Tác giả: Tẩu Chánh Đạo

[ChanhKien.org]

Tôi đã luôn tin rằng câu tục ngữ “Tiền nhân tài thụ, hậu nhân thừa lương” (Tạm dịch: Đời trước trồng cây, đời sau hưởng mát) có nguồn gốc từ văn hóa Đảng. Nhưng qua tìm kiếm trực tuyến, tôi phát hiện ra câu tục ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong bài thơ “Quá phần thủy lĩnh hữu cảm” của nhà thơ Ư Hộc thời Đường. Nguyên câu này là “Nhất thụ tân tài ích tứ lân, tiền nhân chủng thụ hậu nhân lương” (Tạm dịch: Một cây mới trồng có ích cho láng giềng, đời trước trồng cây đời sau hưởng mát). Trong “Quần âm loại tuyển – Thanh khang loại – Quế chi hương” được biên soạn bởi nhà viết kịch thời nhà Minh Hồ Văn Hoán cũng xuất hiện câu này: “Nả hiểu đắc tam cương ngũ thường, chỉ tri đạo thất thanh bát hoàng, viên áp đản lí điệu tưởng, trúc can không trường, đỗ lí vô lương, tiền nhân tài thụ, hậu nhân thừa lương.” (Tạm dịch: Nào có biết đến tam cương ngũ thường, chỉ biết mấy chuyện lặt vặt vô nghĩa; như trứng vịt tròn mà rơi mái chèo, cây tre chỉ dài suông, trong bụng không có lương thực; người trước trồng cây, người sau hưởng mát.” Học giả thời nhà Thanh là Trạch Hạo cũng đã mô tả điều này trong quyển một của “Thông tục biên – Lí ngữ đối cú”: “Kim niên chủng trúc, lai niên cật duẫn; tiền nhân chủng thụ, hậu nhân thừa lương.” (Tạm dịch: Năm nay trồng tre, năm sau ăn măng, đời trước trồng cây, đời sau hưởng mát)

Câu tục ngữ này có nguồn gốc từ văn hóa truyền thống, đằng sau nó đương nhiên ẩn chứa ý nghĩa thiêng liêng. Nó chứa đựng những lẽ trời về thiện ác hữu báo và nhân quả báo ứng, chỉ là được mô tả bằng ngôn ngữ đơn giản mà mọi người đều có thể hiểu được. “Đời trước trồng cây, đời sau hưởng mát”, nói cách khác chính là tổ tiên tích đức, con cháu phúc ấm.

Câu tục ngữ này đã bị đưa vào sử dụng trong văn hóa đảng, nội hàm thiêng liêng đằng sau đã không còn nữa. Bởi vì văn hóa đảng của Trung Cộng là phản Thần, phản Phật và chống lại Thiên lý. Trong lý giải của mọi người chỉ còn lại một chút ý tứ hời hợt bề mặt và còn bị bóp méo, hơn nữa nó còn bị nhồi nhét lấp đầy nội hàm giả – ác – đấu. Ngày nay, người Trung Quốc lý giải câu “Đời trước trồng cây, đời sau hưởng mát” thành chỉ cần cha hoặc ông có quyền có thế hoặc có nhiều tiền thì con cháu sẽ được sắp xếp chu đáo, con cháu sau này sẽ có thể thoải mái hưởng thụ an nhàn. Họ đâu biết, trên có Thiên lý, lẽ trời thiện ác hữu báo đang chế ước toàn bộ thế gian. Con cháu nếu không có đức lớn như thế, họ vẫn không thể thừa kế được khối tài sản này. Nói không chừng con cháu sẽ gặp thiên tai nhân họa, hoặc con cháu là “phá gia chi tử”, họ vẫn không thể giữ được.

Chu Vĩnh Khang là cái tên quen thuộc với người dân Trung Quốc đại lục. Nhờ vào “thành tích” đàn áp Pháp Luân Công, ông ta được Giang Trạch Dân thăng chức một mạch đến Bộ trưởng Công an và Ủy viên thường vụ Bộ chính trị, Bí thư Ủy ban Chính trị và Pháp luật Trung ương, được gọi là “Sa hoàng duy trì sự ổn định”, từng “một thời lừng lẫy”, một thời khí thế của gia tộc họ Chu. Con trai ông ta là Chu Tân cũng một thời điên cuồng ngang ngược, dựa vào quyền thế của Chu Vĩnh Khang vơ vét được nhiều tiền của, thậm chí anh ta còn miễn tội cho một tử tù. Nhưng chỉ trong vòng vài năm, Chu Vĩnh Khang bị bắt và bị kết án. Chu Tân cũng bị kết án. Trong chốc lát, gia tộc họ Chu đã không còn tồn tại. Trớ trêu thay, con dâu của Chu Vĩnh Khang cũng đi khiếu kiện bảo vệ quyền lợi của mình. Thứ Chu Vĩnh Khang trồng không phải là cây cao chót vót mà là ông ta đã gieo mầm mống của cái ác cực đại, nó chỉ có thể là bất hạnh cho con cháu.

Muốn lý giải hàm nghĩa của câu “Đời trước trồng cây, đời sau hưởng mát” thì chúng ta chỉ có thể lĩnh hội được từ những câu chuyện văn hóa truyền thống.

Vào giữa thời nhà Thanh, một vị quan tên là Nguyễn Nguyên, ông nội của ông là Nguyễn Ngọc Đường, làm quan đến chức Chiêu Dũng tướng quân. Ông từng theo Đại soái chinh phạt doanh trại của quân Miêu. Khi đó, hàng nghìn người Miêu đã đầu hàng. Đại soái lo lắng rằng bọn họ không phải có ý đầu hàng thực sự và muốn giết tất cả. Nguyễn Ngọc Đường mạo hiểm tính mạng khẩn cầu để cho hàng ngàn người Miêu này được sống sót. Sau đó, ông qua đời khi đang tại nhiệm, không để lại tài sản gì cho gia đình.

Cha của Nguyễn Nguyên là Nguyễn Tương Phố an bần lạc nghiệp, giữ thân trong sạch. Có lần, ông nhặt được một túi vải đựng đầy bạc ở bến đò, cùng với một bản tài liệu của triều đình ở bên trong. Ông nghĩ, chuyện này liên quan đến các vấn đề cấp bách của quốc gia, tính mệnh của người mất bạc đang bị đe dọa, mình phải đợi để trả nó lại cho người bị mất.

Ông ấy đợi đến lúc nhá nhem tối. Lúc này, có một người đi tới chuẩn bị nhảy sông tự vẫn, ông vừa hỏi thì đúng là người mất bạc. Người kia vừa khóc vừa nói: “Mất tiền đã gây hại cho tôi, lại liên lụy đến thượng cấp. Chi bằng tôi chết trước còn hơn!” Nguyễn Tương Phố liền vội vàng cầm túi vải trả lại cho anh ta và không nói họ tên của mình.

Vài ngày sau, con gái người bạn cũ của Nguyễn Tương Phố ở Hồ Bắc, vì nhà nghèo, sắp bị bán vào kỹ viện, nói định giá là hai trăm lượng bạc. Cô gái ở nhà khóc lóc muốn tự vẫn, đúng lúc gặp được Nguyễn Tương Phố đang đi tham quan Hán khẩu. Ông liền dùng hết số tiền tiết kiệm của mình để chuẩn bị của hồi môn cho cô gái, giúp cô có thể kết hôn với chàng thư sinh.

Một năm nọ, một trận hỏa hoạn bùng phát trên đường phố Tuyên Thành, thiêu rụi hàng ngàn ngôi nhà. Các gia đình nghèo không đủ tiền thuê nhà, già trẻ gái trai đều phải ngủ trên đường phố. Một ngày nọ, trời bắt đầu mưa to, những nạn dân đứng trong bùn khóc thảm thiết. Nguyễn Tương Phố khi đi ngang qua nơi đó vô tình tận mắt chứng kiến cảnh tượng này. Ông muốn giúp đỡ họ nên tìm đến các thương gia địa phương, nói về kế hoạch thu xếp nơi ăn chốn ở. Các thương nhân đều cười nhạo ông là người thấp cổ bé họng và không biết tự lượng sức mình.

Nguyễn Tương Phố phẫn nộ nói: “Các vị đến tình nghĩa đồng hương cũng đều không màng tới. Tuy tôi không phải dân địa phương, nhưng tôi chắc chắn sẽ tự lực làm tốt việc này”. Ông quay về và cầu xin ông chủ trả trước mấy chục đồng tiền lương bổng và thuê thợ dựng khoảng một trăm túp lều để những người nghèo vô gia cư có nơi trú mưa. Người dân địa phương đều cảm kích ân đức của ông.

Thượng Thiên vốn có đức hiếu sinh! Ông nội ông cứu người, cha ông cũng cứu người; họ được Thượng Thiên ban phúc. Đến thời Nguyễn Nguyên, Nguyễn gia hiển quý. Nguyễn Nguyên đầu tiên giữ chức Tuần phủ Giang Tây, lại đảm nhiệm Tổng đốc Vân Quý (Vân Nam và Quý Châu). Sau này được bổ làm Nhân Các Đại học sĩ, Thái tử Thái bảo, được ban hiệu Văn Đạt, trở thành trọng thần thời triều vua Gia Khánh. “Thanh sử cảo” khen ngợi Nguyễn Nguyên rằng: “Thân trải qua thời kỳ văn vật hưng thịnh bậc nhất đời Càn Long – Gia Khánh, chủ trì văn đàn mấy chục năm, học giả trong thiên hạ đều tôn ông như Thái Sơn – Bắc Đẩu”.

Người hai thế hệ trước của Nguyễn thị hành thiện tích đức, trồng được đại thụ cao tận trời xanh, đức hạnh sung mãn, đến đời Nguyễn Nguyên mới có hiển vinh phúc báo, danh tiếng vang xa.

Trung Cộng mới là ung nhọt của sự phát triển xã hội. Không giải thể Trung Cộng, không phá trừ văn hóa đảng, không quay lại con đường truyền thống, người Trung Quốc chỉ có thể dưới sự đầu độc của văn hóa đảng mà rời xa Thần, Phật, quay lưng và ly khai dòng dõi con cháu Viêm Hoàng (Viêm Đế và Hoàng Đế) càng ngày càng xa. Bởi vì Trung Cộng muốn những hậu duệ theo chủ nghĩa Marx – Lenin chỉ biết làm điều xấu, chỉ biết gieo mầm mống cái ác. Nó muốn hủy diệt nhân loại bằng những thủ đoạn như vậy.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/298235