Tác giả: Rebecca Day
[ChanhKien.org]
“Một con tàu đánh cá ngoài khơi bờ biển đầy đá trong cơn bão với một xác tàu đắm”, khoảng năm 1664. Tranh sơn dầu trên vải của Jacob Adriaensz Bellevois. Bảo tàng Hoàng gia Greenwich, Anh (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Vào ngày 21/3/1748, John Newton, một cựu Hải quân Hoàng gia và là công nhân đóng tàu, đã cầu nguyện lần đầu tiên sau nhiều năm, khi con tàu của ông bị một cơn bão dữ dội bất ngờ quật ngã ngoài khơi bờ biển Ireland. Sau khi sống sót qua thời tiết xấu và vào được bờ, ngay lúc đó ông đã quyết định theo đạo Cơ Đốc mặc dù trước đó ông đã sống một cuộc đời không theo tôn giáo.
Mỗi năm sau đó, ông đều dành ngày 21/3 để suy ngẫm sâu sắc về tâm linh. Ông cũng dành thời gian để nghiên cứu Thần học và trải qua một sự phục hưng đạo đức mạnh mẽ.
Chân dung John Newton năm 1880 do W. Harvey thực hiện và H. Robinson khắc hoạ. Thư viện Công cộng New York (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Từ nhỏ, Newton đã thể hiện tính khí nổi loạn. Trí thông minh sắc sảo và sở thích vượt qua giới hạn khiến ông thường xuyên gặp rắc rối. Khi bị chính phủ yêu cầu phục vụ trong Hải quân Hoàng gia, ông thỉnh thoảng bị đuổi khỏi tàu và bị điều đến các tàu khác vì hành vi bất tuân mệnh lệnh.
Cuối cùng, ông làm việc trên một con tàu thường xuyên chạy dọc theo tuyến đường buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Vì tính cách ngang bướng thậm chí còn hơn cả vị thuyền trưởng khét tiếng kiêu ngạo, ông đã bị bỏ lại cùng với những người nô lệ ở Sierra Leone, bị buộc phải làm việc trên một đồn điền do người Sherbro bản địa điều hành.
Sau vài tháng, cuối cùng cha ông cũng tìm thấy và giải thoát được ông. Newton đã làm việc nhiều năm trên các tàu dọc theo tuyến đường buôn bán nô lệ, nhưng những vấn đề đạo đức liên quan luôn đè nặng lên lương tâm ông. Cuối cùng, ông trở thành một người ủng hộ mạnh mẽ việc bãi bỏ chế độ nô lệ và là một giáo sĩ được phong chức trong Giáo hội Anh.
Mặc dù không có bằng đại học để chính thức gia nhập nhà thờ, ông đã được đề nghị làm linh mục phụ tá cho một giáo xứ nông thôn ở hạt Buckinghamshire sau khi chủ đất đọc những bài viết của ông về đức tin. Vai trò mục vụ độc đáo tại giáo xứ Olney này tập trung vào cộng đồng và khuyến khích người dân trong giáo xứ duy trì mối quan hệ cá nhân với linh mục phụ tá để được tư vấn và giao lưu.
Ân điển Cứu rỗi của Thiên Chúa
Khung cửa sổ kính màu có hình John Newton, người sáng tác bài “Amazing Grace” tại Nhà thờ Thánh Peter và Paul, Buckinghamshire, Anh. (Ảnh: Adam Jones/CC BY-SA 2.0)
Newton tin rằng lòng thương xót của Chúa đã là động lực dẫn dắt trải nghiệm mang tính thay đổi cuộc đời ông vào năm 1748 trên con tàu bị bão táp tàn phá. Trong khi chăm sóc Olney với tư cách là một linh mục phụ tá, ông cũng dành thời gian để sáng tác thơ và bài hát. Khi hợp tác với nhà soạn nhạc chuyên nghiệp William Cowper, vị mục sư tận tâm này đã trải qua một sự thức tỉnh tâm linh khác.
Cả vị linh mục đáng kính và nhà soạn nhạc tài năng Cowper đều đóng góp những tác phẩm gốc vào năm 1779 cho một tuyển tập thánh ca dành riêng cho giáo xứ của Newton có tên là “Olney Hymns”. Trong ấn bản lịch sử này, bài thánh ca “Amazing Grace” đã chính thức ra mắt.
Ban đầu được sử dụng như một phần nhỏ trong bài giảng ngày đầu năm mới năm 1773, phiên bản đầu tiên của bài hát chỉ có lời thôi. Các nhà sử học tin rằng những phiên bản đầu tiên của bài thánh ca mạnh mẽ này được hát không nhạc đệm hoặc được giáo đoàn cùng nhau hát xướng lên. Và lời bài hát cảm động, chân thành của Newton được viết với ý định mang tính tự truyện.
“Amazing Grace” trong “Olney Hymns: In Three Books”, 1779 của John Newton và William Cowper. Thư viện Quốc hội (Ảnh: Công cộng)
Newton đã viết lời bài hát đầy suy tư khi ông suy ngẫm về sự ân sủng của Chúa, và ông muốn chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của mình về việc cải đạo sang Cơ Đốc giáo như một thông điệp hy vọng với những người dân trong giáo xứ nhỏ bé của mình.
Hát lời Chúa
Mặc dù bài thánh ca này chỉ phổ biến trên đường phố Olney, Buckinghamshire vào năm 1779, nhưng khi vượt đại dương đến Mỹ vào những năm 1800, nó đã được đón nhận rộng rãi.
Sự xuất hiện của bài hát này ở Mỹ trùng hợp với một trong những phong trào tôn giáo lớn nhất của quốc gia, Cuộc Đại Thức tỉnh lần thứ hai, dẫn đến sự ra đời của các đoàn truyền giáo lưu động độc lập thu hút hàng trăm tín đồ và người tham dự. “Amazing Grace” nhanh chóng trở thành một phần không thể thiếu của những sự kiện này, đặc biệt là ở miền Nam.
Bài hát này đã trải qua nhiều giai điệu khác nhau qua nhiều thế kỷ, nhưng chính bản thánh ca “New Britain” năm 1835 do William Walker, nhà soạn nhạc người Nam Carolinian sáng tác, đã trở thành giai điệu được các tín đồ thường dùng để kết hợp với lời bài hát của Newton. Ngay cả ngày nay, phiên bản “Amazing Grace” này vẫn được coi là bản chính thức và là bản được trình diễn nhiều nhất.
“New Britain” (Amazing Grace) trong “The Southern Harmony, and Musical Companion” năm 1847 của William Walker. Thư viện Quốc hội (Ảnh: Công cộng)
Trong thời hiện đại, ước tính cho thấy giai điệu quý giá này được trình diễn khoảng 10 triệu lần mỗi năm. Bài hát vẫn là một phần cốt lõi của văn hoá tâm linh đến nỗi nhà phê bình và sử gia âm nhạc Gilbert Chase nhận xét rằng “không nghi ngờ gì nữa đây là bài thánh ca nổi tiếng nhất trong tất cả các bài thánh ca dân gian”.
Đúng như thông điệp của bài hát và một lần nữa chứng minh rằng vẻ đẹp của nó vượt qua mọi ranh giới địa lý, “Amazing Grace” đã lan rộng đến nhiều đối tượng hơn, bao gồm cả các nghệ sĩ nổi tiếng cũng thích hát lại các bài thánh ca. Bài hát đã xuất hiện trên 1.100 bản thu âm của cả các nhạc sĩ Cơ Đốc giáo và người thế tục.
Kể từ bản thu âm chính thức đầu tiên của dàn hợp xướng Sacred Harp vào năm 1922, bài thánh ca trường tồn hàng thế kỷ này đã được thu âm hơn 7000 lần. Bộ sưu tập tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ gồm hơn 3000 bản thu âm “Amazing Grace” do nhiều nhạc sĩ và các nhóm nhạc khác nhau biểu diễn đã được xuất bản.
Tựa bài hát: The Original Sacred Harp Choir – New Britain C. M.
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ: https://www.theepochtimes.com/bright/amazing-grace-how-sweet-the-sound-5414674




