Tác giả: Duncan Burch

[ChanhKien.org]

Plato (ở giữa bên trái) và Aristotle (ở giữa bên phải) trong tác phẩm “School of Athens” của Raphael. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Dù là cố gắng thuyết phục nhà tuyển dụng tuyển bạn, thuyết phục nhà đầu tư rót vốn cho doanh nghiệp của bạn, thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm, hay định hình phán quyết trong tòa án hoặc trên đấu trường dư luận, thì tài hùng biện thuyết phục chính là điểm mấu chốt.

Hùng biện là một nghệ thuật cổ xưa sử dụng ngôn ngữ để thuyết phục, truyền đạt thông tin hoặc khích lệ khán giả. Và theo nhiều cách, kỹ năng hùng biện của một người đóng vai trò quan trọng với hiệu quả và thành công của họ trong cuộc sống.

Hơn 2.300 năm trước, triết gia Hy Lạp Aristotle đã giải thích 3 yếu tố cốt lõi của giao tiếp thuyết phục; và từ đó đến nay, các nghệ sĩ, chính trị gia, và doanh nhân thành công đều học hỏi và áp dụng chúng.

Trong cuốn sách “Rhetoric” (Thuật hùng biện) của mình, Aristotle định nghĩa 3 yếu tố này như sau: “Yếu tố đầu tiên phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của người nói; yếu tố thứ hai là đặt khán giả vào một tâm trạng nhất định; yếu tố thứ ba là dựa trên bằng chứng, hoặc bằng chứng hiển nhiên, mà chính những lời lẽ trong bài phát biểu đưa ra”.

Ba thuật ngữ Hy Lạp chỉ ra 3 yếu tố của những nguyên lý bất hủ này là Ethos, Pathos và Logos. Ethos chỉ phẩm cách của người đưa ra lập luận; Pathos chỉ trạng thái cảm xúc của người nghe; và Logos chỉ cấu trúc logic của chính lập luận đó.

Ảnh hưởng vượt thời gian của Aristotle

Năm 18 tuổi, Aristotle chuyển đến Athens để theo học tại Học viện Plato. Tại đây, ông học tập dưới sự hướng dẫn của nhà triết học nổi tiếng này trong gần 20 năm và trở thành một trong những học trò xuất sắc nhất của học viện. Sau khi Plato qua đời, Aristotle được Vua Philip II mời đến kinh đô Pella của Macedonia để làm gia sư cho con trai nhà vua – người sau này trở thành Alexander Đại đế.

Lúc khoảng 50 tuổi, Aristotle trở lại Athens và thành lập học viện riêng của mình chuyên nghiên cứu khoa học và triết học tại Lyceum. Vì ông thích vừa đi dạo quanh Lyceum vừa giảng dạy, nên học viện của ông nhanh chóng được gọi là Peripatetic School (Trường phái Tản bộ). Ông điều hành học viện trong 12 năm, cho đến tận khi ông qua đời năm 322 trước Công nguyên, và trong khoảng thời gian đó ông cũng soạn thảo nhiều luận văn khoa học và triết học.

Các tác phẩm của Aristotle có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sự phát triển của các môn khoa học từ vật lý, thiên văn học đến sinh học và địa chất; và có lẽ còn có ảnh hưởng lớn hơn đối với các môn triết học bao gồm đạo đức học, chính trị học, kinh tế học và đương nhiên là thuật hùng biện. Các tác phẩm của ông trên nhiều lĩnh vực ngày nay vẫn được giảng dạy tại các trường đại học trên toàn thế giới, và ông được công nhận rộng rãi là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất.

Ba quyển tạo nên tác phẩm “Rhetoric” vẫn tiếp tục được các luật sư, chính trị gia và những người thường xuyên diễn thuyết trước công chúng và các tác giả khác nghiên cứu để xây dựng lập luận thuyết phục. Những hiểu biết thấu đáo của ông về 3 yếu tố cốt lõi của sức hút hùng biện đã được áp dụng hiệu quả trong hơn 2.000 năm.

Ethos: Nhìn vào diễn giả

Ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, George Washington đã đọc Bài Từ biệt (Farewell Address) trước cả nước, trong đó ông tuyên bố quyết định rút lui khỏi chức vụ công và không tái tranh cử.

Mặc dù ông từng là tư lệnh Quân đội Thuộc địa khi đội quân này chiến thắng Anh Quốc, là người góp phần viết nên Hiến pháp Hoa Kỳ và là tổng thống đầu tiên của quốc gia mới, nhưng những lời ông dùng ở phần mở đầu bài phát biểu đã thể hiện cả sự khiêm tốn lẫn lòng biết ơn của ông; qua đó chứng minh với khán giả rằng ông là một con người có phẩm cách tốt.

Trong bài phát biểu từ biệt, George Washington ca tụng những thành công của nước Mỹ và tuyên dương nguyên nhân giành độc lập. Tác phẩm “Tướng George Washington từ nhiệm”, năm 1783, của John Trumbull. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Ngay từ đầu bài phát biểu, sau khi cảm ơn người dân vì đã đặt nhiều niềm tin vào sự phục vụ của mình, ông nói: “Trong việc thực thi trọng trách này, tôi chỉ xin nói rằng với thiện ý, tôi đã cống hiến những nỗ lực tốt nhất mà một trí óc rất dễ sai lầm như của tôi có thể làm được để tổ chức và điều hành chính phủ”.

Về Ethos, Aristotle viết: “Chúng ta tin tưởng trọn vẹn hơn và sẵn lòng hơn vào những người tốt so với những kiểu người khác: Điều này về cơ bản là đúng, bất kể vấn đề là gì và hoàn toàn đúng khi không thể có sự chắc chắn tuyệt đối và mọi người có ý kiến trái ngược nhau”.

Trong bài phát biểu của mình, Washington lập luận phản đối việc đặt lòng trung thành đảng phái lên trên bổn phận và phẩm giá, đồng thời cảnh báo về những nguy hiểm của việc can thiệp quá sâu ra nước ngoài. Mặc dù chắc chắn rằng ông đã đưa ra lập luận một cách hợp lý và khơi gợi tinh thần yêu nước cùng thiện chí của khán giả, nhưng ông đã bắt đầu bằng Ethos, bằng cách viện dẫn uy tín của chính mình để nói về những vấn đề đó.

Pathos: Khơi gợi cảm xúc

Khi cố gắng thuyết phục cử tọa, việc cân nhắc đến trạng thái cảm xúc của họ cũng rất quan trọng. Về Pathos, Aristotle viết rằng “người nghe có thể bị thuyết phục, khi bài phát biểu khơi dậy cảm xúc của họ. Những phán đoán của chúng ta khi vui vẻ và thân thiện thì không giống như khi chúng ta đau khổ và thù địch”.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ trích nhiều người đương thời vì chỉ dựa hoàn toàn vào việc khơi gợi cảm xúc, và nói thêm rằng: “Chính vì để tạo ra những hiệu ứng này, như chúng tôi khẳng định, mà các nhà viết sách về hùng biện ngày nay hướng toàn bộ nỗ lực của họ vào đó”.

School of Aristotle (Trường phái Aristotle). Tranh vẽ trên tường của Gustav Adolph Spangenberg, sáng tác năm 1883-1888. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Điều đúng trong thời Aristotle vẫn còn đúng cho đến ngày nay, khi nhiều chính trị gia, nhà quảng cáo và người viết lách hiện đại có xu hướng dựa hầu như hoàn toàn vào việc gợi cảm xúc, thường bỏ qua mọi nỗ lực xây dựng uy tín hoặc lồng ghép lập luận logic.

Đặc biệt, nhiều chính trị gia ngày nay, đặt mục tiêu đảng phái lên trên lý trí và phẩm giá, đã không chỉ làm tổn hại đến uy tín của chính mình mà còn khiến họ không thể đưa ra những lập luận logic. Nhiều nhà báo và tổ chức truyền thông hiện đại cũng vì lý do tương tự mà đánh mất uy tín; và bằng cách đưa tin một chiều về các câu chuyện và sự kiện, họ trở nên không thể xem xét các vấn đề một cách đáng tin cậy.

Kết quả là, họ chỉ có thể khơi gợi cảm xúc của những người đã có sẵn sự đồng tình với mình, nhưng do thiếu cả uy tín lẫn logic, nên lập luận của họ phần lớn trở nên kém hiệu quả trong việc thuyết phục.

Trong một số trường hợp, việc chỉ khơi gợi cảm xúc có thể có hiệu quả nhất định, nhưng với khán giả có óc phán đoán, chúng sẽ không bao giờ sánh được với sức mạnh của một lời kêu gọi cảm xúc cân bằng với uy tín và logic.

Ví dụ, nhiều quảng cáo truyền hình khơi gợi cảm xúc người xem bằng hình ảnh động vật bị ngược đãi hoặc trẻ em suy dinh dưỡng, và kêu gọi quyên góp để giảm nhẹ tình trạng đó. Tuy nhiên, những quảng cáo hiệu quả nhất còn bao gồm cả thông tin liên quan về lịch sử và bằng chứng về những thành tựu của tổ chức, từ đó tạo niềm tin cho người quyên góp tiềm năng rằng tổ chức này đáng tin cậy và các khoản đóng góp sẽ được sử dụng đúng cách.

Tương tự, việc gợi cảm xúc về một trải nghiệm đáng nhớ với gia đình tại nhà hàng hoặc địa điểm giải trí có thể hấp dẫn người tiêu dùng, nhưng khi kết hợp với bằng chứng về chất lượng của địa điểm và giá trị kinh tế của trải nghiệm, nó sẽ còn trở nên hấp dẫn hơn rất nhiều.

Mặc dù đã cảnh báo về việc lạm dụng khơi gợi cảm xúc, Aristotle vẫn công nhận một cách rõ ràng rằng trạng thái cảm xúc của cử tọa là một trong ba phương thức thuyết phục chính. Thực tế, một phần lớn trong Quyển II của “Rhetoric” dành để phân tích chi tiết nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, bao gồm ghét bỏ, giận dữ, thù hận, sợ hãi, xấu hổ, thương xót và phẫn nộ, cùng với mặt đối lập của từng trạng thái. Ông cũng thảo luận về loại người nào, dựa trên tuổi tác, địa vị, tài sản… dễ bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc nhất định.

Nói cách khác, khi cố gắng thuyết phục một người hoặc một nhóm người chấp nhận một lập luận nào đó, thì việc hiểu và cân nhắc trạng thái cảm xúc cùng những thiên kiến sẵn có của cử tọa là vô cùng quan trọng, đặc biệt liên quan đến tác động cảm xúc của bằng chứng được đưa ra.

Logos: Xây dựng lập luận logic

Năm 1963, Martin Luther King Jr. đứng trên bậc thềm Đài tưởng niệm Lincoln ở Washington và trình bày bài phát biểu sau này được biết đến với tên gọi “Tôi có một giấc mơ” (I Have a Dream). Trong bài phát biểu này, King kêu gọi thực hiện lời hứa về tự do cho người Mỹ da đen và đòi hỏi cho họ những quyền lợi giống như công dân da trắng.

Ethos của King đã được khẳng định qua nhiều hành động phản kháng bất bạo động chống lại các luật phân biệt chủng tộc khác nhau, và được tăng cường thêm bởi tài hùng biện hùng hồn và cao thượng của ông. Sức hút cảm xúc của bài phát biểu – Pathos – là không thể phủ nhận, vì hơn 60 năm sau nó vẫn được coi là một trong những bài phát biểu cảm động và thuyết phục nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tuy nhiên, dù có bao nhiêu hình ảnh thơ mộng đẹp đẽ và tầm nhìn về một tương lai tươi sáng, có lẽ bài phát biểu sẽ không thể hiệu quả đến vậy nếu thiếu đi nền tảng logic sâu sắc và nhất quán.

Nhà lãnh đạo quyền công dân Martin Luther King (1929–1968) phát biểu trước đám đông ở Đài tưởng niệm Lincoln trong “Cuộc diễn hành ở Washington”, nơi ông đọc diễn văn “Tôi có một giấc mơ” vào ngày 28/8/1963. (Ảnh: Central Press/Getty Images)

Về Logos, Aristotle viết rằng: “Sự thuyết phục đạt được thông qua chính bài phát biểu khi chúng ta chứng minh một chân lý hoặc chân lý hiển nhiên bằng những lập luận thuyết phục phù hợp với vấn đề đang thảo luận”.

Ngay từ đầu bài phát biểu, King đã nhắc đến bức tượng Abraham Lincoln phía sau ông, và khẳng định rằng mặc dù người này đã ký Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ hơn 100 năm trước, nhưng công dân da đen vẫn chưa được hưởng những quyền và tự do giống như công dân da trắng. Ông chỉ ra rằng người da đen vẫn bị ngăn cản không được bỏ phiếu ở một số bang, và thậm chí không thể nhận được thức ăn hoặc chỗ nghỉ ngơi khi đi lại ở nhiều nơi trên đất nước, nơi họ thường gặp phải những biển báo “Chỉ dành cho người da trắng”.

“Nói theo cách nào đó, chúng ta đã đến thủ đô của đất nước để lĩnh một tấm séc”, King nói. “Khi những người kiến tạo nền cộng hòa của chúng ta viết nên những lời lẽ tuyệt vời của Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, họ đã ký một tờ giấy nợ mà mọi người Mỹ đều là người thừa kế. Tờ giấy nợ đó là lời hứa rằng tất cả mọi người, vâng, cả người da đen lẫn da trắng, sẽ được đảm bảo những ‘quyền không thể bị tước đoạt’, đó là ‘quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’”.

Không giống như nhiều người đương thời với King và những người kế thừa ông sau khi ông bị ám sát, ông không bôi nhọ các nguyên tắc lập quốc, mà ngược lại công nhận chúng, khẳng định rằng chúng phải được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, bất kể chủng tộc. Bài phát biểu của ông đã tạo ra tác động sâu sắc không chỉ với những người nghe trực tiếp (hầu hết đã chia sẻ quan điểm với ông), mà còn với những người xem trên truyền hình hoặc nghe bản ghi âm sau này. Nó đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cách đối xử với người da đen trong nước và những tiến bộ lớn hướng tới sự đối xử bình đẳng trước pháp luật.

Rốt cuộc, không có lập luận logic phản đối phân biệt chủng tộc nào mạnh mẽ hơn tiền đề đơn giản được đưa ra trong bài phát biểu ấy: một con người “không nên bị phán xét bởi màu da của họ mà bởi chính tính cách của họ”.

Tất cả uy tín và cảm xúc trên đời cũng không thể tạo nên một lập luận hiệu quả nếu thiếu logic và không khơi gợi được lý trí của khán giả.

Ba nguyên lý bất hủ

Hơn 2.000 năm sau khi Aristotle qua đời, 3 nguyên tắc hùng biện cốt lõi mà ông đưa ra vẫn tiếp tục là kim chỉ nam hiệu quả cho người viết, người nói, và hầu như bất kỳ ai từng tìm cách thuyết phục cử tọa của mình.

Giống như một chiếc ghế đẩu đứng vững trên 3 chân, một lập luận hoàn toàn thuyết phục là dựa trên phẩm cách của người đưa ra lập luận, cảm xúc và thiên kiến của khán giả, cùng với cấu trúc logic của chính lập luận đó. Không có sự cân bằng của cả 3, lập luận sẽ đổ nhào như một chiếc ghế đẩu có chân không đều, và kết quả là cử tọa sẽ không bị thuyết phục.

(Theo The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.theepochtimes.com/bright/the-timeless-triangle-aristotles-ancient-key-to-effective-communication-6023231