc quan pháp vu địa, quan điểu thú chi văn, dữ địa chi nghi, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thủy tác bát quái, dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình” (Tạm dịch: Ngẩng lên xem tượng Trời, cúi xuống xem phép Đất, quan sát văn vẻ của chim thú cùng sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy từ sự vật, từ đó bắt đầu tạo ra Bát Quái, để thông hiểu cái đức của Thần minh, thấu rõ cái tình của vạn vật) có nguồn gốc từ “Hệ Từ Truyện” do Khổng Tử cùng học trò biên soạn để giải thích “Kinh Dịch”.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/74797