Tác giả: Tần Chính

[ChanhKien.org]

Lời của Ban biên tập: Loạt bài này được viết dựa trên lý giải của tác giả đối với luận thuật trong “Kim Cương Kinh”. Chúng tôi cho rằng bài viết này có giá trị tham khảo nhất định đối với việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ trong giới tôn giáo nên đã đăng lại tại đây. Đối với các đệ tử Đại Pháp không có liên quan đến việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ tôn giáo thì không cần thiết phải đọc. Hy vọng mọi người dĩ Pháp vi Sư, làm tốt ba việc mà Sư phụ yêu cầu chúng ta làm.

(Theo Ban biên tập báo Nhân Dân: “Luận giải Kim Cương Kinh” là những tâm đắc thảo luận nghiên cứu Kinh Kim Cương giữa tiên sinh Tần Chính với bạn bè trong giới Phật giáo).

Đàm luận thứ 10

1. “Đệ tam thập phẩm – Nhất hợp tướng lý phân”: “Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, dĩ tam thiên đại thiên thế giới toái vi vi trần, ư ý vân hà? Thị vi trần chúng ninh vi đa phủ?” “Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Nhược thị vi trần chúng thật hữu giả, Phật tắc bất thuyết thị vi trần chúng. Sở dĩ giả hà? Phật thuyết: vi trần chúng tắc phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng. Thế Tôn! Như Lai sở thuyết tam thiên đại thiên thế giới tắc phi thế giới, thị danh thế giới. Hà dĩ cố? Nhược thế giới thật hữu giả, tắc thị nhất hiệp tướng. Như Lai thuyết nhất hiệp tướng tắc phi nhất hiệp tướng, thị danh nhất hiệp tướng. Tu-bồ-đề! Nhất hiệp tướng giả tắc thị bất khả thuyết, đản phàm phu chi nhân tham trước kỳ sự”. (Tạm dịch: Đoạn thứ 30 – Lý một hợp tướng: Này Tu-bồ-đề, nếu người thiện nam, thiện nữ đem thế giới tam thiên đại thiên này nghiền nát thành bụi, ý ông nghĩ sao? Số bụi này thật là nhiều chăng? Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Vì cớ sao? Nếu là bụi thật có đó thì Phật ắt không nói là bụi nhiều. Vì cớ sao? Phật nói các bụi đó tức không phải là bụi, ấy gọi là bụi. Bạch Thế Tôn, Như Lai nói thế giới tam thiên đại thiên tức không phải thế giới, ấy gọi là thế giới. Vì cớ sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói một hợp tướng tức không phải một hợp tướng ấy gọi là một hợp tướng). Đoạn đối thoại này là Thích Ca Mâu Ni đang khai thị để Tu-bồ-đề nhận thức được chân tướng của vũ trụ. Đại thành Nho gia nói rằng: Vạn vật và ta là một thể, con người và ta cũng vậy thôi. Lại nói: “Muôn dân là anh em, vạn vật là bạn hữu với ta”. Học vấn đạt đến mức đại thành, tức là con đường chủ động tìm hiểu, hỏi và học để tiến tới đạo lý, chính là: “Cái đạo của bậc đại học là làm sáng cái đức sáng của mình, là làm cho dân được đổi mới, và đạt tới chỗ chí thiện”. Người đạt tới chí thiện thì đồng hóa với Đạo, cùng hòa nhập vào sự tạo hóa của trời đất, bởi lẽ Đạo vốn thuận theo tự nhiên. Ở đây, Thích Ca Mâu Ni trước hết bảo Tu Bồ Đề suy nghĩ: nếu lấy toàn thể tam thiên đại thiên thế giới để thể nhận, rồi nghiền nát thành những hạt bụi cực nhỏ, thì số hạt bụi nhỏ ấy dĩ nhiên là vô cùng nhiều — điều này theo logic con người cũng có thể hiểu được. Nhưng ở đây, Tu-bồ-đề đã có thể “suy một biết ba”. Ông hiểu rằng Thích Ca Mâu Ni không phải muốn ông trả lời một câu hỏi đơn giản như vậy, mà là muốn dẫn dắt ông đi đến sự thể nhận về thế giới mà Phật giảng. Chỉ vì các tầng thứ không gian lập thể của vũ trụ đồng thời tồn tại, trong khi cấu trúc ngôn ngữ lúc bấy giờ lại chỉ có thể diễn đạt sự việc trên cùng một bình diện, nên mới xuất hiện kiểu câu huyền ảo như thế. Con người dùng quan niệm của mình để lý giải, nói đó là biện chứng, kỳ thực ông đang nói rằng: tất thảy mọi thứ cũng đều quy về “một” (nhất).

Nhất thể mới là thực tướng của thế giới. Kỳ thực, đây là nhận thức cuối cùng mà tất cả các bậc Thánh đều đạt đến, đều là nhận thức giống nhau. Đó là chân thực của cảnh giới quy chân, và cũng là khởi nguyên của mọi đạo đức. Chính vì vậy, bất kể Đông hay Tây, xưa hay nay, trong hay ngoài, đều lấy tình yêu làm nền tảng để kiến tạo đạo đức. Chìa khóa để hiểu đoạn văn này nằm ở chỗ: “Nếu thế giới là có thực, thì nó là một hợp tướng (một tổng thể do nhiều yếu tố hợp thành)”. Tuy nhiên, cũng giống như nước trong cùng một hồ khi được chứa vào những vật đựng khác nhau, và cũng giống như thế trong quá trình đó lại được thêm vào những “gia vị” khác nhau, thì tính đặc thù của đời sống cá thể và tính nhất thể căn bản của đời sống tập thể có thể được hiểu một cách đơn giản như vậy. Nhưng thực ra không hẳn chỉ là như thế, bởi vì một vị Thần có thể xem tất cả những gì ở dưới mình như là một phần thân thể của mình, nhưng trạng thái tồn tại cụ thể của từng cá thể lại dường như khiến mỗi cá thể đều có tính độc lập riêng. Và nếu sinh mệnh cá thể tu luyện thăng tiến lên cao, nó sẽ quay trở về với cái “nhất” đó, nhưng đồng thời, nó lại thật sự thành tựu một dạng tồn tại cá thể ở cảnh giới cao hơn. “Nhất hợp tướng” như vậy, vì nó là tướng chân thực trong một phạm vi nhất định của vũ trụ, vì con người là sinh mệnh đang mê lầm trong tình, nên vì tham dục và chấp trước của mình mà lại càng chấp trước hơn. Con người ai cũng cầu cái lớn, cái nhiều, vì thế đạo lý này thực ra không thể nói rõ ràng minh bạch bằng lời cho con người. Người ta sẽ dùng tâm công lợi của mình để suy đoán, và thường chính vì sự ham muốn và chấp trước ấy mà càng không thể hiểu được nó. Con người hiện đại biết rằng, bất kỳ một tế bào nào cũng chứa đầy đủ thông tin toàn thể của sinh mệnh đó, chính vì vậy mà có thể thực hiện việc nhân bản. Như vậy khi sinh mệnh bị chi phối bởi những ý niệm sai lệch, lại càng chú tâm vào một hạt bụi nhỏ bé, thì thực ra đã đi ngược lại đặc tính của vũ trụ. Tuy vậy, càng “đào sâu nghiên cứu”, người ta lại càng cảm thấy thú vị vô cùng. Điều này cũng giống như cách hiểu trong “Đàn Kinh” của Lục Tổ Huệ Năng: Chỉ trong một “đàn tràng” (không gian nhỏ) mà có thể phản chiếu cả một “càn khôn” rộng lớn. Càng nghiên cứu sâu, dường như mọi thứ đều đầy đủ trong đó; nhưng nếu nhìn từ tổng thể, thì nó lại nhỏ bé vô cùng. Do đó, tâm và nhận thức của người thường sẽ chấp trước (tham trước) vào điều ấy; đó chính là nguyên nhân vì sao Thích Ca Mâu Ni không giảng rõ chân tướng này. Nhưng điều này vẫn chỉ là cách giảng Pháp đơn giản trong khái niệm mà con người có thể hiểu và nhận thức được. Phải biết rằng Thích Ca Mâu Ni cũng giảng: Nếu lấy sắc tướng mà thấy Ta, lấy âm thanh mà cầu Ta, người ấy hành tà Đạo, không thể thấy được Như Lai. Về những lời nói trên chỉ nhằm phá trừ sự hiểu lầm hiện nay về chân nghĩa mà Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy nên chỉ biện giải sơ qua. Nếu có người lại xem đó là chân thật rồi dùng tâm cầu lợi ích mà theo đuổi, thì sẽ khiến bản thân ngày càng xa rời Phật tính vốn có của mình.

2. “Đệ tam thập nhất phẩm tri kiến bất sinh phân”: “Tu Bồ Đề! Nhược nhân ngôn: Phật thuyết ngã kiến, nhân kiến, nhân chúng kiến, thọ giả tướng.Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Thị nhân giải ngã thuyết nghĩa phủ? Bất dã, Thế Tôn! Thị nhân bất giải Như Lai sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? Thế Tôn thuyết: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức phi ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu-bồ-đề! Phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm giả, ư nhất thiết pháp ưng như thị tri, như thị kiến, như thị tín giải, bất sanh pháp tướng. Tu-bồ-đề! Sở ngôn pháp tướng giả, Như Lai thuyết tức phi pháp tướng, thị danh pháp tướng. (Tạm dịch: Đoạn thứ 31 – Tri kiến chẳng sinh: Này Tu-bồ-đề, nếu có người nói Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Người ấy hiểu nghĩa của ta nói chăng? Bạch Thế Tôn, không hiểu vậy. Người ấy không hiểu nghĩa của Như Lai nói. Vì cớ sao? Thế Tôn nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, ấy gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Này Tu-bồ-đề, người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với tất cả Pháp nên như thế mà biết, như thế mà thấy, như thế mà tin hiểu, không sinh Pháp tướng). Chúng ta có thể dùng một câu để khái quát đoạn kinh văn này: tức là Thích Ca Mâu Ni đang nói rằng cốt yếu là hiểu rõ bản chất mọi sự của vật chính là ở chỗ vô ngã. Không chấp vào tướng. Trong hiện thực, người ta có câu: Thấy núi là núi, thấy nước là nước; điều này ám chỉ đến nhận thức của con người bị ràng buộc bởi các giác quan như mắt và tai. Nhưng khi đi sâu thêm một tầng nữa, thì thấy núi không còn là núi, thấy nước không còn là nước. Vì sao lại như vậy? Đó là ở tầng vi quan hơn, chẳng hạn, khi một người tu luyện đạt đến công năng “Pháp nhãn thông”, thì nhìn thấy mọi vật đều là vật thể sống. Nhưng khi đạt đến một cảnh giới cao hơn nữa, lúc này trong tâm trở nên nhẹ nhàng thư thái, “làm theo điều mình muốn mà không vượt ra ngoài khuôn phép”, ngược lại viên dung được hết thảy, lại trở nên điềm đạm tự nhiên, “thấy núi vẫn là núi, thấy nước vẫn là nước”, đây là một cảnh giới viên dung như ý. Dùng điều này để hiểu câu nói đó thì sẽ rất dễ.

Thích Ca Mâu Ni đặc biệt nhắc nhở: “Đối với tất cả Pháp nên như thế mà biết, như thế mà thấy, như thế mà tin hiểu, không sinh Pháp tướng”. Chính là không nhìn nó theo một cách cố định, bởi vì Phật nhìn sự vật không phải theo cách nhìn của con người. Cách nhìn của Ngài là từ hồng quan đến vi quan trong mười phương cùng một lúc. Còn một người tu luyện, trong quá trình không ngừng thăng hoa, có lẽ sẽ dần hiểu rằng mọi thứ chỉ là những biểu hiện ở các tầng thứ khác nhau do Pháp tạo thành và tồn tại mà thôi. Trong tất cả đều có Pháp, từ cực kỳ to lớn đến cực kỳ vi quan, không gì là không bao hàm đặc tính của vũ trụ. Là một sinh mệnh, bạn đồng hóa đến tầng thứ nào, thì bạn chính là sinh mệnh ở tầng thứ đó. Còn tất cả những Pháp mà các bậc Thánh chứng ngộ, khi truyền lại cho con người cũng chỉ là một con đường, giống như điều Thích Ca Mâu Ni đã nói về “ví dụ chiếc bè” mà thôi; chúng không phải là bản thân của Pháp. Nói đến đây, chúng ta nói rõ thêm một chút: kỳ thực môi trường mà chúng ta đang ở, nếu dùng Pháp nhãn mà nhìn, thì chính là sự biểu hiện của “Pháp” ở tầng này. Nói cách khác, Pháp lý không nhất định phải được viết trong sách vở — vốn dĩ nó ở khắp mọi nơi. Môi trường mà chúng ta sinh tồn chính là sự biểu hiện của Pháp, hơn nữa, tất cả các tầng thứ của Pháp đều cùng tồn tại trong đó. Khi tâm tính của bạn được nâng cao và trí huệ được khai mở thì bạn sẽ đọc hiểu cuốn thiên thư không chữ này, đó chính là “cách vật trí tri” (hiểu được chân lý sâu xa của vạn vật) thực sự. Vì vậy, người xưa mới nói: “Ngay trên đống gạch vụn cũng đều có Pháp thù thắng vô thượng”. Nhưng đó tuyệt nhiên không phải là cái ý của kẻ ngu muội, suốt ngày ngồi lì trước một vật mà trầm tư mặc tưởng. Là bởi vì khi bạn đắc được chân Pháp, tâm tính được đề cao, thì vô lượng vật chất và Thần Phật trong vũ trụ sẽ điểm hóa để bạn nhận thức ra điều ấy. Vì vậy không nên rơi vào cái khuôn khổ hữu hình ấy. Từ khi con người có chữ viết và sách vở, dần dần lại quên rằng chữ nghĩa sách vở cũng chỉ là một phương tiện truyền tải mà thôi. Tuy đó là một sáng tạo thần kỳ của sinh mệnh, nhưng cuốn sách không chữ thì trí huệ hiện diện khắp nơi. Chỉ cần tâm tính của một người có thể chuyên chú vào một điều nào đó, thì từ chính trong sự vật mình đang đối diện cũng có thể ngộ ra bản tính. Điều then chốt là sự đề cao tâm tính. Vì vậy, bản thân mọi nghề nghiệp, mọi ngành nghề đều có thể trở thành con đường tu luyện; toàn bộ quá trình sống của một sinh mệnh cũng đều có thể dùng để tu luyện. Nhưng tiền đề là phải thuận theo đặc tính của vũ trụ, thuận theo Đại Pháp căn bản của vũ trụ. Trong tiền đề như vậy, mọi nghề nghiệp đều có thể chuyển hóa thành con đường tu hành, mà vốn dĩ tự thân chúng đã là con đường như thế.

Vì thế, xưa kia Khổng Tử từng nói: “Khoa, cổ chi đạo dã”, nghĩa là bất kỳ nghề nghiệp hay ngành nghề nào cũng đều là con đường dẫn đến giác ngộ. Điều này còn dẫn đến một quan niệm sai lầm rất lớn của nhân loại ngày nay, rằng mọi nhà khoa học, nhà phát minh và những người thành công lớn, tự thân họ cũng đều là một tải thể cho ý chỉ của Thần, những phát minh, công lao sự nghiệp mà họ tạo dựng được cũng đều là biểu đạt và thể hiện ý chỉ của Thần. Ví như Michael Faraday phát minh ra động cơ điện từ, Thomas Edison phát minh ra bóng đèn điện, Galileo Galilei phát minh ra kính viễn vọng, v.v. Nếu nhìn tất cả những điều ấy từ cảnh giới thanh tĩnh, sáng suốt của Phật tính vô lậu, thì đó chẳng qua cũng chỉ là Thần chọn họ dùng vật chất ở tầng không gian này tái tạo lại những thứ vốn đã sẵn có trong vũ trụ mà thôi, còn những gì vốn không có trong vũ trụ, con người dù có xoay xở cách nào cũng không thể làm ra được. Bởi vì những gì tồn tại ở tầng không gian của con người này, trước hết phải được hình thành ở một không gian khác. Goethe nói: “Việc ở nhân gian trước hết khởi nguồn từ Thiên Thượng, muốn có điều tốt đẹp thì trước hết phải có một tấm lòng tốt”. Newton từng nói: “Tôi thấy mình như một đứa trẻ chơi đùa trên bãi biển, may mắn tìm được một viên sỏi nhẵn nhụi hay một vỏ sò đẹp hơn bình thường, trong khi đại dương chân lý bao la vẫn nằm trước mặt mà tôi chưa khám phá hết” và “Nếu tôi nhìn xa hơn người khác, đó là vì tôi đứng trên vai những người khổng lồ”. Sau khi xác lập lại thế cục châu Âu, Alexander II of Russia đã hết sức khiêm nhường cầu nguyện trước Thượng Đế: Mọi sự đều là do Ngài, Thượng Đế vĩ đại và toàn năng. Suy rộng thêm một bước nữa, người ta sẽ thấy Jesus từng nói rằng: Mọi sự đều quy công về Đức Chúa Cha vĩ đại, hết thảy đều theo ý muốn của Ngài. Thích Ca Mâu Ni nói: Ta chưa từng giảng Pháp nào cả. Nếu có người nói rằng Như Lai có thuyết Pháp, thì đó là phỉ báng Phật. Khổng Tử nói: Ta chỉ là người thuật lại Thiên Đạo; điều ta làm chẳng qua chỉ là thuật lại chứ không tự mình sáng tác ra.

Lão Tử nói: “Có một vật được sinh ra từ trong hỗn độn, nó tồn tại trước trời và đất, vắng lặng và yên tĩnh, đứng một mình và không thay đổi, vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong trời đất. Ta không biết nó là gì, tạm đặt tên nó là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là Đạo”. Mọi bậc Thánh giác chân chính đều sẽ nhận ra rằng, điều thực sự vĩ đại không phải là bất kỳ cá thể nào trong vũ trụ, mà là Pháp đã tạo nên vũ trụ, cùng ý chí, trí huệ và sức mạnh của Chủ tể vũ trụ. Tuy nhiên, do giới hạn của sinh mệnh ấy mà mỗi người lại biểu đạt khác nhau. Điều đó dẫn đến nhận thức văn hóa của nhân loại ngày nay trở nên vô cùng phức tạp, nhưng kỳ thực cuối cùng đều quy về một. Chính là Đấng tạo ra vũ trụ là nguồn gốc của mọi trí huệ, là Đấng sáng tạo, vận hành và quyết định cái nhân tố của mọi yếu tố tồn tại. Thân thể đã trở thành cái gì rồi? Nếu anh ta tự khoe khoang, tự đề cao bản thân, thì người xưa cũng đã biết rằng: “Kẻ tự khoe mình thì không có công lao”. Cho nên mới nói: “Tự mãn thì chuốc lấy tổn hại, khiêm nhường thì được lợi ích”, bởi đức tính khiêm tốn là phù hợp với đặc tính của vũ trụ, là sự thể ngộ Thiên Đạo của sinh mệnh cá thể và trí huệ “thuận theo tự nhiên của Đạo”. Nó không phải là một ưu điểm tuyệt diệu gì từ bên ngoài áp đặt vào; một sinh mệnh thực sự nhận thức được bản chất của vũ trụ thì tự nhiên sẽ thể ngộ và giác ngộ được điều ấy. Vậy thì điều đó cũng có thể lý giải một chút rằng câu người ta thường nói: “Đọc sách trăm lần, tự khắc hiểu được ý nghĩa của nó” rốt cuộc là có ý gì. Nghĩa là: một người đọc trước tác của bậc Thánh hiền, mỗi lần đọc lại lĩnh hội thêm được một chút, rồi chiểu theo đó mà thực hành. Cùng với sự đề cao tâm tính, những nhân tố phía sau đó sẽ khai ngộ cho bạn, sẽ khiến bạn hiểu được chân nghĩa của câu nói ấy.

Chẳng phải khoa học hiện đại đã phát hiện rằng bất kỳ ai viết một nét bút cũng đều hàm chứa thông tin của người đó sao? Cách nhìn ở tầng cao hơn là: Mọi điều một người phát ra đều bao hàm toàn bộ thông tin của chính người đó. Do đó, con đường giác ngộ của sinh mệnh ngày nay có thể đạt được một sự giản hóa chưa từng có. Nhân loại nhất thiết phải loại bỏ những quan niệm rườm rà, mơ hồ và những nhận thức sai lầm, để một lần nữa làm sáng tỏ căn bản của sinh mệnh. từ trên một nền tảng đã được đổi mới, đặt lại cho đúng đắn thái độ đối với Pháp lý căn bản của vũ trụ, chủ động đồng hóa với Pháp lý, thì mới có một tương lai tươi sáng.

3. “Đệ tam thập nhị phẩm ứng hóa phi chân phân” “Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân dĩ mãn vô lượng a-tăng-kỳ thế giới thất bảo trì dụng bố thí, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân phát Bồ-đề tâm giả, trì ư thử kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì độc tụng, vị nhân diễn thuyết, kỳ phúc thắng bỉ”. (Tạm dịch: Này Tu Bồ Đề! Nếu có người đem bảy báu đầy khắp vô lượng vô số thế giới để bố thí, lại có thiện nam hay thiện nữ nào phát tâm Bồ-đề, thọ trì kinh này, dù chỉ đến một bài kệ bốn câu, rồi gìn giữ, đọc tụng và giảng giải cho người khác, thì phước đức của người ấy còn vượt hơn phước đức của người bố thí bảy báu kia). Đoạn này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh này và tầm quan trọng của việc quảng truyền giáo Pháp được giảng trong kinh này. Mục đích của Thích Ca Mau Ni là làm cho Phật Pháp (văn hóa Phật giáo) được truyền bá rộng khắp nhân gian; và bộ kinh này chính là một trong những kinh điển đã trình bày giáo Pháp ấy một cách sâu sắc và hoàn bị nhất vào thời bấy giờ. Làm thế nào vì người khác mà giảng giải kinh này? Chính là không chấp vào các tướng, tâm luôn như như bất động. Ở đây nêu ra những yêu cầu đối với việc “vì người khác mà diễn giảng Phật Pháp”, cũng tức là những yêu cầu đối với người truyền Pháp. Các vị có thể vì người khác mà truyền giảng rộng Pháp này, các Phật tử đời sau cũng có thể truyền bá rộng rãi, nhưng phải làm được “không chấp vào các tướng, tâm luôn như như bất động”. Ý câu này là gì? Có những người căn cơ tốt, nghe được Pháp này liền sinh tâm hoan hỷ, cảm kích người truyền Pháp, thậm chí còn tăng thêm sự cúng dường đối với người ấy, bạn phải tự đặt mình như thế nào? Đừng chấp trước vào các hình tướng bên ngoài đó. Bởi vì vẫn sẽ có những người không thấu hiểu, thậm chí còn bức hại bạn, khi ấy bạn sẽ nên làm thế nào? Nếu là như vậy mà còn chấp mê vào các hình tướng bên ngoài, thì ngay cả tâm Pháp căn bản của một người truyền Pháp bạn cũng chưa đạt được. Điều cần làm là “như như bất động”. Nghĩa là trước hết chính bản thân các vị phải thấu hiểu sâu sắc nghĩa lý của kinh điển, siêng năng tu tập Giới – Định – Huệ. Theo cách nói của Phật giáo, đó là phải “như Pháp”, tức là bản thân phải tinh tấn tu luyện, trước tiên tự mình làm đúng theo Pháp. Thứ nữa, cần phải dựa vào căn cơ của chúng sinh, đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh môi trường mà áp dụng những hình thức thích hợp, giống như về sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc đã sử dụng phương thức xây dựng chùa chiền rộng khắp vậy. Đó gọi là “nhập hương tùy tục”, Nhưng nếu không có điều thứ nhất là tuân theo Pháp mà thực hành đúng như lời dạy, thì điều thứ hai hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Vậy thì, khi đối mặt với sự khảo nghiệm, không được làm dao động cái tâm kiên định của mình. Đó mới chính là ý nghĩa chân thật của như như bất động. Tánh Không sáng suốt linh minh, tự độ mình rồi độ người, đó mới chính là chân nghĩa của giáo Pháp mà Đức Phật Thích Ca đã giảng dạy. Về thực chất, đây là một bước hết sức quan trọng trong nền văn hóa đã thành tựu nên chư Phật trong quá khứ.

Vì sao vậy? “Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng, huyễn, bào, ảnh, Như lộ diệc như điện, Ưng tác như thị quán”. (Tạm dịch: Tất cả các Pháp hữu vi đều như mộng, như huyễn hóa, như bọt nước, như bóng ảnh; như giọt sương, cũng như tia chớp. Nên nhìn nhận các Pháp theo cách như thế). Vì sao lại như thế? Vì các đệ tử thuộc hàng Thượng tọa bộ đều luôn ở bên cạnh Thích Ca Mâu Ni, đã được nghe Ngài thuyết Pháp từ khi Ngài vừa khai ngộ. Trong suốt bốn mươi chín năm truyền Pháp, Ngài đã giảng dạy nhiều Pháp lý ở những tầng thứ khác nhau. Về sau, khi cảnh giới được thăng hoa, Ngài nhận ra rằng không ít lời giảng của mình ở giai đoạn đầu có những hạn chế, thậm chí có chỗ chưa hoàn toàn chính xác. Sự đề cao của các đệ tử cũng đòi hỏi phải không ngừng đột phá vượt lên. Đối với những điều được dạy trong “Kim Cương Kinh”, tuy rất khó hiểu, nhưng vì vô cùng quan trọng nên cần được được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Hơn nữa, Thích Ca Mâu Ni biết rằng các đệ tử đương thời cũng như những người học về sau chắc chắn sẽ mắc nhiều sai lầm trong việc lý giải và chứng ngộ vấn đề “hữu vi” và “vô vi”. Đặc biệt xét đến trạng thái của các đệ tử lúc bấy giờ, nên Thích Ca Mâu Ni đã dùng bài kệ ấy để một lần nữa luận giải rằng các Pháp hữu vi đều như mộng, huyễn, bọt nước và bóng ảnh. Bởi vì Ngài thấy rằng vào thời kỳ “Tướng Pháp” ở đời sau, con người sẽ dựng lên một khuôn mẫu nào đó, trong tu hành Phật Pháp coi việc đúc tượng Phật, in kinh Phật, xây chùa chiền là tu luyện, thậm chí còn đem những việc ấy ra để ganh đua, so sánh với nhau. Vì vậy, Ngài muốn nói cho chúng sinh biết rằng đó không phải là tu luyện, tất cả những việc ấy chẳng qua cũng chỉ như mộng, huyễn, bọt nước và bóng ảnh mà thôi. Phật chỉ thừa nhận cái tâm của con người, về bản chất không thừa nhận các hình thức tôn giáo, huống chi trong những thứ hữu vi ấy còn chứa đựng biết bao nhân tâm ô uế và những sự mong cầu vọng tưởng! Còn những người chưa đạt đến cảnh giới ấy mà vì danh lợi lại đi giảng nói kinh này, thì đó chính là làm rối loạn Pháp của Ngài. Đức Phật giảng kinh này rồi, trưởng lão Tu-bồ-đề và chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà tắc, Ưu- bà-di, tất cả thế gian Trời, người, a-tu-la nghe Phật giảng đều rất vui mừng, tin thọ và vâng làm. Đây là lời người đời sau thêm vào, đem sự hiểu biết riêng cùng những điều thấy biết ở tầng thứ thấp của mình mà gán ghép vào kinh. Đó không phải là nghĩa chân thật của kinh.

(Hết)

(Đăng tải lần đầu trên Nhân Dân Nhật báo)

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48592