Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Anh hùng Thiên cổ của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5.000 năm
[ChanhKien.org]
Tại Huyền Vũ môn diệt trừ nghiệt tặc
Nếu như Thái Tông quả thật muốn đoạt vị, lúc nào mà chẳng thể ra tay? Vào thời khắc sinh mệnh đang gặp hiểm nguy, Thái Tông thở dài mà rằng: “Cốt nhục tương tàn, là chuyện đại ác xưa nay! Ta đã biết cái mối họa này không sớm thì muộn cũng sẽ xảy ra, để nó tự bộc phát, sau đó sử dụng chính nghĩa để đánh lại nó, cũng chỉ đành như vậy thôi chứ còn cách nào khác sao? Nếu như có con đường khác, tuyệt đối không chọn con đường này”.
Thái Tông do dự không quyết, mọi người trên dưới trong phủ đồng lòng kiến nghị với Thái Tông: “Tề Vương vốn không cam lòng ở dưới ngôi Thái tử, âm mưu phản loạn còn chưa thành công, đã có lòng muốn diệt trừ Thái tử. Tề Vương lòng tham không đáy, tâm địa ác độc, ra tay tàn bạo, không việc gì là không dám làm. Nếu như 2 người bọn họ mà đắc thắng, e rằng thiên hạ này cũng không còn thuộc về Đại Đường nữa!”
Điều phải làm để “An xã tắc”:
– Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát không dung Thái Tông, ngay cả Thái Tông muốn tránh về Lạc Dương, vĩnh viễn không tranh giành gì với họ nhưng họ cũng không chịu, muốn đẩy Thái Tông đến chỗ chết thì mới yên tâm.
– Nếu như Thái Tông bị chúng tiêu diệt rồi, Nguyên Cát tất sẽ giết chết Kiến Thành mà tự lập ngôi vị.
– Nguyên Cát là kẻ tiểu nhân, vô đức vô năng, lại có tâm đố kỵ người tài, nếu để thiên hạ rơi vào tay y, quốc chính tất loạn.
– Khắp nơi chư hầu chinh chiến còn chưa được nghỉ ngơi, quốc gia còn đang khó khăn, bách tính đang lầm than cơ cực, ngoại tộc đang lăm le như hổ đói.
– Trùng hợp thay mấy vạn kỵ binh quân Đột Quyết đang đồn trú phía Nam sông Hoàng Hà, bao vây Ô Thành, nếu như trong triều không có người gánh vác được trọng trách, Đại Đường nguy trong sớm tối.
– Thiên hạ khói lửa, chiến loạn tái diễn, bách tính lầm than.
– Võ có thể an định quốc gia, khai sáng thiên triều thịnh thế, ngoài Thái Tông ra còn ai nữa đây?
Mọi người trên dười khuyên Thái Tông rằng: “Đại vương, Ngu Thuấn là người như thế nào?”
Thái Tông trả lời: “Trí tuệ thâm thúy, tài hoa hơn người, ôn hòa khiêm cung, công chính thành thật, là một người con trai hiếu thuận, là một quân chủ thánh minh”.
Mọi người lại hỏi: “Nếu Đế Thuấn lúc khơi thông đào giếng nước mà không tránh thoát khỏi độc thủ lấy đất lấp giếng chôn mình của cha và em trai của ông, thì Đế Thuấn đã biến thành bùn đất trong giếng rồi; nếu khi Đế Thuấn ở kho thóc bị cha và em trai ra tay phóng hỏa mà không thoát được, thì cũng đã hóa thành tro tàn cùng với kho lúa, làm sao trở thành Thánh Quân sau này, đem ân trạch của mình ban khắp thiên hạ, lưu truyền chuẩn tắc cho hậu thế cho được? Đế Thuấn bị cha dùng roi nhỏ đánh thì cố gắng chịu đựng, nhưng bị đánh bằng gậy to liền bỏ chạy, là bởi vì trong lòng Đế Thuấn suy nghĩ đều là đại sự!”
“Trời đã ban cho mà không lấy, ngược lại sẽ bị trừng phạt, thời đến mà không làm, ngược lại phải chịu tai ương”. Trải qua nhiều lần nhường nhịn, đến tận thời khắc này không thể nhẫn nhịn được nữa, Thái Tông quyết định thuận theo thiên ý mà hành động, uy nghiêm đường đường chính chính mà xuất thủ, không khoanh tay chịu chết. Đây mới thật sự là vì đại nghĩa.
Ngày Đinh Tỵ mùng 1 tháng 6 năm Vũ Đức thứ chín (tức ngày 29 tháng 6 năm 626), sao Thái Bạch Kim Tinh ban ngày xuất hiện vào giờ Ngọ vị trí phương chính Nam. Chưa hết, ngày mùng 3 tháng 6 (tức ngày 1 tháng 7 năm 626), sao Thái Bạch Kim Tinh một lần nữa xuất hiện vào giờ Ngọ vị trí phương chính Nam. Từ xưa cổ nhân đều biết đây là điềm báo “Hoàng quyền sẽ thay đổi”.
Phó Dịch bí mật tấu với Đường Cao Tổ: “Thái Bạch đang nằm ở vị trí địa phận của Tần Vương, như vậy Tần Vương sẽ có được thiên hạ”.
Cao Tổ đem mật tấu đưa cho Thái Tông xem. Thái Tông bèn bẩm báo tình hình dâm loạn hậu cung của Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát cho Cao Tổ, lại nói: “Thần không có một chút nào phụ các huynh đệ, nay họ lại muốn giết thần, họ đối xử với thần như kẻ địch vậy. Nay lỡ thần chết uổng mạng, âm hồn có xuống được suối vàng, sẽ hổ thẹn khi gặp lại bọn gian tặc!”
Phi tử Trương Tiệp Dư của Cao Tổ trộm biết được ý của Thái Tông, bèn cấp tốc báo cho Kiến Thành. Kiến Thành gọi Nguyên Cát đến bàn mưu, Nguyên Cát nói: “Cho binh lính chuẩn bị mọi thứ ở trong cung phủ, rồi mượn cớ ốm bệnh không lên triều được, để xem tình thế như thế nào”.
Kiến Thành nói: “Quân binh đã chuẩn bị xong xuôi, đang đợi đệ cùng tham gia, dò hỏi tin tức”. (Trích trong quyển thứ 191, Tư Trị Thông Giám)
Chân dung Uất Trì Cung do Vương Song Khoan vẽ trong “Bảng Trăm vị anh hùng” (Vương Song Khoan cung cấp)
Chân dung Tần Thúc Bảo do Vương Song Khoan vẽ trong “Bảng Trăm vị anh hùng”. (Vương Song Khoan cung cấp)
Ngày Canh Thân, tức mùng 4 tháng 6 năm Vũ Đức thứ chín (ngày 2 tháng 7 năm 626), Kiến Thành cùng Nguyên Cát sáng sớm đã phái bốn, năm trăm binh sĩ mai phục tại cửa Huyền Vũ. Thái Tông gọi Trưởng Tôn Vô Kỵ cùng Uất Trì Cung mang theo một đội tinh binh đi cùng. Thái Tông cùng một đoàn người vừa đi vào, Nguyên Cát giương cung lắp tên bắn về phía Thái Tông trước, nhưng bắn không trúng. Sau đó hai người Kiến Thành, Nguyên Cát liền tiếp tục nhắm về hướng Thái Tông bắn ba mũi tên, Thái Tông sớm đã có phòng bị, trước khi đến đã mang sẵn áo giáp trên người rồi, nên không bị bắn thương. Trong hỗn loạn như thế, Tần Quỳnh nhắm bắn trả lại một tên, bắn trúng khiến Kiến Thành mất mạng. Nguyên Cát thấy tình thế thất thủ muốn chạy trốn, liền bị Uất Trì Kính Đức một tên bắn chết tại chỗ. Đây chính là “Sự biến Huyền Vũ môn” mà lịch sử có đề cập.
Sau khi bình định xong trận kịch chiến Huyền Vũ môn, Tể tướng Tiêu Vũ cùng quần thần trong triều bẩm tấu với Cao Tổ rằng: “Kiến Thành, Nguyên Cát trước nay không có công lao gì, hai người bọn họ mang tâm đố kỵ với Tần Vương, sử dụng gian kế. Hiện tại Tần Vương đã đem bọn họ tiêu diệt rồi, đây là chuyện tốt. Bệ hạ về sau có thể an tâm đem các việc của quốc gia đại sự truyền lại cho Tần Vương”.
Cao Tổ nói: “Đây chính là tâm nguyện trước nay của ta rồi”. Lúc ấy Thái Tông nằm vào trong lòng Cao Tổ, khóc lớn một hồi lâu.
Sách sử ghi chép:
“Hoàng Thái tử Kiến Thành, địa cư đích trường, chúc đương trữ nhị, xử dĩ thiểu dương, ký khắc phụ hà. Toại nật cận quần tiểu, thính thụ tà mưu, miệt khí quân thân, ly trở cốt nhục, mật đồ bội nghịch, tiềm vi kiêu kính. Tư đồ Tề Vương Nguyên Cát, ký thâm bàn thạch, nhâm duy hàn bình, sủng thụ ký hậu, chức vị phi khinh. Bối vi thiên kinh, hiệp đồng nguyên ác, trợ thành ẩn thắc, đệ tương khu phiến, sửu tâm nghịch tích, nhất đán tẫn chương. Duy bỉ nhị hung, tội cùng sổ nhẫm, họa bất toàn chủng, dụng thủ đồ lục.”
Tạm dịch:
Hoàng thái tử Kiến Thành, thân là con trưởng, vị trí cao chỉ đứng thứ hai sau Hoàng Đế, nhưng hành động lỗ mãng, tính tình hiếu thắng, rất là hà khắc. Thích gần gũi với bọn tiểu nhân, nghe theo lời tà mưu, vứt bỏ thân nhân, ngăn cách với cốt nhục, bí mật mưu đồ nghịch tặc, là một người bất hiếu. Tư Đồ Tề Vương Nguyên Cát, thân mang trọng trách, mà không biết suy nghĩ, ăn bổng lộc không ít, chức vị không nhẹ. Nhưng lại làm trái Thiên kinh, hiệp đồng với kẻ đầu sỏ, giúp Kiến Thành hành ác, xúi giục phản loạn, tâm địa đại nghịch bất đạo, nay đã bại lộ. Tội ác của hai người bọn họ vô số, gây họa không ngừng, đã nhanh chóng bị tiêu diệt. (Trích trong Cao Tổ “Chiếu xá việc tiêu diệt Kiến Thành Nguyên Cát” – quyển 1 bộ thứ nhất “Toàn Đường văn”)
“Thuấn bất năng nhân tứ tội, Nghiêu bất năng huấn Đan Chu, tư tiền chí dã. Đương Thần Nghiêu nhâm sàm chi niên, Kiến Thành kỵ công chi nhật, cẩu trừ úy bức, thục cố phân băng, biến cố chi hưng, gian bất dung phát, phương cụ ‘Hủy sào’ chi họa, ninh ngu ‘Xích bố’ chi dao?”
Tạm dịch:
Vua Thuấn không thể nhân từ với bốn loại tội trạng, vua Nghiêu không thể dạy dỗ được Đan Chu, đây là cái chí của người xưa. Trong những năm Thần Nghiêu (chỉ Thái Tông) bị bọn xấu gièm pha, những tháng ngày bị Kiến Thành đố kỵ công lao, nhưng Thái Tông đã vượt qua được những bức bách đó, người quan tâm đến sự sụp đổ của vương triều, khi biến cố nổi lên, tai họa sắp xảy ra, thì chẳng lẽ còn e sợ họa “Hủy sào”, lo lắng chuyện “Xích bố” (ý chỉ việc huynh đệ xích mích đơn thuần) hay sao? (Trích trong “Cựu Đường Thư ‧ Thái Tông bản kỷ”)
“Xương, phát khải quốc, nhất môn tam Thánh. Văn định cao vị, hữu vu bất lệnh. Quản, thái ký tru, thành, khang đạo chính. Trinh Quán chi phong, đáo kim ca vịnh.”
Tạm dịch:
“Cơ Xương, Cơ Phát khai sáng nhà Chu, nhà Chu đã xuất hiện ba bậc Thánh vương. Văn (chỉ Văn Vương Cơ Xương đặt con thứ là Cơ Phát ở ngôi cao. Tru diệt Quản, Thái mà Chu Thành Vương, Chu Khang Vương chính được đạo. Thịnh thế của thời Trinh Quán, đến nay vẫn mãi được ngợi ca”. (Trích trong “Cựu Đường Thư – Thái Tông bản kỷ”)
“Kiến Thành tàn nhẫn, khởi chủ sưởng chi tài; Nguyên Cát hung cuồng, hữu phúc sào chi tích. Nhược phi Thế Dân nghịch thủ thuận thủ, tích đức luy công, hà dĩ trí tam bách niên chi duyên hồng, nhị thập đế chi toản tự? Hoặc kiên trì tiểu tiết, tất khuy đại du, dục bỉ Tần Nhị Thế, Tùy Dương Đế, diệc bất cập hĩ”.
Tạm dịch:
Kiến Thành là con người tàn nhẫn, há lại có tài cán để làm chủ quốc gia; Nguyên Cát hung ác, điên cuồng, có thể sẽ khiến tan cửa nát nhà. Nếu không phải Thế Dân chống lại hai kẻ ấy, tích lũy công đức, thì dựa vào đâu để dựng nên 300 năm cơ nghiệp triều Đường, với hai mươi mấy đời vua? Hoặc giả nếu cứ chăm chăm vào các tiểu tiết, tất sẽ lỡ mất việc lớn, chẳng phải sẽ lặp lại giống như thời Tần Nhị Thế và Tùy Dương Đế sao. (Trích trong “Cựu Đường Thư – Cao tổ nhị thập nhị tử truyện”)
“Kiến Thành, Nguyên Cát, thực vi nhị hung. Trung ngoại giao cấu, nhân thần bất dung. Dụng hối nhi minh, ân ưu khải thánh. Vận chúc văn hoàng, công thành thủ chính. Thiện ác ký phân, xã tắc nãi định”.
Tạm dịch:
Kiến Thành, Nguyên Cát, thực là hai tên hung ác. Cấu kết bè phái trong ngoài, những hành vi đó khiến người và Thần đều không dung. Nhưng khi tối tăm đến cùng thì ánh sáng sẽ xuất hiện, khi lo lắng tận cùng thì Thánh vương xuất hiện. Vận mệnh trời ban thuộc về Văn Hoàng (tức chỉ Thái Tông), công đã thành và giữ gìn được chính đạo. Thiện ác đã phân, xã tắc an định”. (Trích “Cựu Đường Thư ‧ Cao tổ nhị thập nhị tử truyện”)
“Cổ Công xá trưởng Thái Bá, lập Quý Lịch vi Thái tử; Văn Vương xá trưởng Bá Ấp Khảo, lập Vũ Vương vi Thái tử. Phi tà? Nhược dĩ hiền dã, đại hiền diệc mạc như thái tông đại công đại đức, cách vu thiên địa, bất sĩ cổ công, văn vương chi minh trí, tuy thậm ngu chí hạ chi nhân, diệc tri kỳ đương hữu thiên hạ. Cao Tổ hoặc vu nội bất sát dã, lão mạo hoang bội, khả thắng ngôn tai! Dư cố cụ liệt kiến thành, nguyên cát mưu hại thái tông chi sự, dĩ kiến thái tông chi kế xuất vu vong liêu, thực dữ thiên hạ tru chi, bỉ Chu Công tru Quản, Thái chi nghĩa, thậm trực bất quý dã.”
Tạm dịch:
“Cổ Công bỏ con trưởng Thái Bá, lập Quý Lịch làm Thái tử; Văn Vương bỏ con trưởng Bá Ấp Khảo, lập Vũ Vương làm Thái tử. Như vậy có sai không? Nếu như chọn đúng người hiền, như người hiền đại công đại đức to lớn như Thái Tông đây, trên hợp ý trời dưới hợp ý đất, thật chẳng khác nào như sự minh trí của Cổ Công và Văn Vương năm xưa vậy, dù người ngu ngốc đến đâu, cũng biết rõ là Thái Tông nên có được thiên hạ. Cao Tổ có nghi hoặc chuyện trong cung nhưng không ra tay, lớn tuổi nên xao nhãng và làm trái đạo lý, có thể gánh vác được không! Vì thế dẫn đến sự việc Kiến Thành, Nguyên Cát mưu hại Thái Tông, mà việc Thái Tông vận dụng kế sách vừa qua là vạn bất đắc dĩ, vì thiên hạ mà trừng phạt, việc này so với việc nghĩa Chu Công tru diệt Quản, Thái, thật sự cũng xứng đang lắm thay”. (Trích trong “Thiệu thị văn kiến lục – Tống Thiệu Bá Ôn”)
Sáng Thế Chủ đã an bài Đại Đường thịnh thế trở thành đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa 5.000 năm, tất nhiên cũng sẽ an bài sắp xếp những nhân tố giúp sức để an định thiên hạ, trừ tà ác, diệt bạo loạn.
Phòng Huyền Linh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Viết đúng sự thật
Năm Trinh Quán thứ 14, Thái Tông nói với Phòng Huyền Linh rằng: “Không biết từ xưa đến nay về việc chép sử của quốc gia, vì sao không để cho Hoàng Đế được xem qua?”
Phòng Huyền Linh đáp rằng: “Lịch sử của quốc gia là ghi chép cả việc thiện lẫn việc ác, để người làm chủ không làm chuyện phạm pháp. Chỉ là sợ vua cho rằng có ý ngỗ ngược, nên không cho vua xem”.
Thế Dân nói: “Ý của Trẫm khác với người xưa. Nay muốn tự mình xem qua lịch sử quốc gia, nếu là việc thiện, thì không cần phải bàn luận gì nữa. Nhưng nếu có việc bất thiện, cũng muốn coi xem để lấy bài học giáo huấn mà răn đe bản thân, để tự mình tu sửa. Khanh có thể soạn rồi dâng lên đây”.
Thái Tông nhìn thấy sự biến Huyền Vũ môn ngày 4 tháng 6, ghi chép không nhiều, bèn nói với Phòng Huyền Linh rằng: “Xưa kia Chu Công diệt Quản, Thái mà khiến nhà Chu được yên ổn, Qúy Hữu dùng rượu độc giết Thúc Nha mà làm cho nước Lỗ được an định. Nay những việc Trẫm đã làm, nghĩa cử đó cũng giống với việc làm của người xưa, xây dựng nên sự an định cho xã tắc, làm lợi cho muôn dân bách tính. Sử quan chấp bút, sao phải che giấu? Hãy lập tức bỏ đi những gì không đúng sự thật, hãy viết đúng sự thật”.
Quan Thị Trung là Ngụy Trưng tấu rằng: “Thần nghe nói rằng người ở vị trí chí tôn vô cực, không cần lo sợ điều gì. Chỉ có sử của quốc gia, dùng để trừng phạt cái ác tuyên dương khuyến thiện, nếu ghi chép không lấy sự thật làm chuẩn, người đời sau sẽ xem như thế nào? Bệ hạ nay bảo Sử quan sửa lại cho đúng, thật hợp với công đạo vậy”. (Trích trong “Trinh Quán chính yếu” – Quyển 7 – “Luận văn sử”)
“Sự biến Huyền Vũ môn” vốn là một sự kiện tốt đẹp chói lọi nghìn đời. “An xã tắc, lợi vạn dân”, lời của Thái Tông nghĩa tận trời xanh, tràn đầy khí phách. Sử quan chấp bút, đường đường chính chính, sao phải khuất tất ẩn giấu!
(Còn tiếp)
Dịch và chỉnh lý từ:


