Tác giả: Lưu Hiểu

[ChanhKien.org]

Chân dung Tôn Quyền (The Epoch Times chế tác)

Nhà thơ đời Đường Vương Bột từng viết bài tản văn “Tam Quốc luận”, trong đó ông đã khái quát hết sức cô đọng những phẩm chất của Tôn Quyền với tư cách một bậc đế vương “đề cử hiền tài, dùng theo năng lực”, cùng những công lao to lớn mà ông đã lập được trong suốt cuộc đời. Ông kế thừa sự nghiệp của cha và anh, giao trọng trách cho Chu Du và Lỗ Túc. Ông rơi lệ vì thương tích của Chu Thái, cầu nguyện ông trời vì bệnh tình của Lã Mông, quý trọng tài năng của Chu Hoàn nên không kết tội ông, lắng nghe lời can gián của Trương Chiêu và nhiều lần đích thân đến thăm hỏi. Chính vì biết trân quý và trọng dụng nhân tài như vậy nên lãnh thổ nước Ngô đã mở rộng về phía nam đến Giao Chỉ (nay là miền Bắc Việt Nam), đẩy lui quân lính ở các vùng Ngũ Lĩnh; về phía đông vươn đến tận ven biển, thu phục được các bộ tộc Bách Việt. Lãnh thổ rộng tới 5.000 dặm, binh lực lên đến hàng trăm nghìn người. Quả thật, Tôn Quyền xứng đáng là bậc hùng tài thần vũ, anh hùng thời đại.

Củng cố nền tảng, mưu tính lâu dài, phát triển Giang Nam

Sau khi lên ngôi, ngoài việc mở mang bờ cõi và củng cố chính quyền thông qua các hoạt động quân sự, Tôn Quyền còn thiết lập quan hệ với các thế tộc ở Giang Đông bằng nhiều hình thức như kết thông gia và chiêu dụ, vỗ về, nhằm giành được sự ủng hộ của họ. Đồng thời, Tôn Quyền cũng đặc biệt chú trọng đến việc khai phá và phát triển vùng đất phía nam sông Trường Giang (Giang Nam).

Từ thời Đông Hán, khu vực phía nam sông Trường Giang tuy đã được khai phá ở một mức độ nhất định, nhưng nhiều nơi vẫn còn là vùng đất hoang vu. Cuối thời Đông Hán, chiến loạn liên miên ở miền Bắc khiến đông đảo dân chúng di cư xuống phương Nam, mang theo nguồn nhân lực dồi dào, vật lực và kỹ thuật sản xuất. Tôn Quyền liền tập hợp những người di cư này để phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời thi hành chế độ đồn điền. Đồn điền được chia thành quân đồn và dân đồn, đồng thời thiết lập các chức quan như Điển nông Hiệu úy, Điển nông Đô úy và Đồn điền Đô úy để phụ trách quản lý. Binh sĩ quân đồn vừa cày cấy vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, còn các hộ dân đồn chỉ chuyên canh tác và được miễn các loại lao dịch. Để khuyến khích tướng sĩ tích cực khai khẩn đồn điền, Tôn Quyền còn cho đem tám con trâu vốn dùng để kéo xe ngự của mình chuyển thành trâu cày, phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Vào thời bấy giờ, tại nhiều nơi ở Giang Nam vẫn còn áp dụng những phương thức canh tác lạc hậu như đốt nương làm rẫy và gieo trồng trên ruộng nước bằng phương pháp thủ công. Dưới sự khuyến khích của Tôn Quyền, phương pháp cày ghép bằng hai trâu kéo một lưỡi cày dần được phổ biến. Nhờ đó, một diện tích lớn đất hoang được khai khẩn, sản lượng lương thực cũng tăng lên qua từng năm. Tôn Quyền còn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các công trình thủy lợi. Ông hạ lệnh xây dựng đê Đông Hưng để ngăn ngừa ngập lụt do hồ Sào gây ra, đồng thời cho đào kênh Đông Cừ cùng nhiều tuyến kênh đào khác. Những công trình này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của giao thông đường thủy mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp.

Về thương nghiệp, Tôn Quyền từng tổ chức một bộ phận binh sĩ chuyên tham gia sản xuất thủ công nghiệp và hoạt động thương mại, đồng thời thiết lập các cơ quan quản lý và kinh doanh tương ứng. Chẳng hạn, tại kinh đô Kiến Nghiệp, ông cho thành lập xưởng dệt chính thức của triều đình mang tên “Chức Lạc” để sản xuất các loại lụa dệt cao cấp. Ngoài ra, Kiến Nghiệp còn có hai khu chợ lớn, là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi và buôn bán hàng hóa.

Dưới sự phò tá của các bậc hiền thần, chỉ trong hơn 20 năm, Tôn Quyền đã đưa nước Đông Ngô vào nền nếp, trị quốc có trật tự. Đồng thời, thông qua việc khai phá và phát triển vùng Giang Nam, ông đã biến một vùng đất rộng lớn vốn còn hoang sơ, hẻo lánh thành miền đất trù phú, khiến Giang Nam bước vào thời kỳ phồn vinh chưa từng có. Trong thời kỳ này, ngành đóng tàu, thủ công nghiệp và thương nghiệp của Đông Ngô đều đạt được những bước phát triển vượt bậc.

Theo ghi chép trong “Ngô thời Ngoại quốc truyện” do Khang Thái thời Tam Quốc biên soạn, thuyền đi biển của Đông Ngô có loại lớn nhất căng tới 7 cánh buồm. Loại thuyền đi biển này có thể thuận gió xuất phát từ Gia Na Điều Châu ở Nam Hải, vượt biển đến Đại Tần, tức Đế quốc La Mã cổ đại, chỉ trong vòng một tháng. Ưu điểm của loại thuyền nhiều buồm, nhiều cột buồm này là các cánh buồm được bố trí nghiêng, mỗi cánh đều có thể đón gió riêng, nhờ đó buồm phía sau không che khuất gió của buồm phía trước, giúp con thuyền di chuyển với tốc độ nhanh hơn. Kỹ thuật đóng và vận hành loại thuyền này được xem là thuộc hàng tiên tiến nhất thế giới vào thời bấy giờ.

Với trình độ kỹ thuật tiên tiến như vậy, ngành đóng tàu của Đông Ngô đương nhiên cũng vô cùng phát triển. Tại quận Kiến An (nay là Phúc Châu), Đông Ngô đặt chức Điển thuyền Hiệu úy, phụ trách quản lý việc sử dụng phạm nhân để đóng tàu. Ngoài ra, triều đình còn lập các “thuyền đồn” tại những vùng ven biển như Vĩnh Ninh (nay thuộc thành phố Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang), Hoành Dương (nay là huyện Bình Dương, tỉnh Chiết Giang) và Ôn Ma (nay là huyện Liên Giang, tỉnh Phúc Kiến) nhằm phát triển ngành đóng tàu. Sử sách ghi lại rằng, khi Đông Ngô bị diệt vong, chỉ riêng số thuyền của triều đình đã lên tới hơn năm nghìn chiếc. Những chiến thuyền do Đông Ngô chế tạo, loại lớn nhất có năm tầng, có thể chở ba nghìn binh sĩ. Những đại hải thuyền mà Tôn Quyền từng sử dụng, như “Phi Vân” và “Cái Hải”, đều hết sức hùng vĩ và tráng lệ. Ngay cả những tàu lớn thông thường hoạt động trên biển cũng dài khoảng 20 trượng, cao hơn mặt nước 2 đến 3 trượng, có sức chở từ 600-700 người.

Mở mang biên giới biển, giao hảo với các nước Nam Dương

Với kỹ thuật đóng tàu và hàng hải tiên tiến, Đông Ngô đương nhiên không bỏ qua việc khám phá vùng biển rộng lớn. Theo sử sách ghi chép, dưới thời Tôn Quyền, Đông Ngô đã nhiều lần tổ chức những chuyến hải hành quy mô lớn để vươn ra đại dương.

● Đồn trú tại Đài Loan

Trong thời cổ đại, Đài Loan từng được gọi là “Di Châu” hoặc “Lưu Cầu”. Theo “Lâm Hải Thủy Thổ Chí” do người Đông Ngô thời Tam Quốc là Thẩm Oánh biên soạn, Di Châu nằm cách quận Lâm Hải (tức khu vực từ huyện Ninh Hải, tỉnh Chiết Giang ngày nay trở về phía nam) khoảng 2000 dặm về phía đông nam. Căn cứ vào ghi chép này, có thể xác định rằng “Di Châu” chính là Đài Loan ngày nay. Cuốn sách còn mô tả về địa lý, phong thổ của Di Châu rất tương đồng với miền bắc Đài Loan hiện nay. Những phong tục, tập quán của cư dân bản địa được ghi chép trong sách cũng có nhiều điểm tương đồng với đời sống của đồng bào các dân tộc bản địa vùng núi ở Đài Loan ngày nay. Điều này càng cho thấy Di Châu chính là Đài Loan. Ngoài ra, trong “Nguyên sử – Lưu Cầu truyện” (quyển 210) cũng có ghi rằng: “Lưu Cầu nằm ở phía đông Nam Hải”.

Năm 230, Tôn Quyền dự định phái hai tướng Vệ Ôn và Gia Cát Trực chỉ huy hơn vạn quan binh “vượt biển tìm Di Châu và Đản Châu (Nhật Bản thời cổ)”. Đản Châu nằm giữa biển cả. Tương truyền, khi xưa Tần Thủy Hoàng từng sai phương sĩ Từ Phúc dẫn theo hàng nghìn đồng nam, đồng nữ vượt biển tìm núi thần Bồng Lai và thuốc trường sinh, rồi dừng chân tại hòn đảo này và không quay trở lại. Thời Đông Ngô cũng từng có người đi biển bị gió lớn cuốn trôi đến Đản Châu. Kế hoạch của Tôn Quyền đã vấp phải sự đồng lòng phản đối của các trọng thần Lục Tốn và Toàn Tông. Họ cho rằng: “Đem quân vượt biển vạn dặm để tập kích là việc đầy hiểm nguy, sóng gió trên biển không thể lường trước; binh lính dễ không hợp thủy thổ, tất sẽ phát sinh dịch bệnh. Nay điều động đông đảo quân sĩ vượt qua những vùng đất hoang vu, mong thu được lợi ích nhưng rất có thể lại chịu tổn thất, muốn cầu lợi mà hóa ra chuốc lấy tai hại”. Tuy nhiên, Tôn Quyền không nghe.

Theo “Lâm Hải Thủy Thổ Chí”, sau khi ra khơi, đoàn quân của Vệ Ôn và Gia Cát Trực đã đến Di Châu. Họ trước tiên đi dọc bờ biển đến Phúc Châu và Tuyền Châu, rồi vượt eo biển Đài Loan, đổ bộ vào khu vực Đài Nam và Gia Nghĩa ngày nay. Sau khi đồn trú tại Đài Loan một năm, họ vẫn không tìm thấy Đản Châu. Cuối cùng, do nhiều binh sĩ không thích nghi với khí hậu và thổ nhưỡng, đoàn quân phải quay trở về đại lục. Cùng trở về theo đoàn còn có vài nghìn cư dân bản địa Đài Loan. Đây được xem là ghi chép sớm nhất trong lịch sử về việc một chính quyền thiết lập sự quản lý và đồn trú quân đội tại Đài Loan. Kể từ đó, Đài Loan và Đại Lục có thêm nhiều hoạt động giao lưu và qua lại với nhau.

● Sách cổ Nhật Bản có ghi chép về “nước Ngô”.

Mặc dù chuyến hải hành của Vệ Ôn và Gia Cát Trực đến Đản Châu không thành công, nhưng thế không có nghĩa là Đông Ngô không có quan hệ giao lưu với Nhật Bản. Từ thời cận đại đến năm 1984, các nhà khảo cổ đã lần lượt khai quật được hơn 370 chiếc gương đồng có nguồn gốc từ đất Ngô tại Nhật Bản. Đây là bằng chứng cho thấy giữa hai nước đã tồn tại hoạt động giao thương. Trong các thư tịch cổ của Nhật Bản như “Nhật Bản Thư Kỷ” và “Cổ Sự Ký”, các triều đại Đông Tấn và Nam triều về sau thường được gọi chung là “nước Ngô” (吳國), còn người dân của các triều đại này được gọi là “người Ngô” (吳人). Những sản phẩm như lụa dệt, y phục và giường chiếu du nhập từ Nam triều cũng đều được gắn với tên gọi “Ngô” (吳). Điều này cho thấy Đông Ngô đã để lại ảnh hưởng sâu đậm tới Nhật Bản.

Chân dung Tôn Quyền trong “Lịch đại Đế vương đồ” của Diêm Lập Bản đời Đường (bản sao do hậu thế mô phỏng), hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Boston, Hoa Kỳ. (Tư liệu công cộng)

● Cao Câu Ly xưng thần, triều cống

Dưới thời Tôn Quyền, hạm đội của Đông Ngô còn từng đi xa tới tận Liêu Đông. Lúc bấy giờ, tuy Liêu Đông thuộc phạm vi thế lực của nước Ngụy, nhưng trên thực tế lại do dòng họ Công Tôn cát cứ, tự xưng hùng một phương. Ngoài ra, khu vực này còn có các quốc gia như Cao Câu Ly tồn tại song song. Ngay từ những năm Kiến An, Tôn Quyền đã từng phái sứ giả vượt biển đến Liêu Đông để liên minh với Công Tôn Khang. Tuy nhiên, sứ giả bị giết hại, từ đó hai bên kết oán và trở thành thù địch.

Năm 228, Công Tôn Uyên, con trai của Công Tôn Khang, trở thành người thống trị mới của Liêu Đông. Ông ta một mặt tiếp nhận tước phong của nước Ngụy, mặt khác lại chủ động cử sứ giả sang giao hảo với Tôn Quyền. Từ đó, hạm đội của Đông Ngô lại xuất hiện trên tuyến hải trình giữa Liêu Đông và Giang Nam, tiến hành hoạt động trao đổi hàng hóa giữa nhân dân hai vùng. Tào Ngụy tuy biết việc này nhưng không đủ khả năng ngăn chặn, còn các quan lại đồn trú tại địa phương cũng đành bất lực. Tháng 3 năm 232, Tôn Quyền tổ chức một hạm đội quy mô lớn với “hơn một trăm chiến thuyền”, cử tướng Chu Hạ và Hiệu úy Bùi Tiềm làm thống soái, tiến đến Liêu Đông. Tin tức nhanh chóng truyền đến nước Ngụy. Điền Dự, Thái thú quận Nhữ Nam, đã bố trí quân mai phục. Đến tháng 9, khi đoàn thuyền Đông Ngô trên đường trở về, Điền Dự bất ngờ dẫn quân đánh úp. Chu Hạ bị chém chết, toàn bộ binh sĩ đã lên bờ đều bị bắt làm tù binh, còn thuyền bè thì bị đánh chìm hoặc tổn thất rất nhiều. Chỉ có Bùi Tiềm may mắn thoát nạn. Sau sự việc này, Tôn Quyền vô cùng hối hận.

Thế nhưng chỉ một tháng sau, Công Tôn Uyên lại phái sứ giả mang da chồn, ngựa chiến cùng nhiều sản vật quý đến tiến cống. Tôn Quyền vô cùng phấn khởi và bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi Liêu Đông mới. Tháng 3 năm 233, Tôn Quyền cử Thái thường Trương Di và Chấp Kim Ngô Hứa Yến làm sứ giả; đồng thời sai các tướng Hạ Đạt, Ngu Tư, Trung lang tướng Vạn Thái và Hiệu úy Bùi Tiềm chỉ huy một đạo quân hơn một vạn người hộ tống sứ giả của Công Tôn Uyên trở về Liêu Đông. Đoàn sứ bộ còn mang theo vàng bạc, châu báu và nhiều lễ vật quý giá, cùng đầy đủ Cửu Tích để ban thưởng cho Công Tôn Uyên, đồng thời phong ông làm Yên Vương. Các đại thần như Trương Chiêu cho rằng sự đãi ngộ dành cho Công Tôn Uyên là quá hậu hĩnh, đồng thời lo ngại sẽ xảy ra biến cố ngoài ý muốn. Tuy nhiên, Tôn Quyền vẫn không nghe theo.

Đúng như dự đoán, khi Công Tôn Uyên nhìn thấy Vạn Thái cùng đoàn sứ bộ còn mang theo một lượng lớn tiền bạc và hàng hóa để mua chiến mã, lòng tham nổi lên. Thừa lúc các sứ thần và tướng sĩ Đông Ngô không đề phòng, ông ta bất ngờ ra tay, một lưới bắt hết. Toàn bộ vàng bạc châu báu đều bị Công Tôn Uyên chiếm đoạt. Không những vậy, ông ta còn dâng thủ cấp của Trương Di, Hứa Yến cùng những người khác cho Tào Ngụy để lập công. Khi hay tin, Tôn Quyền vô cùng phẫn nộ, thốt lên: “Trẫm nay đã 60 tuổi, mọi việc khó dễ trên đời đều từng trải qua, vậy mà gần đây lại bị tên tiểu nhân ấy lừa gạt đến tiến thoái lưỡng nan, khiến cơn giận trong lòng dâng lên như núi. Nếu không tự tay lấy đầu tên chuột nhắt ấy ném xuống biển, thì Trẫm còn mặt mũi nào để đối diện với thiên hạ. Dẫu phải lâm vào cảnh khốn cùng, Trẫm cũng quyết không hối hận”. Ngay lập tức, Tôn Quyền định đích thân chỉ huy hạm đội chinh phạt Công Tôn Uyên, nhưng sau nhiều lần được Lục Tốn cùng các đại thần hết sức can gián, ông mới từ bỏ ý định này. Sau đó, Tôn Quyền còn chủ động xin lỗi Trương Chiêu, thừa nhận mình đã không nghe theo lời khuyên trước đó.

Điều bất ngờ là bốn sứ quan đi sứ Liêu Đông gồm Tần Đán, Trương Quần, Đỗ Đức và Hoàng Cương đã may mắn trốn thoát, rồi đến được Cao Câu Ly (nay thuộc miền bắc bán đảo Triều Tiên), yết kiến quốc vương Vị Cung. Họ lập tức truyền đạt rằng Ngô vương đã ban chiếu thư cho quốc vương Cao Câu Ly và chủ bạ của nước này, đồng thời có nhiều phẩm vật ban thưởng, nhưng tất cả đều đã bị Công Tôn Uyên ở Liêu Đông cướp mất. Do Cao Câu Ly và họ Công Tôn ở Liêu Đông vốn là kẻ thù truyền kiếp, nên quốc vương Vị Cung hết sức vui mừng. Ông không chỉ tiếp nhận chiếu thư của Đông Ngô mà còn phái sứ hộ tống bốn người trở về nước, đồng thời dâng biểu xưng thần với Đông Ngô và tiến cống một nghìn tấm da chồn cùng mười bộ da chim hạc kê. Nhờ vậy, Tôn Quyền đã thu được một kết quả tốt đẹp ngoài mong đợi. Một năm sau, Tôn Quyền lại cử sứ thần sang bái kiến Vị Cung. Tuy nhiên, trên đường đi, sứ bộ nghe tin Vị Cung đã nhận được mệnh lệnh của Thứ sử U Châu thuộc nước Ngụy, yêu cầu giết sứ giả Đông Ngô để bảo toàn địa vị của mình. Vì thế, đoàn sứ giả liền nhân cơ hội quay trở về Đông Ngô.

● Giao hảo với các nước Nam Dương

Năm 226, Sĩ Nhiếp, Thái thú Giao Chỉ (nay thuộc Việt Nam), qua đời. Con trai ông ta là Sĩ Huy nổi dậy chống lại Đông Ngô, nhưng bị Lã Đại, Thứ sử Quảng Châu của Đông Ngô, chỉ huy 3.000 quân ngày đêm vượt biển tiến đánh và dẹp yên. Từ đó, Giao Châu hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Đông Ngô. Từ năm 224 đến năm 252, Chu Ứng và Khang Thái theo lệnh của Tôn Quyền xuất sứ đến Phù Nam và các quốc gia vùng Nam Hải để tiến hành các hoạt động ngoại giao. Đoàn sứ bộ đã đi xa đến Lâm Ấp (nay thuộc khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam) và Phù Nam (nay thuộc Campuchia), đặt chân tới hơn một trăm quốc gia, đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong số đó. Sau khi trở về, Chu Ứng biên soạn “Phù Nam dị vật chí”, còn Khang Thái viết “Ngô thời Ngoại quốc truyện”. Hai tác phẩm này là những tư liệu vô cùng quan trọng để nghiên cứu quan hệ giao lưu giữa Đông Ngô với các quốc gia nước ngoài. Đáng tiếc, cả 2 bộ sách đều đã thất truyền. Ngày nay, chỉ còn lưu lại một số đoạn trích rải rác trong các thư tịch cổ như “Thủy Kinh chú”, “Bắc Đường thư sao”, “Nghệ văn loại tụ”, “Sơ học ký”, “Thông điển”, “Thái Bình ngự lãm” và “Văn tuyển chú”.

Chính nhờ chuyến đi sứ thành công của Chu Ứng và Khang Thái, nhiều quốc gia hải ngoại cũng bắt đầu phái sứ giả đến Đông Ngô. Năm 243, Phạm Chiên, quốc vương Phù Nam, cử sứ thần mang theo nhạc công cùng các sản vật địa phương đến triều cống. Ngoài ra, các nước như Lâm Ấp, Thiên Trúc (nay là Ấn Độ) và Ba Tư (nay là Iran) cũng lần lượt phái sứ bộ mang lễ vật đến Đông Ngô. Tôn Quyền tiếp đãi họ theo đúng nghi lễ ngoại giao, đồng thời đáp lễ bằng lụa là và nhiều sản phẩm tinh xảo của Trung Hoa. Kể từ thời Tôn Quyền, quan hệ giao lưu giữa Trung Quốc và các quốc gia vùng Nam Hải ngày càng trở nên nhộn nhịp. Thuyền buôn của các nước thường xuyên qua lại giữa hai bên, và thương mại hàng hải có thể nói là lĩnh vực mang lại lợi ích lớn nhất cho Đông Ngô.

Trong tác phẩm “Ngô Cổ Xúy Khúc – Chương Hồng Đức” của Vi Chiêu nước Ngô, sự giao lưu giữa Đông Ngô với các quốc gia vùng Nam Hải được miêu tả như sau: “Chương hồng đức, mại uy thần. Cảm thù phong, hoài viễn lân. Bình nam duệ, tề hải tân. Việt thường cống, phù nam thần. Trân hóa sung đình, sở kiến nhật tân”. Tạm dịch: Đức lớn rạng ngời, uy danh vang dội. Cảm hóa phong tục các phương xa, kết giao với láng giềng viễn quốc. Bình định phương Nam, uy đức lan khắp bờ biển. Việt thường dâng cống, Phù Nam xưng thần. Trân bảo chất đầy sân triều, vật quý lạ mỗi ngày một thêm phong phú.

Ngoài ra, vào năm 242, Tôn Quyền còn phái tướng Nhiếp Hữu và Hiệu úy Lục Khải dẫn đoàn thuyền đến Châu Nhai (nay thuộc bán đảo Lôi Châu) và Đam Nhĩ (nay là đảo Hải Nam), khôi phục chế độ quận, huyện do nhà Hán thiết lập trước đây tại những vùng này.

● Hướng đến Đại Tần

Theo ghi chép trong “Nam Châu dị vật chí” của Vạn Chấn, vào khoảng từ năm 234 đến năm 237, có một thương nhân đến từ Đại Tần (tức Đế quốc La Mã cổ đại) tên là Tần Luận đến Giao Chỉ. Thái thú Giao Chỉ là Ngô Mạo đã cử người đưa ông đến yết kiến Tôn Quyền. Tôn Quyền hỏi Tần Luận về phong tục, tập quán, địa lý và tình hình đất nước của Đại Tần, Tần Luận đã lần lượt giải đáp từng câu hỏi. Tôn Quyền cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi để Tần Luận tiến hành hoạt động thương mại tại Trung Quốc. Sau 7-8 năm, khi Tần Luận chuẩn bị trở về nước, Tôn Quyền cử người hộ tống ông trên đường về, đồng thời tặng cho ông 10 nam nô và 10 nữ tỳ. Ngoài ra, “Ngô thời Ngoại quốc truyện” cũng ghi rằng: “Từ Gia Na Điều Châu, đi thuyền lớn vượt biển, giương 7 cánh buồm, gặp gió thuận thì chỉ hơn một tháng là đến nước Tần, tức Đại Tần”.

Việc Tôn Quyền có thể cử người hộ tống Tần Luận trở về quê hương càng cho thấy kỹ thuật hàng hải tiên tiến cùng sức mạnh hải quân vượt trội của Đông Ngô. Đáng tiếc, do tư liệu lịch sử còn quá hạn chế, nên đến nay chúng ta vẫn chưa thể biết đầy đủ về những hoạt động giao lưu giữa Tôn Quyền với các quốc gia hải ngoại, cũng như thực lực hàng hải hùng mạnh của Đông Ngô thời bấy giờ.

Anh hùng thời đại

Mùa đông, tháng 11 năm 251, sau khi đến Nam Giao cử hành lễ tế trời đất, Tôn Quyền bị trúng phong. Đến tháng 12 cùng năm, ông khẩn cấp triệu Đại tướng quân Gia Cát Khác vào triều để phó thác việc hậu sự. Đến tháng 4 mùa hạ năm 252, Tôn Quyền qua đời vì bệnh, hưởng thọ 71 tuổi, sau 24 năm ở ngôi hoàng đế. Sau khi mất, ông được truy tôn thụy hiệu “Đại Hoàng đế”, miếu hiệu là Thái Tổ.

Nhìn lại cả cuộc đời của Tôn Quyền, có thể thấy ông xứng đáng là một bậc minh chủ hùng tài đại lược. Ông khoan dung với người hiền, biết quy tụ nhân tâm, vì thế uy danh vang xa, thiên hạ đều kính phục. Vào thời kỳ cực thịnh, lãnh thổ Đông Ngô rộng lớn, có thể sánh ngang với Tào Ngụy; quân đội tinh nhuệ, binh lực dồi dào, anh hùng hào kiệt đều hết lòng phò tá. Tôn Quyền quả thực chính là bậc đại anh hùng kiệt xuất của thời đại!

(Hết)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/16/5/9/n7878249.htm