Tác giả: Bryan Dahl
[ChanhKien.org]
Các sử gia có lẽ không có cách nào biết được vị trí chính xác của khu vườn huyền bí này.
Hình ảnh phác họa của họa sĩ về thành phố Babylon tráng lệ cùng những khu vườn treo. (Ảnh: AstralManSigmaDelta/Shutterstock)
Đại Kim Tự Tháp Giza vẫn đứng sừng sững sau 4500 năm. Những tàn tích chìm dưới nước của Ngọn hải đăng Alexandria vẫn có thể được những người lặn biển khám phá. Nền móng của Lăng Halicarnassus và Đền thờ Artemis vẫn còn nguyên vẹn. Xưởng nơi Phidias làm tượng Thần Zeus vẫn tồn tại cùng với những đồng xu có khắc tượng Thần Mặt Trời ở Rhodes. Song, Vườn treo Babylon vẫn là một huyền sử.
Mặc dù nhiều chuyện kể từ các sử gia Babylon, Hy Lạp, Ai Cập, và La Mã vẫn còn tồn tại cùng với các phép đo và đặc điểm thiết kế cụ thể nhưng lại có rất ít bằng chứng khảo cổ học để chứng minh.
Ở nhiều phương diện, người ta hoài nghi về sự kiện lịch sử được lưu lại rằng Vua Nebuchadnezzar Đệ nhị đã xây dựng khu vườn này cho nữ hoàng của mình, người luôn đau đáu nỗi nhớ quê hương — liệu đó là Nebuchadnezzar Đệ nhị (khoảng năm 642–562 trước Công nguyên) hay Semiramis (khoảng năm 850–798 trước Công nguyên), người được cho là đã xây dựng khu vườn, và liệu hai vị này có sống ở Babylon hay không.
Một bức tranh do René-Antoine Houasse vẽ Nebuchadnezzar và Semiramis đang xây dựng khu vườn ở Babylon. (Ảnh: Lâu đài Versailles/Tư liệu công cộng)
Các dị bản lịch sử
Các đế quốc Lưỡng Hà lưu giữ nhiều ghi chép phong phú và tỉ mỉ. Mọi phương diện của nền văn hóa này đều được ghi chép kỹ lưỡng, từ việc lập sổ sách hàng ngày về ngũ cốc và vật nuôi cho đến lịch sử, tức là những câu chuyện truyền thuyết được truyền miệng, chẳng hạn như việc Gilgamesh tìm kiếm sự bất tử hay việc Utnapishtim sống sót sau trận lụt lớn.
Các phiến đất sét khắc chữ hình nêm mô tả chi tiết các chiến dịch quân sự của Nebuchadnezzar, cuộc bao vây Jerusalem và việc trùng tu Babylon do ông thực hiện đều đã được phục hồi và trưng bày tại Bảo tàng Anh quốc. Một chi tiết còn thiếu là việc tạo ra khu vườn. Mặc dù có tới một triệu phiến đất sét khắc chữ hình nêm đã được khai quật, nhưng chưa đến 10% trong số đó được biên dịch. Nhưng hầu hết các phiến chữ chưa được biên dịch đều đã có từ thời kỳ rất sớm. Trong số những phiến chữ liên quan đến thời kỳ trị vì của Nebuchadnezzar, một vài phiến thậm chí còn do ông viết — đặc biệt là phiến đất sét hình trụ được lưu giữ tại Bảo tàng Ngôi nhà Đông Ấn, ghi chép tất cả những thành tựu của riêng ông, bao gồm đền thờ, đường sá, và ziggurat (một loại tháp đền bậc thang đặc trưng của các thành phố lớn ở vùng Lưỡng Hà cổ đại, được xây dựng từ khoảng năm 2200–500 trước Công nguyên) — không phiến nào đề cập đến khu vườn Babylon hay vị nữ hoàng được cho là nguồn cảm hứng cho công trình này.
Phiết đất sét “Nebuchadnezzar, Vua Công Lý”. Khi đã nắm quyền, Nebuchadnezzar được thể hiện như một vị Quốc vương Babylon điển hình với sự thông thái, ngoan đạo, công bằng và mạnh mẽ. Văn tự được khắc trên phiến đất sét này ca ngợi sự vĩ đại của ông với vai trò là một nam nhân và là vị vua trị vì. (Ảnh: Osama Shukir Muhammed Amin FRCP/CC BY-SA 4.0)
Chuyện kể sớm nhất là từ linh mục Berossus người Babylon. Sau nhiều thế kỷ kể từ khi Nebuchadnezzar qua đời vào khoảng năm 290 trước Công nguyên, ông đã viết: “Bằng cách dựng lên cái được gọi là thiên đường “pensile” và trồng thêm đủ loại cây vào đó, [Nebuchadnezzar] khiến khung cảnh này trông giống như một quốc gia miền sơn cước. Ông làm điều này để làm hài lòng nữ hoàng của mình, bởi vì bà đã lớn lên ở Media và yêu thích vùng sơn cước”.
Lời mô tả này rất ngắn gọn, có thể bởi vì chỉ những chi tiết rời rạc từ lời kể này còn tồn tại trong văn tự của sử gia người Do Thái gốc La Mã Flavius Josephus (khoảng năm 37–100 sau Công nguyên). “Pensile” có nguồn gốc từ tiếng Latin “pensilis”, tạm dịch là “lơ lửng”, và vùng Media được mô tả ở đây chính là dãy núi Alborz thuộc miền Bắc Iran ngày nay.
Liên minh giữa Babylon và Media cũng được ghi chép rõ ràng trong cuộc chinh phục chung của họ ở Nineveh và Đế chế Assyria. Không có gì đáng ngạc nhiên khi có rất nhiều mô tả về khu vườn này pha trộn các yếu tố của cả Babylon và Assyria.
Các sử gia Hy Lạp cổ đại dường như bác bỏ câu chuyện đã được lưu truyền lại này. Diodorus (khoảng năm 90–30 trước Công nguyên) đặt các khu vườn ở Babylon, mặc dù không phải do Nebuchadnezzar xây dựng mà do một vị vua Assyria xây dựng cho người vợ lẽ của mình, người cứ luôn nhớ về cố hương. Ctesias (khoảng năm 400 trước Công nguyên) và Clitarchus (khoảng năm 300 trước Công nguyên) đều cho rằng những khu vườn này đã có từ hàng thế kỷ và được xây dựng bởi Semiramis, nữ hoàng của Assyria và là nữ vương huyền thoại đã tạo nên Babylon.
Nineveh được xây dựng trên sông Tigris ở phía Bắc Lưỡng Hà, còn Babylon được thiết lập chếch về phía Nam trên sông Euphrates, cả hai thành phố đều hoàn toàn có năng lực xây dựng những khu vườn như vậy.
Bản đồ Lưỡng Hà, trong đó Nineveh và Babylon được xác định ở gần các con sông. (Ảnh: Goran tek-en/CC BY-SA 4.0)
Bổ sung các chi tiết thiếu sót
Năm 1899, nhà khảo cổ học người Đức Robert Koldewey bắt đầu khai quật tàn tích của Babylon trong 18 năm. Trong số những phát hiện của ông có tàn tích của ziggurat hay Tháp Babel nổi tiếng, Cổng Ishtar, Đền thờ Marduk, các bức tường pháo đài và một căn hầm hình vòm mà ông tin là một phần của Khu Vườn Treo này.
Công trình mà Koldewey tìm thấy có những cái giếng và được xây bằng đá chứ không phải gạch nên có khả năng chống nấm mốc cao hơn. Công trình này dường như có thể làm nền cho hệ thống tưới tiêu cung cấp nước cho các luống đất trong khu vườn nếu nó không phải là được xây dựng cách xa con sông.
Strabo, (khoảng năm 64 trước Công nguyên – năm 24 sau Công nguyên), một sử gia Hy Lạp, đã rút ra từ các nguồn tài liệu trước đó, đưa ra các phép đo chi tiết nhưng phần lớn là không chính xác về chu vi, chiều cao, và độ dày của các bức tường và đài tháp của Babylon. Mô tả của ông về khu vườn không đề cập đến việc Nebuchadnezzar có xây dựng chúng hay không nhưng lại trình bày chi tiết cách sắp đặt và hệ thống tưới tiêu của khu vườn bằng một hệ thống vít tải nước đặt trong các ống kín, dùng để đưa nước lên cao. Ông cũng chỉ ra vị trí của khu vườn nằm ngay trên bờ sông Euphrates.
Hệ thống tưới tiêu mà ông mô tả là một kiểu “vít Archimedes” được phát minh bởi Archimedes ở Syracuse (khoảng năm 287–212 trước Công nguyên). Một hệ thống như vậy sẽ rất hợp lý nếu khu vườn nằm dọc theo bờ sông, nhưng rất khó xảy ra đối với công trình được Koldewey khai quật. Điều đáng chú ý hơn chính là dữ kiện rằng các ghi chép ở Nineveh mô tả một hệ thống tưới tiêu giống với kiểu vít Archimedes, nhưng lại có trước phát minh của ông vài thế kỷ.
Một bản phác thảo mô tả của Vitruvius về vít Archimedes trong “De architectureura”. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Một trường hợp nhầm lẫn về các đế chế
Trong số các phiến đất sét khắc chữ hình nêm được khai quật từ Thư viện Ashurbanipal ở Nineveh có nhiều ghi chép về ông nội của Ashurbanipal, những khu vườn rộng lớn của Vua Sennacherib (khoảng năm 745–681 trước Công nguyên) và một phần cung điện dành riêng cho người vợ đầu của ông.
Bức phù điêu này từ Cung điện phía Bắc của Ashurbanipal (669–631 trước Công nguyên) tại Nineveh cho thấy một khu vườn tráng lệ được tưới tiêu bằng cống dẫn nước. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Các mô tả về khu vườn lặp lại từng chi tiết về các lớp đá xếp tầng chứa đầy đất và cây cối đồ sộ của Babylon, được chống đỡ bởi các cây cột và được tưới bằng hệ thống cơ khí phức tạp dẫn nước từ sông lên các nền đất. Cũng nhằm gợi lên vẻ mỹ lệ của một vùng rừng núi, sự tương đồng nổi bật giữa hai câu chuyện kể về việc các vị vua xây dựng những tổ hợp khu vườn cuối cùng sẽ thu hút sự chú ý của các học giả đang tìm kiếm kỳ quan thứ bảy bị mất tích.
Bà Stephanie Dalley, một nhà nghiên cứu về Assyri tại Đại học Oxford, đưa ra ý kiến rằng dẫu cho những khu vườn như vậy có tồn tại ở Babylon hay không thì chắc chắn chúng đã tồn tại ở Nineveh. Là một trong số ít dịch giả trên thế giới có chuyên môn về các phiến đất sét khắc chữ hình nêm, bà đã minh họa rằng có một trường hợp thuyết phục hơn nhiều đối với những sự mô tả đa dạng trong lịch sử phù hợp với tài liệu không thể chối cãi về các khu vườn do Sennacherib xây dựng.
Bởi vì tất cả các tài liệu của Hy Lạp và La Mã cho rằng các khu vườn này là thuộc Babylon và Nebuchadnezzar đều trích dẫn các nguồn trước đó, và không có nguồn nào trong số này được ghi chép vào cùng thời kỳ đó, cho nên bà chỉ ra mức độ lặp lại các chi tiết mà những học giả này luân phiên đề cập đến Babylon và Assyria. Dù do nhầm lẫn hay khái quát hóa, điều này đều trở thành một khuôn mẫu trong các ghi chép lịch sử của Hy Lạp và La Mã.
Dù bất cẩn đến mức có thể diễn giải nhầm lẫn về một công trình kiến trúc nổi tiếng như vậy cho một thành phố và vị vua hoàn toàn khác, thì nó cũng không quá khác biệt so với việc người Âu Châu thế kỷ 17 dán nhãn cho nhiều loại hàng nhập cảng kỳ lạ là “Thổ Nhĩ Kỳ”.
Mặc dù không có ghi chép nào về vương quốc này là không có sai sót, khoảng trống, hoặc thành kiến, nhưng việc không đề cập đến khu vườn trong toàn bộ các phiến chữ của người Babylon là điều khó có thể bác bỏ. Khi xem xét các ghi chép đủ kỹ lưỡng để đề cập đến hệ thống thoát nước của thành phố, có vẻ như những ghi chép này không đề cập đến những khu vườn phức tạp nếu chúng tồn tại.
Bức tranh “Daniel tiếp kiến Nebuchadnezzar” của Salomon Koninck. (Ảnh: National Trust, Kedleston Hall và Bảo tàng Đông phương/Tư liệu công cộng)
(Theo The Epoch Times)






