Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Anh hùng Thiên cổ của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Hán Vũ Đế là bậc thiên cổ nhất Đế, trên cùng Tần Thủy Hoàng được xưng “Tần Hoàng Hán Vũ”, dưới cùng Đường Thái Tông khai mở thời kỳ “Hán Đường Thịnh Thế”. (Ảnh: Dữu Tử/The Epoch Times)

Cổ nhân đều có truyền thống kính Trời tín Thần, việc dùng những nghi lễ long trọng, trang nghiêm để kính thờ Thần minh được coi là đại sự, từ bậc quân vương cho đến thứ dân. Các hoàng đế qua các triều đại tự xưng là “Thiên tử”, tức người nhận Thiên mệnh, thường thông qua các hoạt động tế tự và khẩn cầu lên thượng thiên, một mặt để cầu xin Thần linh bảo hộ, mặt khác cũng là để cảm tạ Thần linh đã ban cho quốc gia mưa thuận gió hòa, dân sinh an lạc.

Trong các nghi lễ tế tự, lễ Phong Thiện được xem là một trong những đại điển (dịp lễ lớn) quan trọng bậc nhất của quốc gia. Sách Bạch Hổ Thông Nghĩa viết: “Vương giả thụ mệnh tất Phong Thiện. Phong, tăng cao dã; thiện, nghiễm hậu dã. Thiên dĩ cao vi tôn, địa dĩ hậu vi đức. Cố tăng Thái Sơn chi cao dĩ báo thiên, thiện Lương Phụ chi chỉ dĩ báo địa”. Tạm dịch là: Bậc vương giả khi nhận mệnh ắt phải Phong Thiện. ‘Phong’ là bồi cho cao thêm, ‘Thiện’ là làm dày hơn. Trời lấy cao làm tôn quý, đất lấy dày làm đức. Vì vậy, làm lễ Phong ở Thái Sơn để báo đáp Trời, và làm lễ Thiện ở Lương Phụ để báo đáp Đất”. Điều này có nghĩa là, Thiên tử nhận Thiên mệnh – nhất định phải thực hiện lễ Phong Thiện, tức là tế tự Thiên Địa. Chỉ khi đã hoàn thành nghi lễ tế Thiên Địa tại núi Thái Sơn, Thiên tử nơi nhân gian mới được coi là thực sự nhận mệnh từ Thiên thượng.

Công tích của Hán Vũ Đế

Trước thời Hán Vũ Đế, trong lịch sử các bậc minh quân được xem là Thánh vương như Phục Hy, Thần Nông, Viêm Đế, Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Thành Vương… đều từng lên núi Thái Sơn để cử hành những nghi lễ tế tự long trọng. Tần Thủy Hoàng là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc thực hiện lễ Phong Thiện, qua đó báo cáo công tích của mình với Thiên Địa và cho dựng bia ghi dấu. Sau đó, vào đầu triều Hán, kinh tế cần khôi phục khẩn cấp, các hoàng đế chủ trương đường lối “vô vi mà trị”, khiến hoạt động Phong Thiện từng bị gián đoạn một thời gian.

Trong 30 năm trị vì, Hán Vũ Đế, trong nước thì chỉnh đốn Lễ Nhạc, thay đổi lề lối cổ xưa và sáng lập nhiều chế độ mới, bên ngoài thì mở mang bờ cõi, thi triển song hành cả ân đức lẫn uy phong, khai sáng thời kỳ Hán Vũ thịnh thế. Trong hình là bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của Cừu Anh thời Minh, miêu tả các loại cửa hàng cửa hiệu. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Ngay sau khi Hán Vũ Đế lên ngôi, đã có người đề xuất tổ chức lễ Phong Thiện với lý do “thiên hạ an”, tức là thông qua nghi lễ này để củng cố và điều chỉnh lại chế độ quốc gia. Tuy nhiên, Hán Vũ Đế chủ trương dùng Nho gia để trị quốc, điều này mâu thuẫn với quan điểm trị quốc theo học thuyết Hoàng Lão của Đậu Thái hậu. Do đó, Hán Vũ Đế tạm thời gác lại quan điểm chính trị của mình, việc Phong Thiện cũng vì vậy mà tạm thời đình trệ.

Năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Tế Bắc Vương dâng sớ lên Hán Vũ Đế, chủ động hiến tặng núi Thái Sơn và các vùng phụ cận. Hán Vũ Đế nhận lời, đồng thời ban tặng các vùng đất khác để bù đắp cho Tế Bắc Vương. Tuy nhiên, phải đến năm Nguyên Phong thứ nhất (năm 110 TCN), tức là năm thứ 30 sau khi Hán Vũ Đế đăng cơ, ông mới tiến hành lễ Phong Thiện đầu tiên.

Trong 30 năm này, về chính trị, Hán Vũ Đế đã “độc tôn Nho thuật”, đồng thời thông qua các hệ thống chính trị và xã hội đã xác lập Nho học là tư tưởng chính thống của các triều đại Trung Hoa. Bên cạnh đó, ông không hoàn toàn bài xích các học thuyết khác, vẫn cho phép chúng tồn tại và thậm chí trọng dụng nhân tài thuộc các gia phái khác. Để thực hiện mục tiêu đại nhất thống, Hán Vũ Đế cũng chọn lọc những điểm hữu dụng từ học thuyết của các nhà để phục vụ cho mục đích của mình.

Hán Vũ Đế cũng thiết lập niên hiệu, ban hành lịch Thái Sơ, xây dựng Thái Học, không câu nệ mà tuyển chọn nhân tài, đặt nền móng cho đại nghiệp thống nhất.

Đồng thời, Hán Vũ Đế đã cải biến lề lối cũ, sáng lập chế độ mới, thông qua các cuộc cải cách và sáng tạo quan trọng như: thu hồi quyền lực của Thừa tướng, thực hiện chế độ sát cử (khảo sát – tiến cử), cắt giảm quyền lực các nước chư hầu, cải cách binh chế, thiết lập chức Thứ sử, thống nhất tiền tệ, độc quyền quản lý muối và sắt, thực thi chính sách “Bình chuẩn” và “Quân thâu” cùng nhiều cải cách lớn khác, từ đó xây dựng nên một hệ thống chế độ chính trị hoàn chỉnh. Đây cũng trở thành hình mẫu cơ bản cho chế độ của các đế quốc Trung Hoa trong suốt 2.000 năm sau đó.

Bên cạnh đó, Hán Vũ Đế với tài năng kiệt xuất đã mở rộng bờ cõi: phía Đông bình định Triều Tiên, phía Tây chinh phục Đại Uyên, phía Bắc đẩy lùi Hung Nô, phía Nam tiêu diệt Bách Việt, mở rộng đất đai và củng cố biên cương. Đến những năm cuối triều Hán Vũ Đế, lãnh thổ Tây Hán trải dài: phía Tây Bắc bao gồm khu vực Tân Cương và Cam Túc ngày nay, phía Đông Bắc mở rộng tới bán đảo Triều Tiên và vươn ra tới biển, phía Tây Nam tới dãy núi Cao Lê Cống và Ai Lao ở Vân Nam, phía Nam tới Phúc Kiến và đảo Hải Nam. Lãnh thổ quốc gia dưới thời Hán Vũ Đế đã trở thành nền tảng cho bản đồ lãnh thổ của các đế quốc Trung Hoa sau này.

Trong 30 năm trị vì, Hán Vũ Đế còn mở ra con đường tơ lụa nổi tiếng lịch sử, thúc đẩy thương mại và giao lưu văn hóa giữa nhà Hán với Tây Vực, Trung Á, Tây Á và thậm chí châu Âu, mở đầu cho làn sóng du nhập văn hóa nước ngoài vào Trung Quốc.

Với những công tích như vậy, Hán Vũ Đế thực sự đã vượt xa các vị đế vương trước đó, việc ông Phong Thiện tại núi Thái Sơn quả thật là danh chính ngôn thuận. Do đó, vào năm Nguyên Phong thứ nhất, Hán Vũ Đế – người đã đạt được những thành tựu cả về văn trị lẫn võ công huy hoàng – chuẩn bị bắt đầu cuộc hành trình Phong Thiện của mình. Lần đầu tiên, Hán Vũ Đế đưa ra yêu cầu rõ ràng rằng việc Phong Thiện tại Thái Sơn phải hội đủ 3 điều kiện: thứ nhất, phải quét sạch thù trong giặc ngoài, thống nhất thiên hạ; thứ hai, thiên hạ phải thái bình, trị vì ổn định lâu dài; thứ ba, phải liên tục xuất hiện những thiên tượng cát tường. Hai điều đầu tiên đã quá rõ ràng, còn về điều thứ ba, từ năm Nguyên Thú thứ nhất, nhà Hán đã liên tiếp xuất hiện các điềm lành như kỳ lân trắng, bảo đỉnh v.v. Sự giàu có của quốc gia cùng với những điềm lành mà Thượng thiên hiển lộ đều minh chứng rằng đại lễ Phong Thiện của hoàng đế là việc nhất thiết phải làm.

Trước đêm Phong Thiện

Đối với lễ Phong Thiện đầu tiên kể từ khi Hán triều lập quốc, Hán Vũ Đế cùng quần thần đều đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên, khi bàn bạc chi tiết về nghi thức tế tự, các quan lại đều gặp khó khăn. Bởi kể từ sau lễ Phong Thiện của Tần Thủy Hoàng, các nghi lễ tế tự đã gián đoạn hàng chục năm; các công khanh và nho sĩ chỉ có thể lần theo các cổ văn như Thượng Thư, Chu Quan, Vương Chế để tìm lại lễ nghi xưa, nhưng ý kiến mỗi người lại khác nhau, không ai thống nhất. Hán Vũ Đế còn đem các đồ dùng cúng tế của các triều đại trước ra cho các đại thần xem, nhưng có người lại phản bác, cho rằng chúng không giống lễ xưa. Thời điểm này, đại văn hào Tư Mã Tương Như đã qua đời, để lại một bức di thư ca ngợi công đức của Vũ Đế và mong ông sớm thực hiện lễ Phong Thiện. Hán Vũ Đế đã đem di thư này đến hỏi ý kiến danh nho Nhi Khoan.

Kiến nghị của Nhi Khoan là: “Phong Thái Sơn, Thiện Lương Phụ là đại lễ của Hoàng đế. Nghi thức cụ thể chỉ có bậc thiên tử anh minh mới có thể định ra, không phải việc mà bề tôi có thể quyết định, trăm quan có thảo luận tiếp cũng chẳng đi đến kết quả gì”. Hán Vũ Đế đồng ý với quan điểm đó, bèn tự mình soạn định lễ nghi Phong Thiện. Hán Vũ Đế tuân theo cổ chế “tiên chấn binh thích lữ, nhiên hậu Phong Thiện” (trước phô trương thanh thế quân đội, sau mới Phong Thiện), đầu tiên ông phô diễn sức mạnh quân sự hùng hậu trước thần dân bốn phương thông qua một cuộc tuần du với quy mô lớn. Bắt đầu từ đầu năm, Hán Vũ Đế thiết lập 12 bộ tướng quân, tự mình thống lĩnh mười tám vạn quân, cờ xí rợp trời kéo dài hơn 1.000 dặm, xuất phát từ Trường Thành, tuần du biên thùy phía Bắc đến Sóc Phương, rồi tiến đến Bắc Hà.

Hán Vũ Đế phái sứ giả tuyên cáo với Thiền Vu Hung Nô: “Đầu của Nam Việt Vương đã treo trên thành Trường An rồi, nếu Thiền Vu muốn đánh, Thiên tử nhà Hán sẽ dẫn quân nghênh chiến ở phương Bắc; nếu không thể đánh, hãy mau đến thần phục”. Kết quả là Hung Nô khiếp sợ trước quân uy của Hán Vũ Đế, không dám xuất đầu lộ diện. Trên đường tuần hành xong trở về triều, Hán Vũ Đế còn tế bái lăng Hoàng Đế ở Kiều Sơn rồi mới trở lại Trường An.

Mùa xuân cùng năm, Hán Vũ Đế lại dẫn quân đến Trung Nhạc Tung Sơn. Tùy tùng bắt được một con tuấn mã và một con hươu kỳ lạ, lại nói rằng trên núi nghe thấy tiếng hô “vạn tuế”. Hán Vũ Đế xem đó là điềm lành, bèn hạ lệnh cho Từ quan (quan coi việc tế tự) mở rộng Thái Thất Từ, cấm chặt phá cây cối trên núi, đồng thời điều 300 hộ dân đến dưới chân núi làm việc phụng dưỡng Tung Sơn.

Hán Vũ Đế sau khi nhận thêm được điềm lành thì hừng hực khí thế tiến về núi Thái Sơn. Khi đến nơi, vì cỏ cây vẫn chưa đâm chồi nảy lộc, Hán Vũ Đế bèn sai người dựng một phiến đá trên đỉnh Ngọc Hoàng của núi Thái Sơn, còn bản thân thì đi tuần du Đông Hải trước. Hán Vũ Đế vốn có huệ căn bẩm sinh, đặc biệt ưa chuộng Đạo thần tiên, nên chuyến đi đến Thái Sơn và Đông Hải này cũng bao gồm ý định tìm kiếm Thần tiên.

Sau khi đến vùng Đông Hải, Hán Vũ Đế cử hành lễ tế Bát Thần. Người nước Tề lần lượt dâng sớ, bàn luận về các chuyện thần quái và các phương thuật kỳ dị. Vì thế, Vũ Đế điều động rất nhiều thuyền bè, cho mấy nghìn người đi tìm thần nhân trên núi Bồng Lai.

Khi Thiên tử xuất hành, phương sĩ Công Tôn Khanh thường cầm phù tiết của Thiên tử đi trước, tập trung tại các danh sơn thắng cảnh để nghênh đón xa giá. Lần này, sau khi Công Tôn Khanh đến nơi, ông nói rằng đêm khuya đã nhìn thấy một người cao lớn bất thường, thân cao mấy trượng, nhưng khi đến gần thì không thấy nữa, chỉ để lại một dấu chân rất lớn, hình dạng giống như dấu chân chim thú. Có vị đại thần lại nói đã nhìn thấy một ông lão dắt chó và bảo rằng: “Ta muốn được diện kiến Thần Công”. Nói xong thì đột nhiên biến mất không dấu vết. Hán Vũ Đế khi xem dấu chân lớn vẫn chưa tin, nhưng đến khi nghe đại thần kể về câu chuyện ông lão dắt chó thì mới tin chắc đó chính là tiên nhân. Vì vậy, ông đã đặc biệt ở lại vùng ven biển để chờ đợi tiên nhân, đồng thời cho phép các phương sĩ được sử dụng xe của dịch trạm (trạm dùng ngựa đưa thư) để đi lại báo tin.

Tuy nhiên, sau mấy ngày chờ đợi, Hán Vũ Đế vẫn không gặp được Thần tiên, lúc này cỏ cây trên núi Thái Sơn đã bắt đầu sinh trưởng, vì vậy Hán Vũ Đế quyết định đến Thái Sơn trước để cử hành lễ Phong Thiện.

Đại Điển Tế Tự

Phần “Hiếu Vũ bản kỷ” trong “Sử ký” nguyên bản vốn đã thất truyền, bản mà chúng ta thấy hiện nay thực chất được thay thế bằng “Phong Thiện thư”, vì vậy chúng ta hãy từ đây tìm hiểu về diễn biến khái quát lần Phong Thiện đầu tiên ở Thái Sơn của Hán Vũ Đế. Tháng 4 năm đó, Hán Vũ Đế trước tiên đã đến núi Lương Phụ để hành lễ tế Địa thần. Ông lệnh cho các quan Thị trung và Nho sĩ mặc lễ phục long trọng, tức đầu đội mũ da hươu, mình mặc quan phục có giắt hốt bản (tấm thẻ bằng ngọc của quan lại khi xưa), rồi tự tay thực hiện lễ xạ ngưu. Sau đó, Hán Vũ Đế lập đàn tế trời ở chân núi phía đông Thái Sơn. Tế đàn rộng một trượng hai thước, cao chín thước, dưới đàn có chôn “Ngọc điệp thư” – là bức thư Hán Vũ Đế viết gửi cho Thiên đế, nội dung thư vô cùng bí mật không ai được biết. Sau khi kết thúc tế lễ, Hán Vũ Đế chỉ dẫn theo Thị trung – Phụng xa (quan hầu xe của hoàng đế) là Hoắc Tử Hầu (con trai của cố danh tướng Hoắc Khứ Bệnh) cùng leo lên đỉnh Thái Sơn, thực hiện nghi thức tế trời bí mật tương tự trên đỉnh núi. Ngày hôm sau, Hán Vũ Đế xuống núi từ phía bắc Thái Sơn, hành lễ tế Địa thần tại núi Túc Nhiên ở phía đông bắc chân núi Thái Sơn, nghi thức này tương đồng với nghi lễ tế Hậu Thổ.

Trong suốt quá trình cử hành lễ Phong và lễ Thiện, Hán Vũ Đế đều tự mình thực hiện nghi thức bái kiến, mặc lễ phục màu vàng, bên cạnh có nhạc lễ đệm vang. Hán Vũ Đế còn đem những kỳ thú, phi cầm (chim quý) cùng bạch sơn kê (gà rừng trắng) do các nơi phương xa cống nạp thả về rừng núi. Trong lúc cử hành buổi lễ, ban đêm dường như có ánh hào quang xuất hiện, ban ngày có mây trắng bay lên từ tế đàn. Đây được coi là sự hiển hiện của Thần linh; toàn bộ quá trình buổi lễ toát lên một bầu không khí thần bí và khí thế hào hùng, trang nghiêm. Sau khi kết thúc lễ Phong Thiện, Hán Vũ Đế tiếp nhận triều hạ (chúc mừng) của quần thần tại Minh Đường dưới chân núi Thái Sơn, đồng thời nhân sự kiện lần đầu Phong Thiện này mà đổi niên hiệu từ Nguyên Đỉnh thành Nguyên Phong. Chữ “Phong” trong Nguyên Phong hiển nhiên chính là chỉ việc “Phong Thiện”.

Sau khi hoàn tất lễ Phong Thiện tại Thái Sơn, Hán Vũ Đế lại đi tuần du về phía đông ra biển, phía bắc đến Mã Thạch, băng qua Liêu Tây, đi dọc Cửu Nguyên và trở về Cam Tuyền vào tháng 5. Trong chuyến Phong Thiện này, Hán Vũ Đế đã di chuyển quãng đường dài một vạn tám ngàn dặm, có thể nói là khí thế vô cùng hoành tráng. Sau khi kết thúc nghi lễ Phong Thiện tại Thái Sơn, Hán Vũ Đế còn ban bố văn cáo, phần mở đầu dùng giọng điệu khiêm cung và thành kính để kể lại quá trình Phong Thiện: “Trẫm dĩ ti vi chi thân kế thừa chí cao đích đế vị, đam tâm tự kỷ bất năng thắng nhâm, đức hành vi bạc bất liễu giải Lễ Nhạc chế độ. Tế tự thái nhất thần thì liên tục kiến đáo liễu tường thụy đích quang thải, giá tài đăng thượng Thái Sơn tế tự Thiên thần, hựu tại Túc Nhiên sơn tế tự Địa thần”. Tạm dịch là: Trẫm lấy thân hèn mọn kế vị ngôi cao, luôn lo lắng bản thân không gánh vác nổi, đức mỏng nên không hiểu hết chế độ Lễ Nhạc. Khi tế tự thần Thái Nhất, trẫm liên tiếp nhìn thấy ánh hào quang điềm lành, lúc ấy mới lên núi Thái Sơn tế Thiên thần, rồi lại đến núi Túc Nhiên tế Địa thần. Sau đó, Hán Vũ Đế bày tỏ nguyện vọng muốn tu dưỡng đạo đức, cùng quần thần bỏ cũ lập mới. Đồng thời, ông hạ lệnh đại xá thiên hạ, ban tặng trâu bò, dê, rượu, vải vóc… rộng khắp, miễn thuế hàng năm cho các vùng phụ cận Thái Sơn như Phụng Cao, Lịch Thành; phàm là những nơi xe của Thiên tử đi qua đều được miễn trừ mọi lao dịch.

Năm Nguyên Phong thứ ba (năm 109 TCN), chỉ một năm sau lần Phong Thiện đầu tiên, Hán Vũ Đế lại một lần nữa đến núi Thái Sơn. Lần này đã diễn ra một sự kiện vô cùng trọng đại, đó là việc xây dựng Minh Đường tại Thái Sơn, điều này đã hiện thực hóa tâm nguyện xây cất Minh Đường mà Hán Vũ Đế đã lập ra từ năm đầu tiên khi mới đăng cơ. Minh Đường tương truyền là cung thất tổ chức các buổi lễ trọng đại được lưu truyền từ thời Hạ, Thương, Chu; nhà Hạ gọi là Thế Thất, nhà Thương gọi là Trọng Ốc, nhà Chu gọi là Minh Đường. Khi Chu Công phò tá Thành Vương, ông từng hội kiến chư hầu tại Minh Đường, định ra Lễ Nhạc, phân rõ tôn ti, hiển thị cảnh tượng thịnh thế thiên hạ thái bình, vạn quốc đến triều kiến. Đến thời Hán, Hán Vũ Đế cho rằng Minh Đường dưới chân núi Thái Sơn có địa thế hiểm trở và không đủ rộng, nên đã hạ lệnh xây dựng lại.

Tuy nhiên, người lúc bấy giờ không biết Minh Đường nên xây theo hình thức nào. Lúc đó, một người ở Tế Nam tên là Công Ngọc Đới đã dâng lên bản đồ Minh Đường từ thời Hoàng Đế. Trên bản đồ này, Minh Đường có một đại điện ở chính giữa, bốn phía không có tường, mái lợp bằng cỏ tranh. Trên điện có lầu, xây cầu trên cao có mái che để người từ phía Tây Nam có thể tiến vào đại điện, gọi là “Côn Lôn đạo”. Thiên tử từ đây bước vào điện là có thể bái tế Thiên Đế. Bên ngoài đại điện còn có nước bao quanh một vòng.

Vì vậy, Hán Vũ Đế hạ chiếu, cho xây dựng Minh Đường bên bờ sông Vấn Thủy thuộc huyện Phụng Cao theo đúng bức “Hoàng Đế thì Minh Đường đồ” này. Năm Nguyên Phong thứ năm (năm 106 TCN), khi Vũ Đế một lần nữa đến Thái Sơn, ông đã tổ chức tế tự Thiên Đế và Ngũ Đế ở tầng trên của ngôi Minh Đường này, tế lễ Hậu Thổ ở tầng dưới.

Sau lần Phong Thiện Thái Sơn đầu tiên, vào các năm Nguyên Phong thứ ba (năm 108 TCN), năm Nguyên Phong thứ năm (năm 106 TCN), năm đầu Thái Sơ (năm 104 TCN), năm Thái Sơ thứ ba (năm 102 TCN), năm Thiên Hán thứ ba (năm 98 TCN), năm Thái Thủy thứ tư (năm 93 TCN) và năm Chinh Hòa thứ tư (năm 89 TCN), Hán Vũ Đế đã có thêm 7 lần tới Thái Sơn thực hiện nghi lễ này. Như vậy, trong khoảng thời gian 21 năm, Hán Vũ Đế đã thực hiện Phong Thiện tại Thái Sơn tổng cộng 8 lần, trung bình chưa đầy 3 năm ông lại tổ chức một lần.

Việc Hán Vũ Đế làm lễ Phong Thiện tại Thái Sơn là một sự kiện trọng đại trong thời kỳ thịnh trị của nhà Tây Hán. Tào Thực thời Tam Quốc trong bài thơ “Hán Vũ Đế tán” đã dùng câu “Phong thiên Thiện thổ, công việt bách vương” (Phong trời Thiện đất, công lao vượt trên trăm vị vua) để ca ngợi thành tựu của Hán Vũ Đế. Nhà sử học Tây Hán Tư Mã Thiên khi bàn về tôn chỉ sáng tác “Kim Thượng Bản Kỷ” đã nói: “Nhà Hán hưng thịnh qua 5 đời, cực thịnh vào thời Kiến Nguyên, bên ngoài dẹp tan di địch, bên trong tu sửa pháp độ, Phong Thiện, cải chính lịch pháp, thay đổi màu sắc lễ phục”. Đây chính là sự khẳng định của ông đối với thời thịnh thế của Hán Vũ Đế, cũng là lời đánh giá tích cực đối với việc Phong Thiện và cải cách chế độ.

Thành tâm gặp Tiên

Hán Vũ Đế tuy về chính trị thực thi chủ trương “độc tôn Nho thuật”, nhưng do chịu ảnh hưởng từ phụ thân và tổ mẫu vốn yêu thích đạo Hoàng Lão, nên ông cũng rất thích Đạo thần tiên. Hán Vũ Đế thậm chí còn mong bản thân mình có thể giống như Hoàng Đế thuở xưa, đắc Đạo viên mãn mà phi thăng. Có lẽ trời cao đã cảm ứng trước tấm lòng thành của Hán Vũ Đế, nên trước và sau khi Phong Thiện Thái Sơn, cũng như trong những lần du ngoạn các danh sơn đại xuyên khác, ông nhiều lần gặp Thần tiên giáng trần hiển linh và nhận được chân truyền của Đạo Pháp, điều này được ghi chép trong rất nhiều truyện diễn nghĩa và tiểu thuyết chí quái.

Tranh ‘Dao Trì Hiến Thọ Đồ’ của Lưu Tùng Niên đời Tống. Theo ghi chép trong “Hán Vũ Đế Nội Truyện”, Tây Vương Mẫu từng đến gặp Hán Vũ Đế và ban tặng 4 quả đào tiên. Bức tranh này khắc họa cảnh Tây Vương Mẫu và Hán Vũ Đế ngồi đối diện trò chuyện, các nữ tiên bưng đào tiên tiến dâng, mang ngụ ý về điềm lành và chúc thọ. Tác phẩm hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Theo ghi chép trong “Hán Vũ Nội Truyện” và cuốn “Bác Vật Chí” thời nhà Tấn, vào ngày mồng một tháng Giêng năm Nguyên Phong thứ nhất, Hán Vũ Đế đã lên núi Tung Sơn, cho xây dựng Tầm Chân Đài, rồi trai giới tĩnh tâm suy tưởng với hy vọng nhận được sự chiếu cố của Thần tiên. Đến một ngày tháng 4, khi Hán Vũ Đế đang cùng các đại thần trò chuyện tại Thừa Hoa Điện trong cung, bỗng nhiên có một mỹ nữ mặc áo xanh xuất hiện, tự xưng là ngọc nữ Vương Tử Đăng trên trời. Nàng thưa với Vũ Đế rằng, Tây Vương Mẫu đã thấu tỏ lòng cầu Đạo của ông nên dự định sẽ giáng lâm gặp ông vào ngày mồng bảy tháng Bảy, từ nay cho đến lúc đó, ông cần phải tĩnh tâm trai giới.

Đến ngày Thất Tịch, trong ngoài cung đình đều được quét dọn sạch sẽ, Hán Vũ Đế cùng mọi người cung kính chờ đợi Tây Vương Mẫu giáng lâm. Khoảng 10 giờ tối, Tây Vương Mẫu dẫn theo hàng vạn tiên nhân hạ phàm, hào quang chiếu rọi sáng rực cả cung đình. Tây Vương Mẫu ngồi trên bảo tọa được đặc biệt chuẩn bị, sau khi Vũ Đế quỳ lạy vấn an, bà liền mời ông cùng ngồi xuống để thưởng thức tiên quả và tiên tửu đặc chế của Thần tiên. Các vị tiên nhân còn tấu lên những bản tiên nhạc thanh tao, êm ái để góp vui.

Sau đó, Tây Vương Mẫu truyền Đạo cho Hán Vũ Đế: tu luyện Đạo thuật là phải dưỡng thần và biến đổi hình thể; tu luyện đến mức vừa dưỡng được tinh thần lại vừa thay đổi được hình thể thì có thể thành tiên. Bà còn truyền cho Hán Vũ Đế các bí tịch tu Đạo.

Trước sự khẩn cầu hết lần này tới lần khác của Hán Vũ Đế, Tây Vương Mẫu đã mời Chân Nguyên Chi Mẫu là Thượng Nguyên Phu Nhân cùng giáng lâm. Thượng Nguyên Phu Nhân răn dạy Vũ Đế rằng tu Đạo nhất định phải từ bỏ 5 loại liệt căn (thói xấu) trong người; phải đối đãi với người bằng lòng thiện, sáng suốt soi xét mọi việc, minh oan cho kẻ bị khuất ức, ban ân huệ cho dân, thương xót kẻ cô độc, quan tâm đến nỗi khổ của bách tính, dứt bỏ dâm loạn, từ bỏ xa hoa, và thường xuyên khấu bái Thiên cung. Nếu kiên trì như vậy trong một trăm năm thì có thể đắc được chân Đạo, tiến nhập thiên giới.

Vì Hán Vũ Đế thành tâm hướng Đạo, Tây Vương Mẫu lại ban tặng cho ông “Ngũ Nhạc Chân Hình Đồ”, hy vọng Hán Vũ Đế gạt bỏ mọi nghi ngại và tạp niệm để chuyên tâm tu hành. Bà còn hy vọng thông qua việc tu hành của Hán Vũ Đế để khơi gợi cảm hứng cho những người muốn học Đạo trong nhân gian, giúp nhiều người phàm biết rằng giữa đất trời thực sự tồn tại Thần tiên Đạo thuật, từ đó khiến những kẻ không tin vào Thần đạo có thể từ bỏ những niệm đầu ngu muội và cuồng vọng. Thượng Nguyên Phu Nhân cũng để lại 12 quyển chân kinh cho Hán Vũ Đế. Sau đó, Tây Vương Mẫu và Thượng Nguyên Phu Nhân cùng cưỡi xe bay đi.

Từ sau khi đích thân gặp Tây Vương Mẫu và Thượng Nguyên Phu Nhân, Hán Vũ Đế càng thêm tin tưởng vào sự tồn tại của Thần tiên. Ông đặt các chân kinh do 2 vị tiên nhân ban cho vào chung một rương vàng, đặt tại Bách Lương Đài; mỗi ngày đều tự mình tắm gội trai giới, đốt hương quét dọn, rồi chiếu theo yêu cầu trong chân kinh mà tu luyện.

Cuốn “Thần Tiên Truyện” do Cát Hồng thời nhà Tấn soạn cũng có ghi chép về câu chuyện giữa Hán Vũ Đế và vị thần tiên mang danh “Thái Sơn Lão Phụ” (Ông lão núi Thái Sơn). Trong một chuyến tuần du săn bắn ở phía Đông, Hán Vũ Đế nhìn thấy một ông lão đang cuốc đất bên đường, trên đỉnh đầu có luồng hào quang trắng cao tới vài thước. Lão ông trông tầm hơn 50 tuổi, nhưng sắc mặt hồng hào như trẻ con, làn da mịn màng sáng bóng, nhìn qua đã thấy khí chất khác hẳn người phàm.

Hán Vũ Đế tiến đến hỏi về Đạo thuật của ông lão. Ông lão nói rằng từng gặp được một bậc đắc Đạo, vị đó đã truyền dạy cho ông phương pháp tu luyện. Ông cứ thế tu hành, cơ thể bắt đầu chuyển biến theo hướng trẻ lại, mái tóc từ bạc hóa đen, những chiếc răng đã rụng lại mọc ra mới, thân thể nhẹ nhàng như chim yến, mỗi ngày có thể đi được 300 dặm. Hiện tại ông đã 180 tuổi. Sử sách gọi ông lão này là “Thái Sơn Lão Phụ”. Hán Vũ Đế đã nhận phương thuốc mà ông lão tặng, đồng thời ban tặng ngọc và lụa cho ông.

Thái Sơn Lão Phụ về sau đi vào núi Thái Sơn, cứ cách 5 năm hay 10 năm, ông lại quay về thăm quê nhà. Đến khi ông được hơn 300 tuổi thì không ai nhìn thấy ông nữa.

Thần tích về việc Hán Vũ Đế gặp tiên vẫn còn rất nhiều, chẳng hạn như việc gặp thần núi Cửu Điên tại Tung Sơn, hay gặp Vệ Thúc Khanh cưỡi xe mây do nai trắng kéo; thậm chí ngay cả danh thần Đông Phương Sóc cũng được cho là Thần tiên Mộc Tinh hạ phàm. Với tiên duyên sâu dày như vậy, sau khi Hán Vũ Đế băng hà, những hiện tượng điềm lành cũng đã xuất hiện. “Hán Vũ Nội Truyện” chép rằng: Một đêm nọ, quan tài của Vũ Đế tự mình chuyển động, ngay cả bên ngoài cung cũng nghe thấy tiếng động phát ra từ linh cữu nhiều lần, đồng thời tỏa ra một mùi hương vô cùng đặc biệt. Sau khi hoàn tất việc phong lăng (an táng), sương mù dày đặc bao phủ khắp vùng quanh lăng mộ, cột cửa lăng tẩm đột nhiên gãy lìa, sương mù kéo dài suốt một tháng trời. Có lẽ Hán Vũ Đế đã tuân theo Đạo thuật mà Thần tiên truyền dạy, thành tâm tu hành và đã đắc Đạo thành tiên; sau khi hoàn thành sứ mệnh nơi nhân gian, ông thuận theo lẽ tự nhiên mà rời bỏ cõi trần, quay trở về Thiên giới.

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/19/8/14/n11453112.htm