Tác giả: Tần Chính

[ChanhKien.org]

Lời của Ban biên tập: Loạt bài này được viết dựa trên lý giải của tác giả đối với luận thuật trong “Kim Cương Kinh”. Chúng tôi cho rằng bài viết này có giá trị tham khảo nhất định đối với việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ trong giới tôn giáo nên đã đăng lại tại đây. Đối với các đệ tử Đại Pháp không có liên quan đến việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ tôn giáo thì không cần thiết phải đọc. Hy vọng mọi người dĩ Pháp vi Sư, làm tốt ba việc mà Sư phụ yêu cầu chúng ta làm.

(Theo Ban biên tập báo Nhân Dân: “Luận giải Kim Cương Kinh” là những tâm đắc thảo luận nghiên cứu Kinh Kim Cương giữa tiên sinh Tần Chính với bạn bè trong giới Phật giáo).

Đàm luận thứ 9

1. “Đệ nhị thập thất phẩm Vô đoạn vô diệt phần”: “Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm: ‘Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm, Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề’” (Tạm dịch: Đoạn thứ 27-Không đoạn không diệt: Này Tu-bồ-đề, nếu ông khởi nghĩ thế này Như Lai chẳng do các tướng cụ túc (đủ các tướng) mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu-bồ-đề! chớ khởi nghĩ như thế, Như Lai không do tướng cụ túc mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Phật Thích Ca Mâu Ni thấy rằng Tu Bồ Đề lại xuất hiện sự hiểu sai lệch, ông chưa nắm đúng ý nghĩa căn bản mà Thích Ca Mâu Ni muốn giảng, tức là vấn đề ở đoạn trước nói về việc dựa vào 32 tướng để thấy Như Lai, do bị hạn chế bởi tầng thứ và cảnh giới, ông đã đơn giản hiểu rằng: “Bạch Thế Tôn, như chỗ hiểu của con qua nghĩa Phật nói, không nên dựa vào 32 tướng mà nhìn Như Lai”. Sau khi Đức Phật giảng cho ông bài kệ: “Nếu dựa vào sắc để thấy ta, dựa vào âm thanh cầu ta, Người ấy hành đạo tà, Không thể thấy Như Lai”, liền ngay sau đó Ngài sửa lại nhận thức sai lầm của ông, vì do giới hạn trong nhận thức của Tu-bồ-đề, ông đã mắc vào một cực đoan. Bởi vì Phật Pháp và quả vị là tương ứng với sự thành tựu, nên một vị Đại Phật ở cảnh giới Như Lai, xét về bản chất, tất nhiên phải tồn tại cùng với “tướng cụ túc” và các thần thông Phật Pháp viên mãn của Ngài, vì thế được gọi là “viên mãn”, là vô lậu. Vì vậy không cho con người chấp trước vào “tướng”, là bởi quan niệm của con người để nghĩ về Phật, bắt đầu từ hình tướng, thì sẽ hình thành sự chấp trước rất mạnh. Họ sẽ dùng tình cảm thế tục và lòng tham để mong cầu đạt được; khi tâm này khởi lên, đối với người tu luyện sẽ rất khó buông bỏ, liền sinh tâm công lợi mà chấp trước vào việc ấy, lấy tâm cầu danh lợi để cầu thành tựu thì cái tâm ấy đã tà loạn rồi, giống như xuống nước mò trăng, không vớt được, lại tưởng là do lặn chưa đủ sâu, càng lặn sâu càng nguy hiểm. Do Tôn giả Tu Bồ Đề tinh thông Pháp “quán tưởng”, nên trong quá trình tu luyện lên cảnh giới cao hơn lại dễ hình thành chấp trước này, vì vậy Đức Phật Thích Ca đã ân cần nhắc nhở sâu sắc và giảng rõ để chứng minh Pháp này. Hơn nữa, Đức Phật còn giảng giải một cách rất rõ ràng cho ông rằng không thể dùng ‘tướng’ (hình tướng) để cầu chứng bản tính Như Lai. Đây là điều mà con người thời kỳ mạt pháp từ trước đến nay vẫn luôn hiểu sai, tức là đánh đồng ‘Như Lai’ với Phật Thích Ca Mâu Ni, vừa vặn rơi đúng vào khuôn sáo mà Phật Thích Ca Mâu Ni yêu cầu đệ tử phải tránh. Nhưng thực chất thành tựu của bản thân Như Lai lại là đầy đủ và viên mãn.

“Tu-bồ-đề! Nhữ nhược tác thị niệm: phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm giả, thuyết chư pháp đoạn diệt. Mạc tác thị niệm! Hà dĩ cố? Phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (Tạm dịch: “Tu-bồ-đề! Nếu ông khởi lên ý nghĩ như vậy: người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nói rằng các Pháp là đoạn diệt, thì chớ nên nghĩ như thế! Vì sao? Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với các Pháp không nói tướng đoạn diệt”. Ý nghĩa rất rõ ràng: chính là không được đoạn chương thủ nghĩa, và không được đi vào cực đoan“. Ví như Khổng Tử giảng về Đạo “Trung Dung”: “Thiên hạ quốc gia có thể chia đều ra cùng cai trị, tước vị bổng lộc có thể từ chối không nhận, lưỡi gươm sáng trắng cũng có thể dám giẫm lên, nhưng thực hiện cho được Đạo Trung dung thì xem ra khó làm được”. Những đệ tử như Nhan Hồi biết “Sau khi nhận rõ được Đạo Trung dung, được một điểm đúng thì cẩn thận giữ lấy, ôm vào lòng, không để cho nó mất đi nữa”, là vô cùng hiếm có, đó mới thật sự là người “hiếu học” được Khổng Tử hết lòng khen ngợi. Hiếu học không phải là chăm chỉ đọc sách, mà là học điều thiện và biết giữ vững chính Đạo. Thích Ca Mâu Ni dạy các đệ tử rằng, muốn thật sự phát tâm chứng ngộ bản lai Phật tính, nhất định phải tu tâm đối với Pháp một cách toàn diện, vô lậu, tuyệt đối không được đoạn chương thủ nghĩa, sau đó lại lấy nhận thức thấp kém của bản thân, cái gì hợp ý mình hoặc mình hiểu được thì đem ra giảng nói và thực hành, còn cái gì không hiểu hoặc không hợp ý thì bỏ qua, né tránh, đó chính là hành vi khiến cho các Pháp trở thành đoạn diệt. Kỳ thực đoạn diệt này trong Phật giáo quả thực đã xảy ra, không chỉ riêng trong Phật giáo về sau xuất hiện rất nhiều người làm rối loạn Pháp mà Đức Phật đã giảng, mà ngay cả Đạo giáo và Đại thành Nho gia cũng đều như vậy, mọi người đều vì lợi ích của bản thân mà lợi dụng lời dạy của chư Thánh, chứ không phải buông bỏ cái tôi của mình để chiểu theo giáo huấn của các bậc Thánh hiền như Đức Phật, Đạo Tôn mà thực hành. Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng. Thực ra nhìn lại lịch sử 5000 năm có thể thấy rằng, sự bại hoại của Pháp chân chính, thông thường đều là tai họa phát sinh từ trong nội bộ, tức do chính môn đồ trong môn phái đó gây ra, chứ thế lực bên ngoài thì rất khó có thể phá hoại được Phật Pháp và Đạo Pháp. Và sự khởi đầu của nó, thường chính là điều ở đây nói “đối với Pháp mà rơi vào đoạn diệt”. Ý nghĩa thật sự của câu này chính là tướng Phật tuy trang nghiêm viên mãn, nhưng người tu luyện không được vì “tướng” mà đi tìm cầu tu hành.

2. “Đệ nhị thập bát phẩm Bất thọ bất tham phần”: “Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát dĩ mãn Hằng hà sa đẳng thế giới thất bảo trì dụng bố thí, nhược phục hữu nhân tri nhất thiết pháp vô ngã, đắc thành ư nhẫn. Thử Bồ-tát thắng tiền Bồ-tát sở đắc công đức. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Dĩ chư Bồ-tát bất thọ phước đức cố”. (Tạm dịch: “Đoạn thứ 28 – Không thọ không tham trước: Này Tu-bồ-đề! nếu Bồ-tát dùng thất bảo đầy cả thế giới bằng số cát sông Hằng để đem bố thí, nếu lại có người biết tất cả Pháp là vô ngã được thành đức nhẫn nhục, thì Bồ-tát này được công đức hơn vị Bồ-tát trước, vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! do các vị Bồ-tát không thọ phước đức”). Sau khi giải quyết xong vấn đề trước đó, Thích Ca Mâu Ni tiếp tục giảng về một tâm pháp vô cùng quan trọng, nghĩa là trước đây Ngài luôn dùng cách tích lũy vô lượng công đức để “từng bước dẫn dắt”, khuyên dạy các đệ tử truyền bá Phật Pháp rộng rãi, cứu giúp thế gian nhằm hỗ trợ Phật độ nhân. Nhưng đối với những đệ tử Thượng tọa bộ này, Thích Ca nhận thấy họ vì thế mà hình thành một sự liên hệ rất giản đơn, cho rằng mục đích của việc truyền Pháp, giúp cứu độ chúng sinh là để tự mình tích lũy phúc đức. Vì vậy trong tâm khởi niệm kiêu ngạo, cùng sự ham muốn và chấp trước vào danh và lợi. Cái danh lợi này, bề ngoài xem ra không phải là danh tiếng và lợi ích thô thiển của thế tục, kỳ thực cũng chỉ là sự chuyển dời của dục vọng trong tình cảm con người, tức là chỉ chuyển đổi hình thức chứ chưa diệt trừ nó và thay thế bằng lòng từ bi, nên nó vẫn thuộc về hữu vi. Nói cách khác trong đó tồn tại một “ngã chấp” rất nghiêm trọng. Bề ngoài nhìn thì lại đang làm những việc rất thần thánh, nhưng Đức Phật nói với các đệ tử rằng làm như vậy thực ra là không được, cũng là không sáng suốt. Biểu hiện của lòng từ bi chân chính là vô sở cầu, không đòi hỏi sự báo đáp.

Trang Tử từng nói: “Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô cầu, đại thánh vô công” (Tạm dịch: Bậc chí nhân không có cái tôi, bậc Thần nhân không mong cầu, bậc đại Thánh không chấp trước vào công). Họ không có những khái niệm ấy, cũng không có ham muốn và chấp trước vào chúng. Chỉ thông qua sự tự thân thể nghiệm điều này, ta mới dần nhận ra cái gì mới là một phần của lòng từ bi của các Giác Giả. Vì vậy, đối với những đệ tử thuộc Thượng tọa bộ này, Thích Ca Mâu Ni đã giảng ra tâm Pháp Bồ Tát “Biết tất cả Pháp là vô ngã đắc thành đức nhẫn nhục”. Đây là sự buông bỏ hoàn toàn cái tôi, là trạng thái vô cầu của hoàn toàn vô tư. Chẳng phải rất nhiều đệ tử thuộc Thượng tọa bộ đã đạt đến quả vị A-la-hán rồi sao? Vậy mà nhiều người vẫn còn muốn tiến lên quả vị Bồ Tát sao? Nhưng tâm pháp tự giác giác ngộ của bậc A-la-hán khi đặt trên quả vị Bồ Tát thì là sai, hoặc nói đúng hơn là chưa hoàn thiện trọn vẹn, là vì vẫn còn chấp ngã. Trong khi hành sự thường ngày và trong quá trình trợ Phật độ nhân, chúng ta sẽ trải qua vô vàn khổ nạn. Nếu gặp việc gì cũng đều có thể giữ được tâm đại nhẫn, đạt đến thành tựu từ bi đại nhẫn không còn chấp ngã, không vọng tưởng, không mong cầu, và đó không phải là nhẫn mang tính hữu vi, chịu đựng gượng ép, thì thành tựu ấy sẽ rất cao và rất nhanh. Vì sao lại như vậy? Thích Ca Mâu Ni giảng rằng “Vì các vị Bồ Tát không thọ nhận phúc đức”, chính vì không chấp nhận phúc đức nên lại có thể đạt được công đức lớn hơn. Pháp “buông bỏ” này chính là yếu chỉ thâm sâu then chốt để thăng hoa. Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ-tát không thọ nhận phước đức?” Phật dạy: “Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát làm phước đức mà chẳng nên tham trước, thế nên nói chẳng thọ phước đức”. Tu-bồ-đề do bị giới hạn bởi tầng thứ của mình, nên trong nhất thời không thể hiểu được ý nghĩa mà Thích Ca Mâu Ni đã giảng. Chẳng phải là chúng ta cần nỗ lực tích lũy công đức sao? Nhưng sự đề cao chân chính lại là nỗ lực làm những việc hợp với đạo lý mà không mong cầu gì. Chính như một bức câu đối có nói: “Kiến liễu tiện tố, tố liễu tiện phóng hạ, liễu liễu hữu hà bất liễu” (Tạm dịch: “Thấy thì làm, làm xong thì buông xuống. Rõ ràng rồi, còn gì là không rõ nữa?”). Đề cao chân chính chính là “vô sở cầu nhi tự đắc”. Người xưa nói: ‘Kẻ tự khoe khoang thì không có công.’ Điều đó cũng bởi vì Thần đánh giá công đức là dựa vào cảnh giới tâm tính của bạn đạt đến mức nào, chứ không phải dựa vào công lao mà con người thường đo lường bằng tình người và danh lợi lớn hay nhỏ.

Vì vậy, Chúa Giê-Su dạy rằng một người phụ nữ nghèo dâng chỉ một đồng xu nhỏ nơi Đền Thánh, nhưng lại được coi là hơn hẳn người giàu dâng một trăm đồng vàng. Bởi vì dụng tâm khác nhau, nên độ thuần tịnh của tâm cũng không giống nhau. Trên thực tế, khi một người giàu có hoặc dư dả mà thỉnh thoảng làm việc thiện, thì đó là điều người bình thường cũng có thể làm được, thậm chí người kém hơn cũng đôi khi làm được. Nhưng khi bản thân đang ở trong cảnh gian nan khốn khó mà vẫn có thể cam lòng chịu khổ, đem chút ít những gì mình có chia sẻ cho người khác, thậm chí còn rộng lòng giúp đỡ người ta, thì tâm tính của người đó đã rất cao rồi. Bạn không thể nhìn vào việc lúc này họ chỉ chia ra một miếng bánh mì, hay trước kia từng cho đi cả đống vàng bạc; những công danh lợi ích này không phải là thước đo tâm tính ở tầng cao. Các bậc hiền đức xưa dạy rằng: “Làm ơn không mong báo đáp”. Dùng điều đó để lý giải lời giảng của Thích Ca Mâu Ni thì sẽ hiểu được. Tức là trong tâm không có một chút tạp niệm hay chấp trước nào của con người đối với lợi ích mà quả báo mang lại, chỉ có sự ban ra vô tư, không chấp trước như vậy, mới chính là lòng từ bi chân chính của Thần. Điều này tuyệt không phải là lời của những người mang tâm hiển thị, kỳ thực hoàn toàn không hiểu chút nào về ý nghĩa chân chính của Pháp mà Thích Ca Mâu Ni đã giảng, họ nói rằng: Ồ, Thích Ca Mâu Ni giảng là ngay cả đối với Pháp cũng không nên chấp trước. Điều đó có nghĩa là gì? Đối với “Pháp” không chấp trước nghĩa là gì? Theo lý mà nói, Như Lai đối với hết thảy Pháp lý trong tam thiên đại thiên thế giới đều biết rõ, biết hết, vậy có phải Ngài đã sinh tâm chấp trước rồi không? Bạn chỉ hiểu được chút ít bề ngoài, học một ít chỗ này, góp nhặt một ít chỗ kia, rồi trộn lẫn lại với nhau. Bản thân còn chưa giác ngộ thì nói gì đến chuyện “độ nhân”. Dù bạn xây dựng đền chùa cao đến đâu, bỏ ra bao nhiêu tiền để tạc tượng, hoặc mỗi ngày tụng bao nhiêu kinh đi nữa, thì những điều đó có tác dụng gì chứ? Trong tiềm thức của bạn, một mặt vẫn không buông bỏ được danh lợi của con người, mặt khác có thể vẫn đang làm một cuộc “mặc cả” với Phật và Bồ Tát! “Không nên chấp trước” là một lời cảnh tỉnh và sửa sai đối với sự “hữu vi” được sinh ra do dụng tâm không đúng. Chỉ là đơn giản thiết lập một mối liên hệ, giống như việc tôi giúp Phật độ nhân chính là để đạt được công đức lớn hơn, nhiều hơn, đây là một chướng ngại rất lớn. Dù cho có thể đạt được, thì cũng giống như làm phép cộng, còn Phật giảng về “Pháp vô vi”, thì giống như phép lũy thừa — tác dụng là hoàn toàn khác nhau. Vậy thì, ở đây có một sự tiến triển: giống như trước tiên học bốn phép tính cơ bản, rồi học số thập phân, phân số, sau đó học logarit và giải tích cao cấp. Mỗi khi đạt đến một cảnh giới mới, thì nhiều nguyên lý và quy luật trước đó sẽ không còn áp dụng được trong lĩnh vực cao hơn nữa. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng trở nên vô dụng trong phạm vi ban đầu của chúng. Vì vậy, người ta sẽ “viên dung” mà xác định, và điều này, về bản chất tu luyện trong tâm pháp, cũng là cùng một đạo lý.

3. “Đệ nhị thập cửu phẩm – Uy nghi tịch tịnh phần”: “Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân ngôn: Như Lai nhược lai, nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhân bất giải ngã sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? Như Lai giả, vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai”. (Tạm dịch: Đoạn thứ 29 – Oai nghi thanh tịnh: Này Tu-bồ-đề! nếu có người nói Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, người ấy không hiểu nghĩa của ta nói. Vì cớ sao? Như Lai đó không từ đâu đến cũng không đi đâu nên gọi là Như Lai. Bất luận là Phật gia hay Đạo gia, bậc giác ngộ muốn độ nhân, đều phải thị hiện dưới hình tướng con người nơi thế gian, và dùng ngôn ngữ mà con người thời đó sử dụng để giảng rõ Pháp lý. Bởi vì cõi nhân gian chính là một thế giới mê, sinh mệnh là do không còn tốt nữa nên mới rớt xuống nơi này, muốn thoát ra thì phải giác ngộ. Phàm là như Thích Ca Mâu Ni, Chúa Giêsu, Lão Tử, Khổng Tử, thì họ cũng đều truyền Pháp của mình theo cách như vậy. Vậy thì những bậc giác ngộ từng đến đây trước kia, về bản chất vẫn chỉ là để đặt nền tảng văn hóa cho Đại Pháp chân chính có thể độ nhân vào thời kỳ cuối cùng. Khi đó những người được độ vẫn chỉ là phó nguyên thần, ngay cả nhục thân mà vị Giác Giả dùng để mang theo cũng chưa được độ. Còn nhận thức nông cạn của con người thường bị hạn chế bởi cảm quan và trí tuệ của con người. Đức Phật giảng về Như Lai, nói rằng mình đã chứng ngộ quả vị Như Lai, thì con người có thể sẽ dùng những biểu hiện ở các tầng thứ khác nhau mà họ thấy, cùng với quan niệm nơi thế gian, để đo lường Phật Pháp mà Ngài giảng. Đồng thời, họ lại quên mất rằng Đức Phật từng nói: tất cả chúng sinh đều có bản tính Như Lai. Như Lai không chỉ riêng chỉ một người là Thích Ca Mâu Ni, theo như Ngài giảng Pháp năm xưa, Như Lai nhiều như cát sông Hằng, số lượng vô cùng lớn. Phật Chủ giảng:

“Như Lai là đứng trên chân lý như ý mà tới ấy là danh hiệu của con người thế gian”. (Giảng Pháp tại Pháp hội miền Tây Mỹ quốc [2000])

Chỉ một câu đã nói rõ thiên cơ ở tầng cực cao. Vì vậy, sự chân thực của Như Lai cùng với sự thị hiện của Ngài trong thế gian bản thân đã tạo nên sự lý giải của con người đối với cảnh giới của Như Lai. Thích Ca Mâu Ni nhận ra các đệ tử có sự mê lầm ở điểm này, nên mới có lời giảng như vậy. Bởi vì cái hình tướng ở thế gian mà con người nhìn thấy, đó chỉ là nhục thân của Phật, là một dạng tải thể, là điều kiện mà Ngài tạo dựng để tồn tại trong thế gian. Nhưng chân thực của Phật, của Như Lai, thì không phải là điều mà con người có thể dùng tư duy của mình để tưởng tượng ra được. Ngài có thể dùng đủ mọi hình tướng khác nhau để hiển hiện ở cảnh giới của mình và các tầng thấp hơn, cũng có thể tại một điểm nào đó mà biểu hiện theo cách cần thiết, cũng có thể không hiển hiện, tất cả đều tùy theo ý chí và suy nghĩ của Ngài. Ngài là tự tại. Vì thế Bố Đại Hòa Thượng thời Ngũ Đại có làm một bài kệ rằng:

“Di Lặc chân Di Lặc,
Hóa thân thiên bách ức,
Thời thời bả thị nhân,
Thế nhân tự bất thức”.

Dịch nghĩa:

Di Lặc chính là Di Lặc thật,
Hóa thân thành trăm ngàn ức thân,
Luôn luôn hiện bày cho người đời thấy,
Nhưng người đời tự mình không nhận ra.

Một người thực sự hiểu Phật lý ở cao tầng sẽ tuyệt đối không giống người đời mà có ý nghĩ may rủi hay đầu cơ, cũng sẽ không có những niệm lười biếng sai lệch, bởi vì ở tầng cao của Thần và Phật thì tất cả đều là toàn tri (biết hết mọi thứ). Vì sao trong một niệm của con người lại sinh ra thiện và ác? Nếu con người đứng trên sao Hỏa nhìn, chẳng phải cũng sẽ thấy Trái Đất ở trên trời đó sao? Nhưng đó lại chỉ là tầng bề mặt nhất của vũ trụ, còn không gian nơi Phật, Đạo, Thần tồn tại thì nằm ở những tầng vi quan hơn. “Tâm người vừa khởi một niệm, Trời đất đều biết hết”. Thần Phật đã biết hết mọi thứ, vậy trạng thái tồn tại của Thần Phật lẽ nào con người dùng mắt thường và nhận thức phàm tục mà định nghĩa như vậy sao? Hiển nhiên là không phải. Do đó, những gì mà Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề ở đây thực chất là một vấn đề mà các đệ tử Thượng tọa bộ lúc bấy giờ đang đối mặt phải đột phá trong tu luyện, đó là phá trừ nhận thức sai lầm và khai mở cái nhìn chân chính.

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/48580