[ChanhKien.org]
“Thành đầu nguyệt lạc sương như tuyết,
Lâu đầu ngũ canh thanh dục tuyệt.
Bổng bàn xuất hộ ca nhất thanh,
Thị lâu đông tây nhân vị hành.
Bắc phong xuy y xạ ngã bính,
Bất ưu y đan ưu bính lãnh.
Nghiệp vô cao ty chí đương kiên,
Nam nhi hữu cầu an đắc nhàn.”
Bản dịch của Nguyễn Khắc Phi:
“Đầu thành trăng lặn sương như tuyết
Bên lầu trống đã điểm canh năm
Bê mâm ra cửa hát một khúc
Đông tây hàng xóm vẫn vắng tanh
Gió bấc qua áo thổi vào bánh
Chẳng sợ áo đơn sợ bánh lạnh
Nghề không sang hèn miễn chí bền
Tài trai sao nỡ ngồi nơi rảnh”
Đây là bài thơ thất ngôn của Trương Lỗi (1054–1114), một thi nhân thời Bắc Tống. Trương Lỗi là một tác giả văn học quan trọng vào giai đoạn giữa và cuối thời kỳ Bắc Tống, là một trong “Tô Môn tứ học sĩ” (bốn học trò xuất sắc nhất của đại thi hào Tô Thức (Tô Đông Pha) gồm Tần Quan, Hoàng Đình Kiên, Trương Lỗi và Triều Bổ Chi). Thuở thiếu niên, Trương Lỗi theo học Tô Thức và rất được Đông Pha cư sĩ coi trọng. Cuộc đời ông trải qua năm triều đại của năm vị hoàng đế Bắc Tống gồm: Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông và Huy Tông; ông từng giữ các chức vụ như Bí thư tỉnh chánh tự, Trứ tác lang, Sử quán kiểm hiệu, Khởi cư xá nhân… Ông là người chính trực, thẳng thắn, khi làm quan thì thanh liêm và cởi mở, lại viết nhiều bài thơ phản ánh nỗi khổ của dân chúng. Một điểm đáng ca ngợi của Trương Lỗi là để giáo dục con trai, ông đã lấy người hàng xóm bán bánh nướng làm gương, đặc biệt viết nên bài thơ “Thành nhi thi” này.
Hàng xóm của Trương Lỗi sống bằng nghề bán bánh nướng. Sau một thời gian dài quan sát cuộc sống nghèo khổ của người hàng xóm, Trương Lỗi phát hiện rằng: ông lão bán bánh này mỗi ngày đều thức dậy vào canh năm, trời chưa sáng đã đi rao bánh khắp phố; bất kể nắng hè gay gắt hay băng tuyết lạnh lẽo, đều chưa từng gián đoạn. Nhà thơ đã thể hiện tấm lòng yêu thương người dân qua câu thơ “Than ôi giữa trời đất, sinh dân thường khổ nhọc” (trong bài “Thiếu quan túc hữu cảm”) và cảm thông sâu sắc với nhân dân ở tầng lớp dưới, lâu dần sự vất vả của ông lão bán bánh đã khiến Trương Lỗi cảm động sâu sắc. Từ người bán bánh, ông nhận ra rằng: Bất kể làm nghề gì, chỉ cần quyết chí theo đuổi, không ngừng nỗ lực, cuối cùng đều có thể thành công. Vì vậy, Trương Lỗi đã viết bài thơ “Thành nhi thi” với mục đích giáo dục con trai mình, học theo phẩm chất không sợ gian khổ của người bán bánh, kiên định chí hướng của bản thân và phấn đấu vì mục tiêu đó suốt đời.
Nếu dùng ngôn ngữ hiện đại để diễn giải, ý nghĩa bài thơ này là: Trăng đã lặn về Tây, trên tường thành phủ đầy sương giá như tuyết, canh năm vừa qua, trời còn chưa sáng. Lúc này, người bán bánh bưng mâm trên tay bước ra khỏi nhà, rao bánh dọc phố, nhưng vì còn quá sớm nên trên đường chưa có người qua lại. Gió lạnh thấu xương như tên bắn, thổi vào người bán bánh và những chiếc bánh nướng của ông. Dù quần áo trên người mỏng manh rét buốt, ông không lo cho mình mà chỉ sợ gió lạnh làm nguội bánh, bánh nguội rồi sẽ khó bán. Trong thiên hạ có rất nhiều ngành nghề, nghề nào cũng có thể làm nên sự nghiệp. Với người đàn ông có chí khí thì cho dù nghề nghiệp của bản thân cao quý hay thấp hèn, nếu muốn thực hiện lý tưởng của chính mình thì phải có ý chí kiên cường và nghị lực vững chắc, tuyệt đối không được lười nhác hay ham muốn hưởng thụ.
“Chí” là khát vọng và chí hướng mà con người theo đuổi trong tương lai. “Lập chí” là việc xác lập quyết tâm và nguyện vọng để thực hiện mục tiêu đó. Lập chí là nền tảng của một sự nghiệp thành công, cũng là khởi đầu của sự thăng hoa đạo đức. Trẻ em trong thời kỳ niên thiếu có tính thích nghi rất cao. Là cha mẹ, cần nắm bắt giai đoạn giáo dục tốt nhất này, giúp con phân biệt đúng sai, rèn luyện ý chí, phát triển tài năng và xác lập chí hướng. Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn đối với sự trưởng thành trong tương lai của con cái. Có rất nhiều cách để khuyến khích con cái xác lập chí hướng, có thể lấy các nhân vật, sự kiện, gia đình hoặc xã hội để làm gương. Ví dụ như về các nhân vật, đối tượng này cũng rất phong phú đa dạng, có thể là người xưa, có thể là các vị anh hùng, cũng có thể là người dân thường, có thể là những người khác, cũng có thể là chính bản thân mình, v.v.. Chỉ là con cái sống cùng cha mẹ mỗi ngày, nên từng cử chỉ hành động, từng lời nói tiếng cười của cha mẹ đều có thể ảnh hưởng lớn đến việc xác lập chí hướng của con. Do đó, điều quan trọng nhất là cha mẹ phải tự mình làm gương, lời nói và việc làm đều mẫu mực, không chỉ cần làm tốt các việc ở hiện tại mà còn phải biết cách kể cho con nghe về những việc đã trải qua. Tôi rất thích kể những câu chuyện cũ cho các con nghe để chúng tự rút ra bài học.
Xuất thân từ gia đình “phú nông”, trên đầu mang theo vòng kim cô “con cái địa chủ”, tuổi thơ của tôi bị che phủ bởi một màng sương đen tối khiến người khác cũng cảm thấy ngạt thở. Khi học tiểu học, thành tích của tôi rất xuất sắc, thường xuyên đứng đầu lớp. Dù là về đạo đức, trí tuệ hay thể lực đều nổi bật nhưng tôi không bao giờ được làm cán bộ lớp. Trong mắt tôi luôn tràn đầy sự hoang mang và trong lòng thì trào dâng uất ức: “Lẽ nào thực sự là rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, còn chuột con thì tất phải biết đào hang sao?” Dù tuổi còn nhỏ nhưng mỗi lần nghĩ đến những chuyện này, toàn thân của tôi run rẩy, giống như cuồng phong bão tố đang ùn ùn kéo đến chỗ tôi, cảm giác như một con sói hung ác dính đầy máu tươi, đang há chiếc miệng đầy máu, muốn nuốt chửng cả tôi và lý tưởng của tôi. Đặc biệt là lúc chơi trò chơi, những bạn học xuất thân từ tầng lớp “Hồng ngũ loại” (1) đều lên giọng kiêu ngạo nói rằng: “Hãy để bọn con cái địa chủ làm kẻ xấu, làm đặc vụ!” Tâm hồn non nớt của tôi đã hằn sâu những vết sẹo của chủ nghĩa “duy thành phần luận”.
Sau khi tôi tốt nghiệp tiểu học, đã bị ép về nhà làm nông. Nhìn những bạn học vui vẻ nhảy nhót, hãnh diện tự hào trong sân trường, tôi đứng ngoài cổng trường vừa thực sự ngưỡng mộ, vừa vô cùng xấu hổ, giống như chú chim lạc đàn. Tôi gọi Trời, Trời không đáp, hỏi Đất, Đất chỉ rơi lệ. Lòng tôi đau đớn, tim tôi chảy máu!
Công việc của đội sản xuất không bao giờ hết, cơm của công xã nhân dân ăn không bao giờ no. Mười ba tuổi tôi đã gia nhập dòng người đói khổ ấy, cùng các ông bà, cô bác nông dân “mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ”. Sau hai năm “khổ tâm chí, nhọc gân cốt, cơ thể đói khát, khổ sở nghèo túng”, cha mẹ không đành lòng để tôi còn nhỏ đã phải chịu nỗi khổ như vậy, liền cầu xin khắp nơi, muốn để tôi tiếp tục học trung học cơ sở. Thế là, để tôi có thể đi học, mẹ tôi đã cúi đầu quỳ lạy, chắp tay cầu xin người khác giúp đỡ. Ngưỡng cửa nhà đội trưởng sản xuất, cán bộ đại đội, lãnh đạo công xã, có nhà nào bà chưa từng bước qua? Đối mặt với những ánh mắt lạnh lùng, những lời mỉa mai châm chọc vô tận, bà chỉ biết nuốt hết vào trong lòng… Sau hai năm nghỉ học, cuối cùng mẹ tôi cũng cầu xin được cho tôi cơ hội quay lại trường trung học.
Sau khi học xong bậc trung học cơ sở, tôi đương nhiên chỉ còn con đường quay trở lại đội sản xuất để lao động. Theo chân các bậc cha chú, tôi học được tất cả những công việc làm nông trong công xã nhân dân. Vì hy vọng chưa tắt, “hoài bão” vẫn chưa chết, trong lòng tôi luôn nghĩ rằng tương lai rồi sẽ có một ngày mình có thể ngẩng đầu vươn lên. Tôi đặc biệt yêu thích đọc sách, dù nghèo đến đâu tôi cũng dành dụm tiền để mua sách; dù mệt đến mấy tôi cũng cố tranh thủ thời gian để đọc, thường học đến tận khuya. Ngọn đèn xanh nhỏ bé như hạt đậu đã theo tôi du hành khắp cổ kim đông tây, chứng kiến bao thăng trầm nhân thế. Ánh đèn chập chờn, lay động, thắp lên trong lòng tôi ánh sáng, thắp lên hy vọng. Nó đưa tôi bước vào những năm tháng khi “vầng trăng thời Tần vẫn soi, cửa ải thời Hán vẫn còn”: Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho, Trần Thắng phất cờ khởi nghĩa, Lưu Bang chém rắn dấy binh, Trương Lương trên cầu Di nhặt giày, Hàn Tín chịu nhục chui háng, Tiêu Hà đuổi theo Hàn Tín dưới trăng… Sức mê hoặc của sách khiến tôi như đang ở trong đó, quên cả thời gian, quên cả chính mình. Có mấy lần, khi rạng đông vừa hé, tôi vác cuốc lên núi, khiến những người bạn đồng canh cười nghiêng ngả. Thì ra vì đọc sách ban đêm khiến một mảng lớn tóc trước trán của tôi đã bị lửa đèn làm cháy xém. Tôi đành phải về nhà lấy kéo cắt bỏ chỗ tóc bị cháy ấy đi. Việc đọc sách đã khiến tôi mở rộng tầm mắt, nuôi dưỡng và làm giàu đời sống tinh thần, xua đi nỗi buồn chán và sự nghèo khổ do cuộc sống lao dịch khắc nghiệt như địa ngục của công xã nhân dân mang lại. Càng đọc, khát vọng đọc sách trong tôi càng lớn. Khi lao động ngoài đồng, trái tim tôi sớm đã bay về biển sách mênh mông vô tận, lúc nào cũng mong công việc sớm làm xong, mong trời mau tối để tôi sớm được về nhà, sớm lại ôm lấy trang sách.
Nào ngờ rằng, đúng lúc tôi đang đắm chìm trong sách vở thì lại gặp phải phong trào “sách khiêu dâm”. Đó là vào một đêm khuya đầu xuân năm 1975, khi ấy, tôi đang đọc sách dưới ngọn đèn dầu hỏa leo lét, nửa sáng nửa tối, thì anh cả tôi giận dữ xông thẳng vào phòng, thổi phụt một hơi tắt ngọn đèn, rồi thốt lên một câu: “Người ta đang nói là cậu đọc sách khiêu dâm!” “Đọc sách khiêu dâm!” Chuyện này quả thực không phải nhỏ. Khi đó đang là thời kỳ tai ương của “Cách mạng Văn hóa”, tà ác lộng hành, mọi việc đảo lộn trắng đen. Lấy danh nghĩa phê phán “phong kiến”, “tư bản” và “xét lại”, người ta ra sức tiến hành những trò đấu đá nội bộ quỷ quyệt, khiến cả nước trên dưới rối ren, hỗn loạn. “Phong kiến”, “tư bản”, “xét lại” là gì chứ? Những người anh em nông dân không có khả năng phân biệt nhiều đến thế, nên hễ là những cuốn sách xuất bản đã lâu, giấy đã ngả màu vàng, thì đều bị gọi chung là “sách vàng” (sách khiêu dâm) (2). Thực ra, cuốn sách mà tôi đang dồn tâm nghiên cứu chính là một cuốn sách lịch sử do người hiện đại biên soạn, in bằng chữ phồn thể, bố cục in dọc, màu giấy hơi ngả vàng. Thảo nào họ lại gọi nó là “sách vàng”. Trải qua cơn sóng gió “sách khiêu dâm” ấy, điều xấu lại hóa điều tốt. Những người anh em, các bác, các thím nông dân không những không trách móc tôi, mà trái lại còn cho rằng tôi là một thanh niên “có học thức, hiểu đạo lý”. Tôi đã được đa số mọi người thấu hiểu và chấp nhận.
Tôi vẫn còn khát khao tiếp tục được đến trường đi học giống như trời hạn trông mưa. Gian nan lắm mới trụ được đến năm 1977, khi chế độ thi cử của nhà trường vốn bị phế bỏ trong thời kỳ “Cách mạng Văn hóa” được khôi phục trở lại, các trường đại học và trung cấp trên toàn quốc tổ chức kỳ thi thống nhất để chiêu sinh khóa mới. Tôi vượt qua kỳ thi, một lần nữa giành được cơ hội bước chân vào trường, tiếp tục học tập.
Tôi vẫn còn nhớ rõ, khi tin tức về việc chuyển từ chế độ tiến cử sang chế độ thi tuyển truyền đến ngôi làng hẻo lánh của chúng tôi, thật khiến người ta không dám tin là sự thật. Khi hay tin ấy, tôi phấn khích suốt mấy ngày mấy đêm, hạ quyết tâm rằng dù thành hay bại cũng nhất định phải thử một lần, thế là tôi đi đăng ký dự thi. Vì đây là lần thay đổi đầu tiên, nên luôn có người vẫn khư khư ôm giữ lối suy nghĩ cũ: “Thằng nhỏ ấy mà học thành tài được, tôi sẽ rán cá ngay trong lòng bàn tay cho nó ăn!” Ba ngày trước kỳ thi, tôi xin phép nghỉ làm với đội trưởng sản xuất, đội trưởng nói: “Cậu đừng có mơ tưởng nữa, hãy dập tắt cái hy vọng đó đi!” Điều này cũng không thể trách họ. Trong thời đại “lấy đấu tranh giai cấp làm then chốt”, ai ai cũng tranh nhau làm “phái cách mạng”, kiên quyết vạch rõ ranh giới với “hắc ngũ loại” (năm thành phần xấu), con cháu địa chủ, phú nông cũng bị xếp vào hạng khác. Họ khẳng định rằng một người bị đội chiếc “vòng kim cô con cháu địa chủ, phú nông” như tôi thì “không thể học thành” cũng là điều bình thường. Nhưng tôi không tin vào điều đó. Tôi đã quyết tâm một cách sắt đá sẽ dự thi, trong lòng âm thầm thề rằng nhất định phải thi đỗ, phải há miệng thật to để nếm thử con cá “rán trong lòng bàn tay” của người khác.
Thực ra, để đi học trung cấp chuyên nghiệp đâu phải chuyện dễ dàng. Khi ấy gia cảnh tôi rất nghèo, trong nhà đến một cây bút máy dùng cho ra hồn cũng không có, mãi đến tối hôm trước ngày thi tôi mới sang nhà người bạn đồng hương để mượn một cây. Lúc đó đang giữa mùa đông rét mướt, điểm thi cách nhà tôi hơn mười dặm đường. Những thí sinh khác có điều kiện kinh tế khá giả thì từ hôm trước đã sớm lên thị trấn thuê chỗ trọ rồi. Nhà tôi thực sự quá nghèo, ngay cả việc gom góp tiền trọ một đêm cũng rất khó khăn; cho dù có mượn được khoản tiền ấy thì cũng không nỡ tiêu. Sáng hôm sau tôi dậy từ rất sớm, đội giá rét, lảo đảo lên đường chạy tới điểm thi.
Quả đúng là ông Trời không phụ người có lòng. Từ sự kiên trì, cần cù của tôi, từ những ngày đêm miệt mài đèn sách, tôi đã tích lũy được một sức mạnh ngàn cân, đập tan chiếc vòng kim cô trên đầu mình, thay đổi số phận của “con cái địa chủ, phú nông”, và bước lên một chặng đường mới. Cuối cùng, tờ giấy báo trúng tuyển khiến người khác phải xúc động cũng đã được trao đến tay tôi. Chẳng phải điều mà đội trưởng gọi là “viển vông” nay đã trở thành hiện thực rồi sao? Cầm giấy báo nhập học trong tay, tôi rất muốn lập tức đi tìm người từng lớn tiếng nói sẽ “rán cá ngay trong lòng bàn tay” để đòi cá ăn. Nhưng mẹ tôi vội ngăn lại, nói: “Thôi đi con, có thể tha thứ được cho người khác thì nên tha thứ, đừng làm khó người ta”. Tôi đã nghe theo lời mẹ. Tháng 3 năm 1978, tôi mang theo hành trang, rời khỏi làng quê hẻo lánh, sải bước tiến vào cổng trường.
Con đường học vấn của tôi quanh co, trắc trở; hành trình đời người thì thăng trầm, lên xuống. Từ một người nông dân quê mùa, chất phác, hơn nữa lại là một người nông dân thường xuyên phải chịu bao ánh mắt lạnh lùng coi thường, bị chèn ép, tôi dần dần bước lên con đường làm công tác tuyên truyền báo chí, quản lý doanh nghiệp và những công việc khác. Qua những trải nghiệm cá nhân mà tôi kể lại, các con tôi không chỉ cảm nhận được sự biến đổi khó lường của thời cuộc xã hội, nỗi gian nan khốn khó trong cuộc mưu sinh của người dân, mà còn thấu hiểu sâu sắc đạo lý “dẫu nghèo nhưng chí không nghèo, quyết không đánh mất hoài bão vươn tới mây xanh”. Điều này có tác dụng nhất định trong việc nuôi dưỡng chí hướng của các con. Tại đây, tôi xin trích dẫn một đoạn trong lời tự bạch cá nhân của con trai để chia sẻ cùng mọi người:
“Tôi là một người dám vươn lên chinh phục những đỉnh cao. Từ tiểu học đến trung học cơ sở, mỗi giai đoạn đều khép lại bằng những thành tích xuất sắc của tôi. Nay sắp tốt nghiệp trung học phổ thông, tôi tin rằng mình nhất định sẽ giành được thành công. Tôi thường xuyên tự nghiêm khắc yêu cầu bản thân theo tiêu chuẩn cao của một học sinh trung học ưu tú, chú trọng phát triển toàn diện, không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực; trong suốt thời gian học trung học, tôi đã 6 lần được bình chọn là ‘học sinh ba tốt’ và ‘cán bộ học sinh ưu tú’.
Tôi rất đam mê đọc sách, phạm vi đọc rất rộng. Tuy hiện tại học ngành khoa học tự nhiên, nhưng tôi chưa bao giờ sao nhãng văn học, lịch sử và triết học. Từ “Trang Tử” đến “Triết học phương Tây”, từ “Tả truyện” (tuyển tập) đến “Sử ký” (tuyển tập), từ “Kinh thi” đến “Nhân gian từ thoại”, từ “Tam hải kinh” đến “Thế thuyết tân ngữ”, không ít tác phẩm kinh điển của các bậc danh gia xưa nay trong và ngoài nước, tôi đều đã đọc qua. Điều này đã đặt nền tảng vững chắc cho khả năng viết lách của tôi.
Tôi cũng rất yêu thích suy nghĩ độc lập, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo. Theo cách nói của thầy giáo hóa học của chúng tôi, đó là “có năng lực tư duy tìm kiếm sự khác biệt rất mạnh”. Tuy trong quá trình khám phá khó tránh khỏi gặp phải thất bại và trở ngại nhưng tầm ảnh hưởng của điều này lại vô cùng sâu sắc. Các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Tiếng Anh… của tôi luôn đạt thành tích xuất sắc; tất cả những điều đó đều không tách rời năng lực tư duy tìm kiếm sự khác biệt mà tôi đã rèn luyện trong thời gian dài.
……
Lý tưởng của tôi là có thể vừa giảng dạy vừa tiến hành nghiên cứu khoa học trong một trường đại học có bầu không khí học thuật đậm nét, bởi vì tôi yêu thích những công việc bình lặng nhưng có chiều sâu. Nguyện vọng lớn nhất của tôi là có thể đóng góp phần nào đó giúp mang Giải Nobel về cho Trung Quốc. Ngoài ra, trong việc phổ biến và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, đất nước chúng ta vẫn còn nhiều điểm chưa thật sự như mong muốn, tôi hy vọng trong tương lai mình có thể tạo dựng được thành tựu trong những lĩnh vực này”.
Từ đoạn tự thuật trên, chúng ta có thể thấy được chí hướng của đứa trẻ này, thấy được những điểm sáng của cháu, đồng thời cũng có thể suy đoán phần nào về sự phát triển trong tương lai của cháu. Trong xã hội coi trọng vật chất, đồng tiền được coi là vạn năng này, cháu không đi theo con đường truy cầu quyền cao chức trọng, cũng không ngưỡng mộ sự giàu có tột bậc, mà lại lựa chọn nghề giáo — một nghề nghiệp tựa như ngọn nến tự đốt cháy bản thân để soi sáng cho người khác, bình lặng và thanh đạm. Đứa trẻ này ưu tú trên mọi phương diện, nhưng cháu không đem trí thông minh và tài năng của mình dùng cho được mất cá nhân, mà nghĩ đến việc cống hiến cho đất nước và xã hội, xác định mục tiêu là “đóng góp phần nào giúp mang Giải Nobel về cho Trung Quốc”, xác định hướng đi là tạo dựng thành tựu trong việc phổ biến và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới. Điều này khiến cha mẹ cảm thấy vô cùng vui mừng.
Với tư cách là những bậc cha mẹ trong thời đại ngày nay, chúng ta cần coi trọng việc lập chí của con cái, cần tăng cường định hướng, giúp các cháu xác lập mục tiêu sống đúng đắn (là “giúp đỡ” chứ không phải “thay thế”), để từ đó xây dựng cho các cháu ý thức trách nhiệm đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người khác và đối với gia đình.
Trong Bài giảng thứ hai, “Chuyển Pháp Luân”, Thầy Lý có giảng:
“[Vì] sự ô nhiễm của dòng chảy lớn, của thùng thuốc nhuộm lớn xã hội người thường, [mà] điều người ta cho rằng đúng, trên thực tế rất nhiều khi lại là sai. Con người ai chẳng muốn sống tốt? Mong muốn sống tốt ấy, có thể phải làm tổn hại đến lợi ích người khác, có thể làm tăng trưởng tâm lý tự tư của con người, có thể chiếm đoạt lợi ích người khác, nạt dối người khác, gây thiệt hại người khác. Chỉ vì lợi ích cá nhân, ở chốn người thường mà tranh mà đấu, vậy chẳng phải tương phản với đặc tính của vũ trụ là gì? Do vậy, điều con người cho là đúng, nó lại không nhất định là đúng. Khi giáo dục cho trẻ nhỏ, vì muốn tương lai sau này có thể xác lập chỗ đứng trong xã hội người thường nên người lớn thường hay dạy bảo ngay từ tấm bé: “con phải biết sống khôn khéo”. Từ vũ trụ chúng ta mà xét thì thấy “khôn khéo” ấy đã sai quá rồi; bởi vì chúng tôi giảng tuỳ kỳ tự nhiên, đối với lợi ích cá nhân cần coi nhẹ. Nó mà khôn kiểu ấy, chính là chạy theo lợi ích cá nhân. “Đứa nào nạt dối con, con hãy tìm thầy giáo nó, tìm cha mẹ nó”; “thấy tiền [rơi] con hãy nhặt [bỏ túi]”, toàn giáo dục trẻ như thế. Từ bé đến lớn đứa trẻ tiếp thụ những thứ như thế rất nhiều, dần dần tại xã hội người thường tâm lý tự tư của nó càng ngày càng lớn; nó chỉ muốn chiếm lợi riêng cho mình, và nó sẽ tổn đức”.
Là bậc cha mẹ, nếu vẫn còn mơ hồ trong việc giáo dục con cái, chẳng phải chúng ta nên rút ra bài học từ đoạn giảng Pháp của thầy Lý hay sao?
Chú thích:
(1) Hồng ngũ loại (红五类) là một thuật ngữ chính trị thời Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc để chỉ 5 nhóm đối tượng được coi là có lý lịch “sạch” và ưu tiên gồm: công nhân, nông dân bần và trung nông, quân nhân cách mạng, cán bộ cách mạng và liệt sĩ cách mạng. Những người thuộc các nhóm này thường có nhiều lợi thế trong học tập, việc làm và chính trị vào thời đó.
(2) Cụm từ 黄色书籍 (hoàng sắc thư tịch) trong tiếng Trung có nghĩa là sách báo khiêu dâm, đồi trụy, tuy nhiên từ “黃色” (hoàng sắc) cũng có nghĩa là màu vàng.