Tác giả: Tổ nghiên cứu nhân vật thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Hán Vũ Đế là bậc thiên cổ nhất Đế, trên cùng Tần Thủy Hoàng được xưng “Tần Hoàng Hán Vũ”, dưới cùng Đường Thái Tông khai mở ra thời kỳ “Hán Đường Thịnh Thế”. (Ảnh: Dữu Tử/The Epoch Times)
Khi Đậu Thái Hoàng Thái Hậu còn tại thế, tôn sùng Hoàng Lão, ngăn cản chính sách mới, Hán Vũ Đế vừa đăng cơ, lại xuất từ đạo hiếu, nên cũng tránh việc đao to búa lớn, tạm cất việc hoạch định đế quốc trong tâm, thanh nhàn vài năm để che giấu ý đồ. Thời gian này, Hán Vũ Đế trên bề mặt là vui chơi sơn thủy, săn bắt du ngoạn, mở rộng lâm viên, cùng văn nhân nhã sĩ ngâm tụng thơ phú. Nhưng trong tâm vẫn nung nấu việc đại sự quốc gia.
Năm Kiến Nguyên thứ năm (năm 136 TCN), Đậu Thái Hoàng Thái Hậu đột nhiên lâm bệnh nặng, không còn quan tâm tới chính sự, Hán Vũ Đế hạ chiếu khôi phục các quan tiến sĩ, triệu hồi trở lại những Nho sinh bị phế truất trước đây, lại tiếp tục quá trình tôn Nho. Năm sau (Năm 135 TCN), Đậu Thái Hoàng Thái Hậu qua đời, Hán Vũ Đế không còn bất kỳ chướng ngại gì, chính thức lãnh đạo vương triều Đại Hán đi trên con đường cường thịnh.
Năm thứ hai nắm triều chính, ông triệu tập các đại thần, thương thảo các chính sách quan trọng của quốc gia. Tác giả của “Thiên nhân tam sách” là Đổng Trọng Thư cũng nằm trong số đó. Đổng Trọng Thư xuất phát từ tư tưởng Nho gia, một lần nữa đề xuất “bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho thuật”, kiến nghị thành lập thái học để bồi dưỡng nhân tài cho quốc gia. Với khát vọng thống nhất thiên hạ, lại không còn trở ngại, Hán Vũ Đế chính thức thực hiện kiến nghị của Đổng Trọng Thư.
Trong “Thiên nhân tam sách”, Đổng Trọng Thư đề xuất “Hưng thái học, trí minh sư”, minh sư chính là chức quan tiến sĩ trong thời cổ đại. Tranh “Tiên hiền đồ quyển” của Triệu Ung thời nhà Nguyên. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Tiến sĩ Ngũ Kinh
Văn hóa Nho gia hết sức cọi trọng giáo hóa đạo đức, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu trong quản lý thiên hạ. Để thực hiện tác dụng của giáo hóa, cần phải có một chế độ giáo dục hoàn thiện. Trong “Thiên nhân tam sách”, Đổng Trọng Thư đã kiến nghị thành lập trường học, gia tăng số lượng thầy giáo để bồi dưỡng nhân tài.
Ông nói:
“Thị cố nam diện nhi trì thiên hạ, mạc bất dĩ giáo hóa vi đại vụ”.
“Cố dưỡng sĩ chi đại giả, mạc đại ngược thái học; thái học giả, hiền sĩ chi sở quan dã, giáo hóa chi bản nguyên dã”.
“Thần nguyện bệ hạ hưng thái học, trí minh sư, dĩ dưỡng thiên hạ chi sĩ, sổ khảo vấn dĩ tẫn kỳ tài, tắc anh tuấn nghi khả đắc hĩ”.
Tạm dịch: Muốn ngoảnh mặt về phía Nam mà trị sửa thiên hạ, không thể không coi việc giáo hóa là đại sự, nên việc bồi dưỡng nhân tài, phải có thái học. Thái học có liên quan đến hiền sĩ, là gốc của giáo hóa. Thần mong bệ hạ chấn hưng thái học, đặt các chức minh sư, bồi dưỡng kẻ sĩ trong thiên hạ, khảo vấn kỹ càng để biết thực tài, thế mới có được nhân tài anh tuấn.
Minh sư trong lời của Đổng Trọng Thư, là chỉ “minh kinh chi sư” – những vị hiểu rõ kinh thư, cũng chính là những vị quan tiến sĩ trong triều đình. Thái học và tiến sĩ từ thời cổ đại đã có. Từ “thái” trong thái học có nghĩa là đệ nhất, người xưa thường dùng liên quan đến những thứ to lớn, ví dụ như Thái Dương (Mặt Trời), thái không, thái tử, v.v.. Thái học là chỉ cơ sở đào tạo tối cao, là đại học trung ương do nhà vua cai quản.
Thời cổ đại, Trung Quốc đã có trường đại học. Đổng Trọng Thư viết: “Ngũ Đế danh đại học viết thành quân”. Tạm dịch: Thời Ngũ Đế gọi đại học là thành quân. Các thời Hạ, Thương, Chu, cách gọi đại học cũng khác nhau, thời Tây Chu xuất hiện từ thái học, cũng gọi là “đại học”, thiên tử và chư hầu đều có thể thiết lập thái học. Nhưng khi ấy thái học không chỉ đơn thuần là chốn học, mà còn là nơi cử hành tế tự, yến hội, tuyển chọn võ sĩ, bàn soạn sách lược nghị định tác chiến. Cho đến tận thời Hán Vũ Đế, thái học mới trở thành nơi chuyên môn truyền kinh giảng nghiệp của chính quyền trung ương.
Chúng tôi giới thiệu sơ lược danh vị tiến sĩ thời cổ đại. Tên gọi tiến sĩ bắt đầu từ thời Chiến Quốc, có chức năng dạy dỗ đệ tử. Thời Tần Thủy Hoàng, có đến 70 tiến sĩ, không chỉ có Nho sinh, mà còn gồm cả các trường phái khác, hoặc người giỏi thơ phú, phương thuật (chiêm tinh), bói toán, v.v.. Tiến sĩ trong thời Tần trực thuộc quan thái thường, một trong chín chức khanh, phụ trách tế tự điển lễ, không phụ trách việc giáo dục. Tiến sĩ là người bác cổ thông kim, có chuyên môn học thuật và tri thức, làm cố vấn cho triều đình.
Nhà Hán thừa kế chế độ nhà Tần, chư tử bách gia đều có tiến sĩ. Năm 136 TCN, Hán Vũ Đế lấy hai kinh “Dịch”, “Lễ” đặt làm tiến sĩ, cùng với “Thư”, “Thi”, “Xuân Thu” thời Văn Đế, Cảnh Đế hợp thành “Ngũ Kinh tiến sĩ”. Ngũ Kinh đó chính là “Tứ Thư Ngũ Kinh” – kinh điển của Nho gia mà ngày nay mọi người đều biết. Động thái này của Hán Vũ Đế không bị Đậu Thái Hoàng Thái Hậu phản đối, một là do Thái Hoàng Thái Hậu lâm bệnh nặng, nhưng một nguyên nhân khác quan trọng hơn là Hán Vũ Đế chỉ hoàn thiện thêm cơ cấu tiến sĩ, chứ không phải là chính sách mới.
Kiến nghị của Đổng Trọng Thư là kết hợp chế độ tiến sĩ và thái học, xác lập chế độ đào tạo theo kinh thuật, do đó Ngũ Kinh tiến sĩ và tiến sĩ thời đầu nhà Hán có khác biệt rất lớn: Thứ nhất, tiến sĩ là từ thái thường tách ra, khôi phục tính độc lập từ thời Chiến Quốc, có tính học thuật rất mạnh. Thứ hai, tiến sĩ có chức năng đào tạo đệ tử, trở thành học quan có chức vị cao nhất nắm vững Ngũ Kinh, được mệnh danh là “Thiên hạ tông sư”, tạm dịch: bậc thầy của thiên hạ. Thứ ba, cũng là thay đổi lớn nhất, “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” chính thức trở thành chế độ của quốc gia. Nên cũng nói, ngoài học giả Nho gia, bất kỳ học giả khác phái đều mất đi tư cách và cơ hội thành “tiến sĩ”. Nhưng cho dù là học giả Nho gia, muốn trở thành tiến sĩ, phải nghiên cứu trong phạm vi của “Ngũ Kinh”, cho dù có chút thành tựu ngoài phạm vi đó thì cũng không thể trở thành tiến sĩ. Đây là hàm nghĩa chân chính của câu “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”.
Vẫn còn một điểm cần giải thích thêm, “Độc tôn Nho thuật” của Hán Vũ Đế chủ yếu là để suy tôn “Công Dương Xuân Thu học”. Lấy “Công Dương truyện” giải thích kinh “Xuân Thu” làm học vấn. “Công Dương truyện” tức là “Xuân Thu Công Dương truyện”, hoặc gọi là “Công Dương Xuân Thu”, tương truyền là tác phẩm của Công Dương Cao người nước Tề, chuyên giải nghĩa “Xuân Thu”. Ban đầu chỉ là truyền miệng, thời đầu nhà Hán mới viết thành văn, đồng thời được Hán Cảnh Đế trọng thị. Hán Vũ Đế tôn sùng Công Dương Xuân Thu học có thể bắt nguồn từ cách nó giải thích “Xuân Thu Đại Nghĩa”, trong đó bao quát việc tôn kính nhà vua, duy hộ quyền uy tối cao của trung ương, chủ trương “Đại nhất thống”, v.v., rất phù hợp với chí hướng to lớn của Hán Vũ Đế.
Thái học không chỉ bồi dưỡng cho quốc gia những học giả Nho gia và quan lại xuất sắc, mà còn đặt nền tảng cho đại nghiệp thống nhất của Hán Vũ Đế. Trong hình là một phần bức “Hán Cung Thu Nguyệt Lập Trục” của Viên Diệu đời Thanh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Hoàn thiện thái học
Năm Kiến Nguyên thứ sáu (135 TCN), Đậu Thái Hoàng Thái Hậu qua đời, Hán Vũ Đế cho cậu là Điền Phân phục chức làm thừa tướng. Năm sau, năm Nguyên Quang đầu tiên (134 TCN), Hán Vũ Đế lại một lần nữa chiêu gọi những Nho sinh hiền lương chính trực, triển khai hội nghị bàn đối sách. Lần này, được chọn đầu tiên là một vị lão Nho sinh tuổi ngoài 60, tên là Công Tôn Hoằng, cũng giống như Đổng Trọng Thư, đều là đại Nho gia cùng nghiên cứu Công Dương Xuân Thu. Công Tôn Hoằng là một vị Nho sĩ có tài nhưng thành đạt muộn, 40 tuổi mới bắt đầu nghiên cứu “Xuân Thu”, 60 tuổi được đề cử “Hiền lương”, tham dự Kiến Nguyên đối sách, sau đó đi sứ Hung Nô, do bẩm báo không hợp ý Hán Vũ Đế mà cáo bệnh về quê, đến năm đầu Nguyên Quang mới trở lại.
Trong buổi thảo luận về đối sách năm đầu Nguyên Quang, Hán Vũ Đế hỏi Công Tôn Hoằng về Đạo thiên – nhân, Công Tôn Hoằng nhấn mạnh trong luận điểm của mình: Làm vua phải tu thân cho chính, vì bách tính kiến lập tín nghĩa. Ông còn đề xuất tám chủ trương để trị quốc an dân, thực hiện hai việc chính: Một là quốc gia phải tiết kiệm, giảm nhẹ lao dịch thuế khóa, trân quý sức dân, tạo ra điều kiện sản xuất và sinh hoạt tốt đẹp cho bách tính. Hai là triều đình dùng người công minh, tài sao chức vậy, chỉ dùng người hiền tài, thưởng phạt phân minh, làm quan phải tận trách tận tài mà phục vụ. Tư tưởng này bao hàm nhân nghĩa của Nho gia, dùng đức chấp chính, “Thiên đức vô tư thân, thuận chi hòa khởi, nghịch chi hại sinh”, tạm dịch: Đức của Trời là vô tư, thuận theo sẽ tốt đẹp, trái lại sẽ sinh hại, cũng kết hợp cả tư tưởng của Pháp gia, thưởng phạt phân minh, trọng dụng tài năng, như thế cũng tương đồng với lý niệm trị quốc của Hán Vũ Đế.
Ban đầu khi các quan đánh giá hơn trăm luận điểm, đã xếp luận thuật của Công Tôn Hoằng vào hạng dưới. Nhưng sau khi Hán Vũ Đế xem xong, lại đặt ông lên hàng đầu. Sau đó, ông cho triệu kiến Công Tôn Hoằng, phong làm tiến sĩ, sau đó lại thăng chức lên làm quan tả nội sử, rồi ngự sử đại phu, thừa tướng, còn phong làm Bình Tân Hầu, một bước lên mây, đứng đầu trong các quan văn.
Cống hiến chủ yếu của Công Tôn Hoằng là giúp Hán Vũ Đế thực hiện chính sách “Tôn Nho thuật”. Năm Nguyên Sóc thứ năm (124 TCN), Hán Vũ Đế ban chiếu thư chấn hưng giáo học: “Cái văn đạo dân dĩ Lễ, phong chi dĩ Nhạc, kim Lễ phôi Nhạc băng, trẫm thậm mẫn yên. Cố tường duyên thiên hạ phương văn chi sĩ, hàm tiến chư triêu. Kỳ lệnh Lễ quan khuyến học, giảng nghị hiệp văn, cử di hưng Lễ, dĩ vi thiên hạ tiên. Thái thường kỳ nghị dư bác sĩ đệ tử, sùng hương đảng chi hóa, dĩ lệ hiền tài yên”. Tạm dịch: Ta thường nghe dùng Lễ dạy dân chúng, dùng Nhạc dạy phong tục, mà nay Lễ hư Nhạc hỏng, trẫm thật đau xót. Nên cẩn thận hỏi han chí sĩ trong thiên hạ, tiến cử cho triều đình. Lệnh Lễ quan khuyến khích việc học, bàn luận rộng khắp, tìm lại di vật mà chấn hưng lễ nghĩa, bắt đầu từ thiên hạ. Thái thường thảo luận về vị trí cho tiến sĩ đệ tử, khuyến khích làng xã tôn trọng giáo hóa, nuôi dưỡng người hiền tài. Trong chiếu thư nhấn mạnh tầm quan trọng của Lễ Nhạc, đồng thời lệnh cho thái thường thảo luận để sắp xếp vị trí cho tiến sĩ đệ tử, hy vọng các địa phương tôn sùng giáo hóa, đạt được mục đích đào tạo nhân tài. Kết quả là, Tể tướng Công Tôn Hoằng cùng các quan viên của thái thường đã định ra các biện pháp đào tạo đệ tử và bố trí tiến sĩ Ngũ Kinh như sau:
Một, tuân theo “Tam đại chi Đạo”, tạm dịch: Đạo ba đời, để thực hiện giáo hóa thiên hạ, đầu tiên sắp xếp các chức quan trung ương phụ trách khuyến học, sau đó mở rộng về các địa phương.
Hai, quy định một quan tiến sĩ đào tạo chính thức 50 đệ tử. Do thái thường tuyển người từ 18 tuổi trở lên, có dung mạo đoan chính làm đệ tử, miễn trừ lao dịch thuế khóa cho họ.
Ba, thiết lập đệ tử dự thính, coi như các đệ tử chính thức. Do các quận, huyện, ấp tiến cử những thanh niên ưu tú “Hảo văn học, kính trường thượng, túc chính giáo, thuận hương lý, xuất nhập bất bội”, tạm dịch: Hiếu học, kính trọng bề trên, tuân phép tắc, thuận lệ làng, hành vi ngay chính, qua quận trưởng, vương tướng thẩm tra thực lực xong gửi tới thái thường, trở thành đệ tử dự thính, không hạn chế số lượng.
Bốn, chế độ kiểm tra và bổ nhiệm định kỳ. Quy định khảo thí hàng năm, nếu qua một Kinh trở lên có thể bổ nhiệm vào các vị trí văn học còn thiếu, người đặc biệt ưu tú có thể làm lang trung. Học kém, không qua được một Kinh thì cho thôi học.
Hán Vũ Đế tiếp thu kiến nghị của Công Tôn Hoằng, cho lập thái học ở kinh đô, đồng thời tuyển chọn năm vị Nho học uyên thâm làm Ngũ Kinh tiến sĩ, 50 thanh niên ưu tú làm bác sĩ đệ tử (thái học sinh). Giáo trình học là Ngũ Kinh, khảo hạch nếu thông hiểu một trong Ngũ Kinh thì trao chức quan nhỏ, người ưu tú được theo hầu Hoàng Đế, người xuất sắc được phá lệ đề bạt. Từ những năm Kiến Nguyên hưng khởi thái học, đặt ra “Ngũ Kinh tiến sĩ”, đến chế độ tiến sĩ đệ tử năm Nguyên Quang, chế độ thái học đã đạt đến hoàn thiện.
Cùng với sự hưng thịnh của thái học, các địa phương, quận quốc cũng liên tiếp mở trường, thiết lập học quan cùng đệ tử. Trong “Hán thư – Tuần lại truyện” có viết: “Chí Vũ Đế thì, nãi lệnh thiên hạ quận quốc giai lập học giáo quan”. Tạm dịch: Đến thời Hán Vũ Đế, lệnh các quận quốc đều lập chức quan phụ trách việc học. Hán Vũ Đế mở rộng giáo dục Nho học trong toàn quốc đã tạo ra tác dụng hết sức to lớn trong việc chấn hưng Nho học.
Do tiến sĩ là chức quan của triều đình, đệ tử ưu tú (tiến sĩ đệ tử) có thể làm quan nên học Kinh có quan hệ mật thiết với chính trị và quan lộ. Trong triều Hán có rất nhiều danh thần là đại sư Kinh học hoặc tiến sĩ đệ tử, trong “Hán thư – Nho lâm truyện” viết: “Công khanh đại phu sĩ lại bân bân đa văn học chi sĩ hĩ”. Tạm dịch: Các bậc công khanh đại thần quan lại đều là kẻ sĩ học văn cả. Chế độ học giỏi tất làm quan này làm cho người học trong thiên hạ ra sức nghiên cứu học tập Kinh thư, lấy đó làm con đường tiến thân lập nghiệp. Đặc biệt là Công Tôn Hoằng đã nhắc tới ở trên, đến lúc tuổi cao nhờ chăm chỉ miệt mài vẫn có thể bái tướng phong hầu, đã trở thành dẫn hướng cho một phong trào học Kinh cho văn sĩ của cả một thời đại. Trong “Hán thư – Nho lâm truyện” có ghi: “Công Tôn Hoằng dĩ trì ‘Xuân Thu’ vi thừa tướng, phong hầu, thiên hạ học sĩ mỹ nhiên hương phong hĩ”. Tạm dịch: Công Tôn Hoằng học Xuân Thu mà thành thừa tướng, được phong hầu, người học trong thiên hạ theo đó mà thành phong trào học tập.
Thuận theo thế nước cường thịnh, kinh tế phát triển, quy mô thái học của Tây Hán cũng mở rộng không ngừng, tiến sĩ đệ tử ở Tây Hán lên tới ngàn người, tới những năm cuối của Đông Hán có tới ba vạn người. Thái học không chỉ bồi dưỡng học giả Nho gia cùng nhân tài quan lại cho quốc gia, mà còn đặt định cơ sở cho đại nghiệp thống nhất của Hán Vũ Đế. Thông qua các biện pháp hưng thịnh thái học, thiết lập Ngũ Kinh tiến sĩ cùng tiến sĩ đệ tử, Hán Vũ Đế đã thành công trong việc dùng Nho học thay thế cho Hoàng Lão học, trở thành tư tưởng thống trị chính thống của vương triều Trung Hoa. Địa vị chủ lưu của Nho học chảy suốt, đến tận nhà Thanh cũng không cải biến.
Tuyển chọn bách gia
Hán Vũ Đế thực hiện “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, không phải là chuyên chế văn hóa, ông không những không bài xích các học thuyết khác, cũng không dùng biện pháp cực đoan để tuyệt diệt bách gia. “Bãi truất bách gia” đơn giản chỉ là bãi bỏ chức học quan của chư tử. Dưới tiền đề học Nho làm quan, trong các lĩnh vực văn hóa, học thuật, tư tưởng, ông thi hành sách lược “Tuyển chọn học vấn của bách gia”. Tư tưởng chính sách của ông không chỉ có Vương Đạo, chính là Nho gia, mà còn có Bá Đạo (tức Pháp gia), Đạo gia, rồi Âm Dương gia, v.v.. Kỳ thực, bản thân học thuyết Nho gia đã có bao hàm tư tưởng rất lớn, “Dịch Kinh” trong Ngũ Kinh là kinh điển của Đạo gia và Âm Dương gia, mà “Kinh Thư” cũng là hành chính pháp điển của cả ba triều đại Hạ, Thương, Chu.
Trong “Sử ký – Quy sách liệt truyện” miêu tả: “Chí kim thượng tức vị, bác khai nghệ năng chi lộ, tất duyên bách đoan chi học, thông nhất kỹ chi sĩ hàm đắc tự hiệu”. Tạm dịch: Từ khi tại vị cho đến nay, đã mở ra con đường rộng lớn, tuyển chọn học vấn bách gia, người thông thạo một nghề đều có thể cống hiến. Sau khi Hán Vũ Đế tại vị, trừ việc quan phụ trách việc chỉ dùng Nho gia, các phương diện khác đều rộng mở, thúc đẩy phát triển, tiếp nối toàn diện học vấn của bách gia. Trọng dụng những nhân tài tinh thông một kỹ năng nào đó, tùy theo tài năng mà sử dụng. Có người được phò tá quân vương, có vị thậm chí làm tới công khanh, thỏa chí bình sinh tài năng văn võ. Ví dụ lão thần Cấp Ảm chuyên học Hoàng Lão của triều trước, vẫn được Hán Vũ Đế trọng dụng, nhậm chức huỳnh dương lệnh, trung đại phu, thái thú, đô úy; rồi vị quan nổi tiếng hà khắc Trương Thang là đại biểu của Pháp gia, dùng pháp nghiêm khắc nhưng làm quan thanh liêm, rất được Hán Vũ Đế tin cẩn, từng đảm nhiệm chức thái trung đại phu, đình úy, ngự sử đại phu; Chủ Phụ Yển Thiện giỏi thuật, văn hay mà được thăng chức, từ thân phận bình dân làm tới chức lang trung, một năm mà được phá lệ thăng chức bốn lần, lên tới trung đại phu. Trong nhân gian, Hán Vũ Đế cho phép các loại học phái tự do hoạt động.
Hiển nhiên rằng, dù Hán Vũ Đế trọng thị Nho gia, nhưng ông không câu nệ vào gia nào cả, mà vì đại nghiệp thống nhất lựa chọn những chỗ hữu dụng của các học thuyết để dùng.
Sau khi Hạng Vũ vào Hàm Dương, hỏa thiêu Hàm Dương và lăng Tần Thủy Hoàng, đã gây ra sự phá hoại rất lớn đối với văn hóa Trung Hoa. Tranh vẽ “Cung A Phòng” của Viên Giang đời nhà Thanh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Sưu tập thư tịch
Dù là tôn vinh Nho gia hay duy trì bách gia, đều phản ánh rõ thái độ tôn trọng, mở mang phát triển đối với văn hóa học thuật của Hán Vũ Đế. Các loại văn hóa học thuật trong toàn quốc không vì tôn Nho mà suy bại, mà trái lại càng phồn vinh. Hán Vũ Đế còn có một cống hiến to lớn nữa, đó là sưu tập trên quy mô lớn các điển tịch văn chương thời trước, đồng thời coi đó là một hạng mục công tác văn hóa của nhà Hán.
Thời Hán – Sở tranh hùng, Hạng Vũ sau khi vào Hàm Dương, đã hỏa thiêu Hàm Dương và lăng Tần Thủy Hoàng, lửa cháy ngút trời ba tháng chưa tắt. Việc này đã gây tổn hại cực lớn cho văn hóa Trung Hoa, tất cả văn hóa điển tịch mà Tần Thủy Hoàng đã dày công xây dựng, sưu tầm sau khi thống nhất thiên hạ, đã bị hủy sạch trong lửa đỏ. “Sở nhân nhất cự, khả lân tiêu thổ”. Tạm dịch: Một bó đuốc người Sở châm lên, tiếc thay mọi thứ thành đất cằn, các điển tịch của văn hóa Hoa Hạ từ trước thời Tần, hầu như bị thiêu rụi. Thời đầu nhà Hán, triều đình bắt đầu cho sưu tập thư tịch. “Hán thư – Nghệ văn chí” có viết: “Đại sưu tập thư tịch, mở rộng đường văn hiến”, nhưng do thiếu nhân lực chuyên môn cùng biện pháp thi hành cụ thể nên thành quả sưu tầm còn hạn chế. Đến thời Hán Vũ Đế, xã hội vẫn còn vấn đề: “Thư khuyết giản thoát, Lễ hoại Nhạc băng”. Tạm dịch: Thư tịch thiếu mất, Lễ Nhạc băng hoại, làm ông cảm thán: “Trẫm thật xót xa!”
Hán Vũ Đế không hài lòng với công tác sưu tầm thư tịch của nhà Hán thời đầu, trong chiếu thư năm Nguyên Sóc thứ năm, ông đề cập đến tầm quan trọng của việc sưu tập kinh điển văn hiến: “Kỳ lệnh Lễ quan khuyến học, giảng nghị hiệp văn, cử di hưng Lễ, dĩ vi thiên hạ tiên”. Tạm dịch: Lệnh Lễ quan khuyến khích việc học, bàn luận rộng khắp, tìm lại di vật mà chấn hưng Lễ, bắt đầu từ thiên hạ (Hán thư – Vũ Đế kỷ). Vì vậy, Hán Vũ Đế đã triển khai hàng loạt biện pháp: “Vu thị kiến tàng thư chi sách, trí tả thư chi quan, hạ cập chư tử truyện thuyết, giai sung bí phủ”. Tạm dịch: Vậy nên cho xây dựng thư viện, cấp chức quan cho việc ghi chép, thư tịch các gia phái, đều thu thập cất vào mật phủ (Hán thư – Nghệ văn chí). Ông thiết lập cơ cấu chuyên môn cùng các chức quan, chuyên sao chép văn chương trong thiên hạ như thư tịch cổ, sưu tập học thuyết các gia phái, kinh điển Lễ Nhạc, thi từ ca vũ, v.v, tất cả đều đưa vào lưu giữ trong thư viện quốc gia. Trong “Tùy thư – Kinh tịch chí” còn ghi lại, Hán Vũ Đế từng hạ lệnh: Thừa tướng, thái sử lệnh, thái thường, quan tiến sĩ, đều phải có trách nhiệm sưu tầm thư tịch trong thiên hạ.
Trong khi triều đình trung ương ra sức tìm kiếm những kinh điển thất lạc, thì các quận quốc địa phương cũng tranh nhau noi theo. Người nổi bật hơn cả là Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức, dựa theo ghi chép trong Hán Thư – Cảnh Thập Tam Vương truyện, Hiến Vương “tòng dân đắc thiện thư, tất vi hảo tả dữ chi, lưu kỳ chân, gia kim bạch tứ, dĩ chiêu chi”. Dân chúng nếu dâng lên những thư tịch quý hiếm, Hiến Vương sẽ sai người sao chép bản phụ gửi lại họ, giữ lại bản gốc và trọng thưởng cho người hiến sách. Vì vậy các học giả đương thời không quản xa xôi nghìn dặm đều quy tụ về chỗ Hiến Vương, dâng lên những thư tịch do tổ tiên truyền lại, đến mức lượng sách thu thập được của riêng Hiến Vương đã nhiều tương đương với toàn bộ Hán triều.
Còn có một vị là Lỗ Cung Vương Lưu Dư, khi phá dỡ nhà cũ của Khổng Tử, chuẩn bị xây cung điện của mình, phát hiện trong tường còn lưu giữ “Thượng thư”, “Lễ ký”, “Luận ngữ” và mấy chục quyển cổ thư. Những cổ thư này đối chiếu với thư tịch lưu giữ trong thư viện triều đình nhà Hán thì “Lễ ký” nhiều hơn 39 quyển, “Thượng thư” nhiều hơn 16 quyển, lại còn viết bằng lối chữ triện cổ, thường gọi là “Cổ văn kinh”; Kinh thư mà Ngũ Kinh tiến sĩ sử dụng là dùng lối viết Lệ thư chữ Hán, gọi là “Kim văn kinh”. Cổ văn kinh sau này tất cả được hiến dâng lên Hán Vũ Đế, làm phong phú thêm cho thư viện triều đình, chỗ khác biệt cổ, kim trong lĩnh vực Kinh học cũng từ đây mà ra.
Việc sưu tầm thư tịch cổ do Hán Vũ Đế tận sức đề xướng, thực thi, đã trở thành trào lưu văn hóa xuyên suốt vương triều Đại Hán. Một lượng lớn văn tịch cổ đã được khai quật, chỉnh lý, lưu giữ, đưa trở lại nhân gian, đã có tác dụng quan trọng thúc đẩy sự hưng thịnh của các lĩnh vực văn hóa như kinh học, sử học, văn học, nghệ thuật của nhà Hán, v.v.. Ví dụ như cha con sử gia Tư Mã Thiên thời Tây Hán, sau khi thu được lợi ích từ nghiên cứu lượng lớn thư tịch cổ đã hoàn thành một pho sử ký bất hủ “Sử Ký”: “Cứu thiên nhân chi tế, thông cổ kim chi biến”. Tạm dịch: Nghiên cứu mối quan hệ giữa Trời và con người, thì sẽ hiểu rõ sự biến đổi từ xưa đến nay. Đây cũng là cống hiến văn hóa rất lớn của việc sưu tầm thư tịch cổ.
(Còn tiếp)
Phụ trách biên tập bản tiếng Trung: Lý Tịnh Tranh
Dịch và chỉnh lý từ:
https://www.epochtimes.com/b5/19/7/29/n11417562.htm
https://minhchantuong.com/anh-hung-thien-co/han-vu-de-chuong-3-ton-nho-mo-truong-hoc-tuyen-bach-gia/



