Tái sinh kiếp này của Ngu Cơ: Tình duyên dẫn dắt, sứ mệnh trên vai



Tác giả: Thái Hồng

[ChanhKien.org] Những ghi chép dưới đây là một phần đời thực của tôi với tư cách là một đệ tử Đại Pháp. Có những đau thương rất lớn mà cuộc bức hại của Trung Cộng gây ra cho bản thân tôi và gia đình, cũng có những thần tích và sự gia trì của Sư phụ; có ngàn vạn tơ tình đan xen ngoài đời thực, cũng có điểm hóa trong cảnh mộng về những lần luân hồi chuyển thế. Khi chắp bút cho bài viết này, tôi thường thương cảm đến rơi lệ, chỉ hy vọng rằng trải nghiệm chân thực này của tôi có thể khiến những người vô thần suy nghĩ lại một cách sâu sắc, cũng hy vọng có thể chứng thực Pháp Luân Đại Pháp.

Điềm lành trong mộng cảnh, con gái bước vào Đoàn Nghệ thuật Thần Vận

Năm 2017, tôi đưa con gái từ Trung Quốc đại lục sang Mỹ Quốc để dự thi vào trường múa Phi Thiên, từ lúc quyết định đăng ký dự thi đến khi trúng tuyển, mọi việc đều ngoài sức tưởng tượng!

Ở Trung Quốc đại lục, tôi đã bị giam giữ 7 lần vì tu luyện Pháp Luân Công, con gái cũng vì đó mà phải chịu khổ không ít. Cháu sinh thiếu tháng và rất gầy, để cháu phát triển khỏe mạnh hơn một chút, tôi cho cháu vào học lớp múa ở cung thiếu nhi. Con bé rất có năng khiếu, tuy vóc người nhỏ nhắn nhưng trong các kỳ thi múa cháu đều giành giải nhất. Còn có lần cháu được một công ty truyền thông chọn ghi hình cho đĩa quảng cáo phát hành toàn cầu.

Vào năm cuối tiểu học, tôi bảo cháu ngừng học vũ đạo để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh trung học cơ sở. Lần ngắt quãng này kéo dài ba năm.

Cuối năm 2016, một nữ đồng tu bảo tôi đăng ký cho con gái tham gia kỳ thi vào trường múa Phi Thiên. Tôi nói kỹ năng cơ bản của cháu còn chưa đủ thì sao mà thi được? Nữ đồng tu ấy tranh luận với tôi suốt cả buổi tối, cuối cùng đồng tu nói: “Cháu chỉ quản việc báo danh thôi, muốn từ chối thì để người khác từ chối.”Tôi không còn cách nào khác, cũng đành bất đắc dĩ đăng ký cho con gái với tâm trạng “cứ thử xem sao”. Khi ấy đang vào kỳ nghỉ đông, tôi bảo con gái luyện tập các kỹ năng cơ bản ở nhà, nhưng cháu không nghe lời và không muốn chịu khổ. Lúc đó lòng tôi rất dằn vặt, cũng rất hoang mang, không biết làm vậy có đúng không? Ngày nọ, có một tín tức đột nhiên được đả nhập vào đầu tôi: “Thà trễ còn hơn không, vẫn chưa quá muộn”. Tôi dường như có chút tự tin. Có lần, tôi bất lực hỏi cháu: “Con không chịu dụng tâm như thế này thì sao có thể thi đậu đây?” Con bé quay lưng về phía tôi, đầu không ngoảnh lại, chỉ nói một câu: “Con có thể thi đậu!”.

Thời điểm đó, tôi chịu rất nhiều áp lực trong tâm, tôi vốn định một mình sang Mỹ Quốc, vì tôi có một người chú ở Mỹ Quốc, chú ấy luôn muốn tôi đi một mình. Tôi không có bất kỳ kỹ năng đặc biệt nào, nếu con tôi không nhập học được, tôi sẽ không thể nuôi nó ở Mỹ Quốc. Thời gian ấy tôi cũng gặp một số cảnh tượng trong giấc mơ, khi tỉnh dậy, tôi ngộ ra rằng chúng đều liên quan đến con gái tôi, và đều là điềm lành.

Một trong những giấc mơ là: Có người tặng tôi một chùm pháo bông, tôi đốt pháo bông trong nhà. Pháo bông đốt mãi không cháy mà chỉ làm thủng một lỗ đen trên nóc nhà màu trắng. Rồi giấc mơ chuyển tiếp đến cảnh tôi đang đốt pháo bông ở Mỹ Quốc, pháo bông chói lọi rực rỡ cả bầu trời đêm! Sau khi tỉnh dậy, tôi ngộ rằng đó là một điềm lành liên quan đến con gái tôi.

Một tháng sau khi báo danh, trường học gửi thông báo yêu cầu cháu đi phỏng vấn. Nghe được tin ấy tôi đã rơi nước mắt!

Khi đưa con gái đi, tôi đã cầu nguyện suốt dọc đường, cầu Sư phụ bảo hộ cho chúng tôi rời khỏi Trung Quốc một cách suôn sẻ. Lúc đó tôi mới ra khỏi trại tạm giam chưa được bao lâu, theo quy định, trong thời gian tại ngoại chờ xét xử tôi không được rời khỏi địa phương. Nhưng tôi nghĩ mình nhất định phải đi, phải đến Mỹ Quốc, để có thể gặp được hai người tôi muốn gặp, để có thể chứng thực Đại Pháp.

Sau khi chúng tôi suôn sẻ đến được Mỹ Quốc, một số giáo viên trong cuộc phỏng vấn nói với tôi một cách nghiêm túc rằng con gái tôi không đủ cao, bật nhảy cũng không tốt. Lúc ấy, tôi cảm thấy có chút ái ngại, tôi nghĩ thầm: Thi không tốt mới là chuyện bình thường, mình cũng chỉ muốn thử xem sao, chỉ không muốn bỏ lỡ cơ hội. Đang lúc tôi chuẩn bị rời đi thì có mấy vị giáo viên bước đến và mỉm cười, họ nói với tôi: “Cháu nhà chị sẽ ở lại đây. Sư phụ đến rồi, là Sư phụ cho cháu ở lại.” Tôi không nói rõ nổi tâm trạng của mình lúc đó, vừa rất bình thản, lại vừa muôn phần cảm khái. Bởi vì cảnh mộng trong giấc mơ trước đó là điềm lành, nhưng trước khi sự việc thực sự xảy ra, tôi sao có thể tưởng tượng nổi được chứ! Một năm sau khi vào trường, con gái tôi gia nhập Đoàn Nghệ thuật Thần Vận, hiện cháu đang theo đoàn đi diễn xuất, cứu độ chúng sinh. Đây cũng là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Con xin cảm tạ Sư phụ!

Truyền thông ngoại quốc tiết lộ chân tướng, cầu vồng minh chứng thần tích

Những năm ở đại lục, tôi đã trải qua quá nhiều sóng gió, nhưng có hai sự kiện cho đến giờ tôi vẫn khắc cốt ghi tâm. Năm 2001, tôi và các đồng tu tham gia vào một hạng mục phơi bày cuộc bức hại trước các kênh truyền thông nước ngoài — Các phóng viên của “Washington Post” đã đến đại lục để bí mật phỏng vấn về tình huống chân thực của các học viên Pháp Luân Công bị bức hại trong bệnh viện tâm thần. Sau sự kiện, các học viên tham dự phỏng vấn được yêu cầu rời khỏi địa phương.

Sau cuộc phỏng vấn, tất cả các đồng tu tản ra để rời đi, tôi được phân đi cùng hai đồng tu từ miền Bắc, tôi gọi họ là anh Hai và chị Hai. Khi ấy chúng tôi đã ghé đến hai nơi, đầu tiên là một ngôi làng nhỏ trên núi. Chị Hai kể, quê chị bị bức hại rất nghiêm trọng, hầu hết những người bị kết án đều bị đưa đến trại lao động cưỡng bức Mã Tam Gia khét tiếng. Hồi còn ở quê, mỗi ngày chị in hàng vạn bộ tài liệu chân tướng và gửi đi khắp nơi. Chị nói những gì mình đã trải qua trong phản bức hại là kỳ tích. Chị Hai có ý chí kiên cường như kim cương. Chị nói mình vẫn phải quay về để cứu chúng sinh nơi đó. Tôi và anh Hai cũng hay nói chuyện, tôi là khán giả trung thành của anh. Anh Hai kể, vì đột ngột tham gia hoạt động lần này nên anh không kịp báo tin cho gia đình, thậm chí phải cắt đứt liên lạc với họ. Anh lo không biết vợ con ở nhà có an toàn trong hoàn cảnh tà ác ấy không. Tôi nhớ có lần anh Hai hỏi: “Tiểu Hồng, tâm nguyện bây giờ của em là gì?” Tôi suy nghĩ một lúc rồi nói: “Em cũng nhớ quê, nhớ cha mẹ. Em đột ngột rời đi, cha mẹ nhất định rất lo lắng sốt ruột.” Tôi kể với anh Hai rằng tôi từ bé sống ở quê, mỗi lần có cầu vồng hiện lên sau cơn mưa là lại mừng rõ reo hò. Chỗ tôi là một xóm núi nhỏ, tôi hy vọng có thể nhìn thấy cầu vồng, để tâm trạng có chút cảm giác bình yên.

Không lâu sau, vào buổi chiều chúng tôi rời khỏi ngôi làng nhỏ trên núi, anh Hai đột nhiên nói: “Tiểu Hồng, nhìn kìa!” Sau cơn mưa trời lại sáng, trên bầu trời xuất hiện một chiếc cầu vồng. Rồi chúng tôi ngồi xe đến một thành phố lớn. Trên đường đi, có hai câu hát không ngừng văng vẳng bên tai tôi như một điểm hóa kỳ diệu: “Không trải qua gió mưa làm sao thấy được cầu vồng?” Sau này, khi tôi rời đi và chia tay họ ở ga xe lửa, anh Hai chị Hai bất ngờ kêu lên và chỉ cho tôi xem: Trời quang mây tạnh như vậy, lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy cầu vồng kép tuyệt đẹp vắt ngang bầu trời! Khi đó, chúng tôi đều rất phấn khích. Để kỷ niệm cuộc hành trình ấy, tôi đã chọn cho mình biệt danh “Thái Hồng” (cầu vồng).

Nửa năm sau, tôi đọc báo cáo trên Minghui.com và biết rằng anh Hai đã bị giam giữ rồi tra tấn đến chết ở một thành phố phía nam. Lúc đó, tôi bi phẫn vô cùng, lúc đó thực sự muốn lao ra đường để nói cho tất cả mọi người biết sự tà ác của Trung Cộng! Anh Hai trước kia từng là cảnh sát, lúc mất mới chỉ 38 tuổi. Anh chính trực, thật thà và chất phác, hàng năm đều được đơn vị đánh giá là lao động tiên tiến. Khi anh bị công an giam vào bệnh viện tâm thần, lãnh đạo đơn vị của anh thậm chí đã khóc. Tôi không thể tưởng tượng nổi anh ấy đã phải trải qua những loại tra tấn nào. Nhưng tôi thậm chí còn không dám nói với các đồng tu xung quanh mình, bởi vì tôi biết hậu quả nghiêm trọng của việc rò rỉ tin tức dưới môi trường tà ác như ở đại lục. Sau rất nhiều năm, tôi may mắn được đi xa và ra nước ngoài. Anh mãi mãi là anh Hai trong lòng tôi, anh tên là Bàng Lực Hoành. Tôi thường nghĩ đến vợ và con của anh Hai. Tôi biết những năm tháng này, cảnh vợ góa con côi hẳn không dễ dàng gì với hai mẹ con họ. Tôi chỉ có thể lặng lẽ cầu nguyện trong tâm cho họ được bình an.

Khi ấy, trong lần tham gia hoạt động vạch trần cuộc bức hại của Trung Cộng trước truyền thông nước ngoài, tôi còn quen được hai vị đồng tu nữa. Sau sự kiện, họ đều bị kết án tù dài hạn, cả hai đều không nửa lời bán đứng đồng tu. Tôi biết ơn các đồng tu đã cùng phối hợp trong hoạt động ấy, chúng tôi đã thực sự đối đãi với nhau cởi mở chân thành.

Ở quê tôi có một chị đồng tu, chúng tôi sống gần nhau và thường cùng nhau làm hạng mục giảng chân tướng. Chị ấy là người thông minh, có năng lực, lại can đảm và cẩn thận. Khi chưa tu luyện chị ấy đã từng mắc bệnh hiểm nghèo, bị bệnh viện chẩn đoán là ở vào giai đoạn cuối. Nhưng sau khi tu luyện Đại Pháp, cơ thể của chị ấy hoàn toàn hồi phục, khuôn mặt tái nhợt chuyển sắc hồng, mọi người đều công nhận khuôn mặt chị thật đẹp. Chị và tôi thường xuyên bị sách nhiễu và đe dọa bởi cán bộ khu dân phố, còn có cả công an và nhân viên của phòng 610. Chúng tôi khích lệ lẫn nhau và cùng nhau đối mặt với tất cả chuyện này. Một lần, chị ấy bị bắt vào trung tâm tẩy não, khi không ai chú ý, chị trốn thoát bằng cách nhảy xuống từ cửa sổ tầng ba. Chị nói chị cảm thấy thật không thể tưởng tượng được, nhất định là Thần bảo hộ, khi đó bản thân chị không hề có cảm giác là đã nhảy xuống, mà cảm thấy giống như thân thể trượt xuống theo vách tường, cũng không hề bị thương.

Vào mùa đông năm 2009, cảnh sát địa phương tiến hành bắt giữ trên quy mô lớn, điểm tài liệu của chúng tôi bị phá hủy, rất nhiều đồng tu bị bắt, chị cũng bị bắt đi. Lúc đó vì thân thể tôi xuất hiện hiện tượng nghiệp bệnh nghiêm trọng, cảm giác nửa nhứ sống nửa như chết vậy, do đó tôi không bị bắt đi mà chỉ bị lục soát nhà. Rất nhiều đồng tu đã bị kết án. Sau một thời gian bị giam giữ, chị được thả về, nhưng bị bức hại rất nghiêm trọng, không lâu sau thì chị qua đời. Chị chỉ hơn tôi có vài tuổi. Trong nhà tang lễ, tôi thấy khuôn mặt chị trầm tĩnh và mỹ lệ, chỉ giống như người đang ngủ. Lúc đó, cha tôi mới mất được hơn một tháng, ông cũng mắc cùng bệnh giống chị, tôi vốn đã rất đau buồn. Người nhà tôi là vì cuộc bức hại này mới qua đời, giờ lại đến chị ra đi, tim tôi đau như dao cắt, chịu không nổi, cứ vậy nhốt mình trong nhà và hét lên “A..a…a..”. Tôi nằm trên giường và nghĩ: hay là cứ ngủ thế này rồi chết luôn đi, không phải tỉnh dậy nữa. Cảm giác đó kéo dài nửa tháng, rồi tôi đột nhiên cảm thấy hoảng hốt vô cùng, sau đó mới bừng tỉnh và nhận ra rằng: Mình là đệ tử Đại Pháp, mình phải buông bỏ tình, mình còn phải tiến về phía trước.

Tuổi già đau khổ thê lương của cha mẹ, phải chăng là vận mệnh an bài ?

Những năm tôi chịu bức hại cũng mang lại thống khổ lớn cho gia đình tôi, đến tận bây giờ tôi vẫn không cách nào nguôi ngoai. Cuối năm 1999, khi đến Bắc Kinh kháng nghị lần đầu tiên, tôi bị bắt về văn phòng Bắc Kinh, rồi sau đó bị cảnh sát trả về địa phương. Tại đồn cảnh sát, trưởng đồn là một phụ nữ cảnh sát khuôn mặt đầy sát khí, đối xử với tôi như phạm nhân. Trong đồn khi đó đã ngồi kín người, có cảnh sát, có lãnh đạo từ đơn vị công tác và cả mẹ tôi. Một lúc sau, cha tôi cũng được gọi đến. Cha tôi mặt mày xanh nhợt, không nói lời nào. Những người đó nói với cha tôi rằng: “Ông xem, nếu con gái ông vẫn không nói gì, vẫn muốn luyện công, thì sẽ ngay lập tức bị đưa vào trại tạm giam.” Cha tôi nghe vậy hung hãn lao đến và giơ tay đấm vào đầu tôi một cái, tóc tôi bị đánh xổ ra xõa xượi. Nữ lãnh đạo đơn vị sợ hãi ôm chầm lấy tôi. Trên đường đưa tôi vào tù, khuôn mặt mẹ tái nhợt, bàn tay lạnh cóng run rẩy níu lấy tôi van xin: “Viết không luyện nữa, được không con? Nếu không đơn vị sẽ sa thải cha con. Tất cả mọi người sẽ cười vào mặt ông ấy, ông ấy sẽ bị con làm cho ấm ức mà chết. Con ra tù rồi sẽ không gặp được cha con nữa đâu.”

Buổi tối hôm đó lần đầu tiên tôi bị đưa đến trại tạm giam, tôi sốc trước những gì bày ra trước mắt: Hơn chục người chen chúc trong một căn phòng nhỏ tối tăm lạnh lẽo, trong góc phòng là nhà vệ sinh, giường nằm là một tấm gỗ đen thui… Tôi nghĩ đến những thống khổ mà gia đình tôi phải chịu đựng và khóc, tôi lấy khăn tay ra lau nước mắt thì thấy khăn tay dính đầy vết máu, lúc đó tôi mới nhớ ra tại sao nữ lãnh đạo lại sợ hãi ôm lấy tôi, là vì cú đấm vừa rồi của cha tôi khiến tôi chảy máu mũi. Tôi không phải là một đứa con không biết nghe lời, tôi là viên ngọc quý của cha mẹ, từ nhỏ đến lớn đã bao giờ bị đánh như vậy đâu? Nghĩ đến việc để người thân phải chịu dằn vặt đến mức này, lòng tôi như dao cắt, nhưng tôi không thể phản bội lại lương tâm mình. Vào thời khắc đó, tôi đã nghiêm túc suy nghĩ về việc tu luyện Pháp Luân Công: Đại Pháp đã cho tôi một cơ thể khỏe mạnh, dạy tôi đạo lý làm người, dạy tôi làm người tốt, thiện đãi người khác… lúc đó tôi nghĩ, sẽ ra sao nếu khi ra tù không còn được gặp cha, nếu như mất đi công việc,… nhưng thiên lý vẫn còn đó và tôi không làm sai!

Cha tôi là cán bộ cấp sở, vì tôi tu luyện Pháp Luân Công nên ông luôn bị theo dõi sát sao. Họ liên tục yêu cầu ông viết khai báo, thậm chí ông còn bị đe dọa. Tôi nhớ một lần khi tôi ở một mình với cha, ông lại nổi nóng và không cho tôi luyện công. Tôi cũng giận, tranh cãi với ông, không cho ông nói những lời chửi bới. Cha thấy tôi cãi lại, bèn lấy cái ghế đẩu phang vào người tôi. Tôi giật mình sửng sốt, lập tức nhớ ra mình là người tu luyện, sao có thể khiến cha tôi tức giận? Cha mẹ tôi đều là những người thiện lương, họ bị tà ác làm cho sợ đến mức còn không dám biết chuyện gì đang xảy ra, cũng không muốn tìm hiểu chân tướng Đại Pháp, họ sao có thể ngờ được chính quyền đã dựng chuyện nói dối đây? Tôi nhanh chóng xin lỗi cha, nhưng cảnh tượng tiếp theo khiến tôi bị sốc: Cha tôi quỳ trên mặt đất, tự đập đầu xuống sàn đá cẩm thạch, “bùm, bùm…”, rồi ông đập đầu tôi xuống sàn 20 lần liên tiếp, bảo tôi cút đi, đừng sống ở nhà. Lúc đó ông đã 60 tuổi rồi, nhìn mái tóc ông bạc phơ, tôi dìu ông nằm xuống giường, tôi nói với ông tôi sẽ đi ngay, dặn ông ở lại hãy bảo trọng. Cha tôi khóc và cầu xin tôi đừng đi, đừng bỏ ông đi. Sau này, tôi còn nghe nói đến một chuyện khác: để đơn vị không sa thải tôi, mẹ tôi đã có lần chạy đến mà quỳ xuống trước mặt nữ lãnh đạo đơn vị nơi tôi làm việc.

Cha mẹ tôi bị bức hại đến mức mất đi hành vi bình thường, vì không chịu nổi áp lực nên lần lượt mắc bệnh nặng. Tôi nhớ có lần tôi hỏi cha tôi bệnh đau cỡ nào, ông nói: “Sống không bằng chết”. Cha mẹ tôi khổ sở vật lộn với bệnh tật suốt mười năm. Tôi ở cạnh chăm sóc họ trong vài năm cuối đời. Do áp lực từ Trung Cộng, họ không dám luyện công và mất đi cơ hội được đắc cứu. Trước đây từng có lần cha tôi mắt đỏ hoe nhìn tôi và nói bệnh của ông là do tôi gây ra. Nhìn họ chịu đựng thống khổ như vậy, lại thêm cuộc đời thống khổ của bản thân mình, tôi thực sự bất lực.

Sau này, tôi nhìn ngày sinh và ngày mất được khắc trên bia mộ của cha mẹ là ngày 20/7 – 25/4. Lúc đó tôi đã bị sốc! Bởi vì đây là hai ngày có ý nghĩa đặc biệt đối với mỗi đệ tử Đại Pháp! Lúc đó như có ai đang cầm dao cứa vào tim, tôi cảm thấy số mệnh an bài chân thực đến mức như vậy, làm sao tôi có thể thoát khỏi điều này đây?

Thời điểm khi tà ác tăng cường bức hại, nhiều lần tôi đã nghĩ đến việc tự tử, trong tâm tôi cầu xin Sư phụ đưa tôi đi, tôi không muốn sống trên thế gian này nữa. Khi đó, Sư phụ đã triển hiện cho tôi xem một bức tranh vô cùng tráng lệ ở không gian khác. Một hôm trong một giấc mơ, tôi đi đến một không gian khác, nơi đó có một cung điện nguy nga tráng lệ nằm giữa những đám mây. Giọng nói của vị Vương trong thế giới ấy truyền đến tai tôi rằng: tôi là người có nghĩa với họ, là người con thứ chín, con gái út của ông ấy. Tôi thấy trong cảnh giới đó, tôi cùng lúc có hai thân thể, to lớn vô cùng. Một là hình tượng Nữ Thần mặc váy đỏ, một là hình tượng Thần điểu có hình dáng như như phượng hoàng. Nhưng lúc đó tôi cảm thấy nhớ cha mẹ mình ở trần gian, tôi muốn tìm họ, vậy nên tôi bay lên trong tầng không gian ấy, chỉ là tôi không nhúc nhích được, động một chút thôi là bay sang bên này của trái đất, động một chút nữa liền bay say bên kia của trái đất, cơ bản là không có cách nào đáp thẳng xuống trái đất. Lúc này, một giọng nói truyền đến nói rằng nếu tôi muốn đi xuống đó, tôi phải phù hợp với lý của thế gian và biến thành một con chim nhỏ. Trong chớp mắt, tôi bay đến nhà của một cặp chị em đồng tu rất gần nhà cha mẹ tôi, tôi muốn vào xem hai chị em họ có nhà không, xem họ còn tu luyện không. Lúc đó một ý niệm xuất ra trong đầu tôi: “Không được, mình vẫn còn cần tu luyện.”, điều đó khiến tôi bật tỉnh dậy khỏi giấc mơ. Toàn bộ quá trình này giống như đang chiếu một bộ phim, bên tai luôn có tiếng mưa to gió lớn, giống như cuộc sống của tôi trong kiếp này vậy.

Trong giấc mơ, vị Thần nói với tôi rằng tôi có 9 kiếp luân hồi, tôi có thể dùng thần thông nhảy một cái là qua, nhưng Thần không cho phép tôi làm vậy mà muốn tôi dùng thân người trải qua toàn bộ diễn biến của mỗi kiếp nhân sinh.

Không lâu sau khi tôi đến hải ngoại, tôi đã gặp được một trong những người mà tôi mong được gặp: chú của tôi. Khi giới thiệu tôi với những người khác, chú nói rằng vì tôi tu luyện Pháp Luân Công nên cha mẹ tôi đã sớm qua đời ở Trung Quốc đại lục. Tôi rất buồn sau khi nghe điều này. Tôi nghĩ những gì tôi có thể làm là vạch trần những lời dối trá của Trung Cộng, phủ nhận thuyết vô thần luận, công khai quãng những kiếp luân hồi này để an ủi linh hồn của cha mẹ tôi trên thiên đàng.

Tái sinh kiếp này, tình duyên dẫn lối

Sau khi tốt nghiệp đại học khoa nông nghiệp, bố mẹ tôi được bố trí làm việc tại một ngôi làng nhỏ ở nông thôn tên là “Thi Thảng Kiều” nơi gắn liền với một câu chuyện truyền thuyết đã ngàn năm tuổi. Khi còn học tiểu học, tôi thường cùng các bạn chơi trên cây cầu đá nhỏ trong thị trấn, chúng tôi đi từ đầu cầu này sang đầu cầu kia. Một ngày nọ, một bạn học ở địa phương hỏi tôi rằng tôi có biết đây là cây cầu gì không? Tôi lắc đầu. Bạn gái ấy nói rằng: “Đây được gọi là ‘Cầu Thi Thảng’ (cây cầu xác người chết trôi). Bà tớ kể rằng thời cổ đại có một nữ tử tên là Ngu Cơ (là mỹ nhân của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ) cô ấy đã dùng kiếm tự sát, thi thể từ thượng nguồn thuận theo dòng của con sông trôi xuống, đến giữa đường thì mắc lại chỗ những tảng đá ngầm này. Vì vậy người dân khi đó đã xây cây cầu này bên chỗ thi thể cô bị mắc lại để tưởng nhớ về cô, thị trấn của chúng tôi được đặt theo tên của cô ấy.

Lên cấp 2, tôi về lại thành phố, mỗi khi một mình dưới ánh trăng, nghe gió chiều xào xạc lá cây, không hiểu sao tôi lại đột ngột có cảm giác thê lương và đau buồn khó tả. Tôi là một bé gái vốn rất đơn thuần và trong sáng vô tư, làm sao lại có cảm giác đau thương đến vậy. Tôi cảm thấy loại cảm xúc này vô cùng lạ lẫm với mình. Sau này, tôi phát hiện rằng, chỉ cần gặp cùng một khung cảnh như vậy thì tôi sẽ xuất hiện loại cảm xúc ấy. Hiện tượng này cứ diễn ra cho tới tận khi tôi bắt đầu tu luyện Đại Pháp.

Khoảng thời gian nửa năm đầu sau khi mẹ tôi qua đời (cuối năm 2012), một kiếp luân hồi của tôi được đả khai. Một lần trong cảnh mộng, tôi thấy mình đang nằm trên một ngôi mộ, từ trên cao nhìn xuống, trong ngôi mộ có một chiếc quan tài, trong đó là một người phụ nữ dáng người tầm trung, thân hình mảnh khảnh, khoảng 20 tuổi, mặc y phục cổ đại màu đỏ. Lúc này, một giọng nói cho tôi biết: “Là Ngu Cơ nằm bên trong.” Khi tôi còn đang mơ hồ không biết phải làm gì, giọng nói đó tiếp tục nói: “Cô đang nhìn chính mình, mộ của cô ấy ở gần đây.”

Tôi được biết rằng Ngu Cơ đã dùng kiếm cứa vào cổ mình và đã chết trong một đêm trăng sáng dưới tiếng lá cây xào xạc. Cuối cùng tôi cũng hiểu được hiện tượng trước giờ cứ mãi can nhiễu tôi mà không thể giải thích được. Tôi cảm ngộ được sự phi thường khi nỗi đau của hơn hai nghìn năm trước có thể truyền từ vi quan đến cơ thể trong kiếp này của tôi thông qua những khung cảnh tương đồng ấy. Đồng thời tôi cũng thấy nghi hoặc, cảm thụ và điểm ngộ từ 30, 40 năm trước, tại sao đến hôm nay mới nói cho tôi được biết về nó? Sau đó, trong thời gian 3 năm sau đó, Sư phụ cứ dần dần điểm hóa để tôi lý giải về điều đó.

Tôi có quen biết hai vị văn nhân ở quê của mình, tôi cũng có duyên phận sâu sắc với họ. Một người là chú tôi, chú là một nhà sử học đã chuyển ra nước ngoài từ rất sớm; người còn lại là bạn thời trẻ của tôi, anh ấy là một nhà thơ, chỉ có một chút thành tựu nho nhỏ. Tôi đã không gặp hai người họ trong nhiều năm. Chú tôi là người chính trực thiện lương, vì dám nói ra sự thật và viết ra lịch sử cận đại chân thực của Trung Quốc nên đã bị Trung Cộng áp chế không cho phép được trở về đại lục. Trong những năm tháng bị bức hại, gia đình và người thân của tôi đều bị che tai bịt mắt bởi những lời dối trá của Trung Cộng, duy chỉ có chú là hiểu tôi. Tôi đã giữ liên lạc với chú suốt hơn mười năm, mỗi lần đều dùng bút danh “Thái Hồng” hoặc biệt danh để liên lạc với chú, tôi kể về những khó khăn của mình, chú luôn giang rộng bàn tay đón nhận và động viên tôi, nói tôi nhất định phải đi con đường này, bảo tôi ra hải ngoại với chú. Tôi biết ơn chú từ tận đáy lòng mình. Sau khi cha mẹ tôi qua đời, tôi định rời khỏi đại lục, tôi cũng ngộ ra rằng Sư phụ điểm hóa rằng tôi cần giúp chú ấy liễu giải Đại Pháp, bởi vì chú không tin Thần. Tôi lên mạng tìm thông tin về chú và thấy chú viết những dòng như thế này: “Vậy thì hãy để lịch sử hữu tình trả lời cho những con người hữu tình chúng ta…” Tôi là người tu luyện, đương nhiên tôi có cách hiểu khác với những người khác.

Như thể có một sự sắp đặt xa xưa, không lâu sau khi bố mẹ tôi qua đời, tôi nhìn thấy tên người bạn thời trẻ của mình xuất hiện trên báo. Chúng tôi đã không gặp nhau hơn 20 năm, cũng không có thư từ tin tức gì. Điều khiến tôi ngạc nhiên là cậu ấy vẫn nhớ đến tôi suốt nhiều năm, đã viết nhiều bài thơ về tôi để ghi dấu lại một thời tuổi trẻ.

Trong thời gian đó, tôi thấy một bài viết có tên “Lịch sử bị cải biên” trên mạng Chánh Kiến, tác giả của bài viết là một đồng tu đã từng là Hạng Vũ trong Luân hồi. Để đáp lại bài viết đó và chứng thực Đại Pháp, tôi đã viết bài “Cảm ngộ khi đọc bài ‘Lịch sử bị cải biên’”.

Mặc dù đã có điểm hóa của Sư phụ, nhưng lúc đầu tôi vẫn còn nghi hoặc, cảm thấy Ngu Cơ sao có thể là tôi? Tôi phát hiện một số sự “trùng hợp”: Ngôi mộ của Ngu Cơ là một bí ẩn ngàn năm, vậy mà cha tôi trước đây đã từng tham gia quản lý mảnh đất đó từ khi Cục Quản lý đất đai quốc gia mới thành lập…

Một lần sau khi dâng hương cho Sư phụ, đột nhiên một đoạn trong bài viết của đồng tu đả nhập vào não tôi. Đồng tu nói rằng trong kiếp này, tên của anh có chứa hai chữ trong cuốn “Hạ Nhật Tuyệt Cú” do Lý Thanh Chiếu viết, cái tên có chứa đựng thiên cơ. Lúc đó tôi mới đột nhiện phát hiện ra một đoạn đời trong kiếp này của tôi ẩn chứa trong chữ “Ngu” của cái tên Ngu Cơ. Trong chữ “Ngu” 「虞」chứa tên của nhà thơ (người bạn thời trẻ của tôi) và tên của tôi trong bài thơ mà cậu ấy viết. Trong chữ “Ngu” 「虞」có một chữ “thất”「七」. Khi chúng tôi gặp lại nhau vài thập kỷ sau, bài thơ đầu tiên cậu ấy viết cho tôi có tên là “Thất Thái” 「七彩」. Trong bài thơ, cậu ấy ví tôi với cầu vồng – Thái Hồng 「彩虹」. Tôi rất ngạc nhiên, đó là bút danh của tôi, làm sao cậu ấy biết được? Lẽ nào đây là chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?

Trước đó vài năm, cậu viết trong một bài thơ khác: “Khi ta gặp được vòng cung bí ẩn, sẽ có trùng trùng những điều được tiên đoán trước.” Quả đúng như một lời tiên đoán, “vòng cung bí ẩn” chính là cầu vồng mà nhiều năm sau chúng tôi mới phát hiện ra. Tôi nghĩ chỉ có Thần mới biết điều này và Thần đã để cậu ấy dùng tài văn chương thiên phú của mình viết ra. Sau đó, tôi gửi cho cậu ấy một số tài liệu chân tướng, cũng kể cho cậu ấy về quãng đời trước kia của tôi cùng những thần kỳ đã xảy ra. Cậu ấy tin, bởi vì nhiều năm sau đó chúng tôi mới phát hiện rằng một số điều kỳ diệu xảy ra trong đời thực đã được cậu ấy tự mình viết ra từ trước. Trong những bài thơ tự sáng tác, người bạn cũ này của tôi tự ví cậu ấy như mãnh hổ, chính là chữ “hổ” 「虍」có trong chữ “Ngu” 「虞」.

Năm 2015, tôi đi cùng một dì đồng tu đến Đài Loan, sau đó dì ấy cũng sang Mỹ Quốc đoàn tụ với con gái. Sau khi đến Đài Loan, người dân địa phương giúp chúng tôi đặt phòng trong khách sạn có tên “Khách sạn quốc tế thành phố hàng không Đào Hy”. Tôi giật mình khi nhìn thấy hai chữ “Đào Hy”, lúc này mới cảm nhận rằng Thần dùng chữ “Đào” để ẩn dụ bản thân tôi, bởi vì đây là lần thứ ba trong đời tôi được điểm hóa về việc này. Lần thứ hai là sau khi gặp lại người bạn thi nhân kia, tôi thấy cậu ấy viết một bài thơ có dùng chữ “đào” để ẩn dụ về những chuyện liên quan đến tôi, bài thơ còn giành được giải thưởng quốc tế. Lúc đó tôi cũng mới nhớ ra một câu trong bài thơ thời niên thiếu: “Nhu toái đào hoa hồng mãn địa, Ngọc Sơn khuynh đảo tái nan phù”. Đó là bài thơ tôi đọc trong “Hồng Lâu Mộng” khi còn học tiểu học ở Thi Thảng Kiều. Không hiểu sao chỉ nhớ đến một câu thơ này, tôi bỗng cảm thấy rất thương tâm và khóc rất lâu. Tôi nhớ khi nhìn thấy câu thơ này, thân thể tôi như bị một thứ gì đó xuyên qua, cảm giác ấy rất dữ dội, khiến tôi suýt bị ngã xuống. Bây giờ tôi mới hiểu rằng, từ lúc nhỏ, Thần đã điểm hóa cho tôi về kiếp sống “dùng kiếm tự kết liễu” năm ấy.

Tuy nhiên điều tôi muốn nói ở đây là, anh hùng mạt lộ “Bá vương biệt Cơ” (Hạng Vũ) cùng Ngu Cơ tự vẫn trong kiếp sống ấy, rồi đến họ Ngu đối ứng trong kiếp sống này, đều là an bài của cựu thế lực. Trong tu luyện kiếp này của tôi, khi tôi không buông bỏ được chấp trước, chúng can nhiễu khiến tôi mê lạc, khó lòng tiến về phía trước.

Một lần nữa vào tù, chính niệm hiển Thần uy

Khi rời Đài Loan, tôi nhờ dì đồng tu mang một lá thư cho chú tôi ở Mỹ Quốc. Tôi kể cho chú nghe về tình hình gia đình và nói với chú rằng chỉ khi sinh mệnh bản thân đi đến bước ấy, tôi mới khám phá ra sự an bài của số mệnh: Vùng đất mà cha tôi đã quản lý khi còn sống chính là đáp án cho một chỗ mê thiên cổ — phần mộ của Ngu Cơ. Chú tôi là một nhà sử học, chú sẽ là độc giả của bài viết về lịch sử được chắp bút bởi tôi và một đồng tu tôi chưa từng gặp. Mặc dù chú là người theo chủ nghĩa vô thần, nhưng bất luận chú có thể lý giải được nhiều ít bao nhiêu, tôi cũng muốn nhờ chú tìm giúp tôi vị đồng tu ấy. Vài tháng sau, chú nhận được thư và gọi điện cho tôi, ông nói nhất định sẽ giúp tôi tìm vị đồng tu kia. Tôi và chú cũng sắp đặt ổn thỏa thời gian để tôi đi Mỹ Quốc. Nhưng vì sau đó tôi gặp nạn, bị bắt giam nên kế hoạch đến Mỹ Quốc của tôi đột ngột bị gián đoạn.

Năm 2016, tôi nghĩ mình phải buông bỏ tình với con gái, một mình sang Mỹ Quốc. Tôi định sẽ kèm cặp cháu thật tốt trong hai tháng hè, rồi sẽ rời đi khi cháu bắt đầu nhập học vào tháng 9. Ngày 1/7, buổi chiều đầu tiên trong kỳ nghỉ hè của con gái, một buổi chiều mưa rền gió dữ, cửa nhà tôi bị đập vỡ và một nhóm cảnh sát hung ác xông vào. Tôi hỏi tại sao họ lại xông vào nhà tôi? Họ lấy ra một tờ giấy, nói rằng tôi là tội phạm bị truy nã trên mạng, họ đã theo dõi tôi từ hơn một năm trước khi tôi ra ngoài phát tài liệu chân tướng Pháp Luân Công, hôm nay chính thức tìm đến để bắt tôi.

Đây là lần thứ bảy tôi bị bắt sau khi tu luyện Đại Pháp, cũng là lần hung hiểm nhất. Trong những năm đó, tôi bị giam trong trại tẩy não, trại tạm giam và bệnh viện tâm thần, thân thể và tinh thần bị hủy hoại nghiêm trọng. Trong bệnh viện tâm thần, tôi bị bức hại đến nôn ra máu; tôi bị bắt vào trung tâm tẩy não không lâu thì cha mẹ tôi qua đời mà không ai chăm sóc, đợi tôi về để tang. Công an 610 không ngừng kêu gào, đòi tống tôi vào trại cải tạo. Bị thống khổ giày vò trong tâm, tóc tôi rụng dần. Và lần thứ bảy bị bắt, tôi bị đưa đến trại tạm giam ở một vùng ngoài để chờ tuyên án. Tôi biết đó là do tôi lu luyện hữu lậu và bị tà ác dùi vào sơ hở. Tôi hối lỗi với Sư phụ trong tâm và cầu Sư phụ cứu tôi. Tôi nghĩ tôi chỉ có thể bị giam trong vòng một tháng, không thêm một ngày! Tôi vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Cảnh sát rất hung dữ, tra khảo tôi liền mấy đêm và không cho tôi ngủ. Trong những lần bị tra khảo, tôi đã buông bỏ hết thảy, bình tĩnh giảng chân tướng Đại Pháp và nói với họ rằng thiện ác hữu báo. Tôi nói với viên cảnh sát chịu trách nhiệm bắt giữ tôi: “Tôi đã nhớ thẻ công tác của anh. Sẽ có một ngày tôi ra khỏi đây. Nếu anh tiếp tục làm việc xấu như thế này, tôi sẽ phơi bày hành vi của anh cho cả thế giới.” Anh ta bật dậy khỏi chiếc ghế và chỉ thẳng vào mặt cậu cảnh sát trẻ gần đó, nói loạn lên bắt cậu này ghi lại những gì tôi vừa nói, ghi rằng tôi đã “đe dọa cảnh sát”. Tôi nói với cậu cảnh sát trẻ: “Cậu không được ghi như vậy, tôi không đe dọa cảnh sát, cậu ghi vào đó cho tôi rằng tôi đã “khuyến thiện”. Anh ta tra khảo tôi trong một thời gian dài. Có lần anh ta nói: “Chị dùng nụ cười bên ngoài để che giấu nỗi sợ hãi trong tâm.” Tôi nói: “Tôi thực sự không sợ. Tôi tu luyện Đại Pháp, có một ngày mai tươi đẹp, còn những gì đang chờ đợi các anh chính là nguy hiểm.” Anh ta nói: “Tay phải của chị đang động qua động lại, chứng tỏ trong tâm chị đang rất sợ hãi.” Tôi không nhịn được, bật cười thành tiếng. “Các anh dùng xích sắt khóa tay chân tôi lại rồi trói cứng vào ghế sắt, chỉ để hở mỗi cái tay để bắt tôi viết. Tôi không động đậy tay thì chịu sao nổi?” Thực ra trong khoảng thời gian đó, mỗi ngày tôi đều cảm thấy như đang nằm trên đống lửa. Rất nhiều người đều nói rằng tôi phải lĩnh án ít nhất ba năm.

Mặc dù ở đó tôi giống như bị hành hạ trong luyện ngục, nhưng tôi có thể cảm nhận được rằng Sư phụ luôn ở bên cạnh, bảo vệ và điểm hóa cho tôi.

Tôi nhớ lần đầu tiên bị tra khảo, có một tín tức đả nhập vào đầu não tôi: “đại khí, con rời đi”. Lúc đó tôi không biết tín tức này có ý nghĩa gì. Cho đến khi được trả tự do tôi mới minh bạch rằng “đại khí” có nghĩa là thản đãng buông bỏ hết thảy; “con rời đi” chính là nói tôi có thể ra tù. Tôi ngộ ra rằng Thần biết trước mọi điều về con đường tu luyện của tôi, về những ma nạn mà tôi gặp phải và hết thảy những gì tôi làm.

Những lần tra khảo đó đã bức bách tôi đến cực hạn, tính tôi vốn hay ngại và không nói năng lớn tiếng, nhưng nhờ chính niệm, tôi đã cảm thụ được Thần tích.

Một lần, họ liên tục thay đổi thủ đoạn để bắt tôi khai ra nơi lấy tài liệu chân tướng. Một số học viên khác cũng bị bắt vào thời điểm đó. Cảnh sát nói rằng những người khác đã chỉ điểm tôi, họ nói các đồng tu khác khai tôi là người đưa tài liệu chân tướng. Bị bức bách đến nhẫn không nổi nữa, tôi hét lên: “Tôi chỉ có hai câu. Hãy ghi lại cho tôi: ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo, Pháp Luân Đại Pháp là Chính Pháp!’”. Lúc đó, tôi cảm thấy toàn bộ căn phòng và toàn bộ các không gian khác đều bị chấn động. Hai nhân viên cảnh sát thẩm vấn tôi cũng bị sốc, hai chiếc máy tính họ dùng để ghi âm đột nhiên bị rơi xuống đất. Họ thẹn quá hóa giận, quay ra cãi nhau, buộc tội nhau năng lực làm việc yếu kém. Giám đốc trại tạm giam đến và quát mắng tôi. Tôi nghĩ tôi không phải là một tù nhân, mà là một đệ tử Đại Pháp, và tôi có tôn nghiêm của bản thân mình. Tôi ngoảnh đầu sang một bên không nghe. Một nữ cảnh sát nói: “Từ khi bắt cô đến giờ, tôi đã đối xử với cô như thế nào? Chỉ cần cô khai ra, tôi sẽ đảm bảo rằng cô có thể rời đi.” Tôi nói “Tôi biết cô ấy đã “chăm sóc” cho tôi. Nhưng cô không thể bảo hộ tôi. Sư phụ tôi mới có thể bảo hộ tôi. ”

Sau nửa tháng, luật sư nhân quyền của tôi đến. Anh gửi thư khiếu nại đến rất nhiều đơn vị liên quan tại thành phố nơi tôi bị giam. Sau khi thông tin của tôi được đưa lên mạng, nhiều đồng tu trong và ngoài nước đã gọi đến số điện thoại của cảnh sát, gọi nhiều đến muốn nổ điện thoại (chính cảnh sát nói như vậy). Cảm tạ Sư phụ, cảm tạ các đồng tu. Vào ngày 1/8, sau khi bị tạm giam một tháng, tôi được tại ngoại chờ xét xử. Khi rời đi, tôi đã rất phấn khích đến nỗi dường như đó là lần đầu tiên trong đời tôi không thể nói nên lời. Tôi đi được một quãng đường dài, cả hai lần ngoái lại đều thấy viên cảnh sát trưởng phụ trách bắt tôi vẫn dõi mắt theo tôi không rời. Tôi nghĩ trong lòng anh ta hẳn là không mấy dễ chịu. Anh ta đã từng nói nhiều lần rằng ngay cả khi tôi không nhận tội, anh ta vẫn có thể kết án tống tôi vào tù. Bản thân anh ta trước đây đã khiến mấy người không nhận tội nhưng vẫn bị kết án.

Khi bị bắt trong trại tạm giam, tôi đã giảng chân tướng cho những người xung quanh, và hai người trong số họ đã tam thoái. Sư phụ đã khích lệ tôi thông qua những giấc mơ của hai người họ.

Không lâu sau khi tôi vào trại giam, một nữ tù nhân đã mơ thấy bản thân cô ấy sẽ sớm được trả tự do, có rất nhiều người chúc mừng cô ấy ở bên ngoài trại giam. Cô ấy nói rằng cô ấy đã nhìn thấy tôi trong số những người ấy.

Vào ngày tôi ra tù (tôi không được biết trước), một tù nhân tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa và nói rằng cô ấy mơ thấy buổi chiều sẽ có hai người được thả chứ không phải một người (mọi người đều biết một tù nhân đã bị giam hơn một năm chiều hôm đó sẽ được thả và mọi người mừng cho cô ấy), một trong hai người sẽ được nam cảnh sát đưa đi. Giấc mơ rất chính xác, buổi chiều hai nam cảnh sát từng bắt tôi trước đó đã lái xe đến đón tôi ra.

Khi tôi về đến nhà, con gái nói với tôi rằng cháu biết tôi sẽ sớm về. Cháu kể, khi tôi bị công an bắt, cháu đã chạy đến quỳ xuống trước Pháp tượng của Sư phụ, cầu xin Sư phụ phù hộ cho mẹ sớm được về nhà. Sau đó, cháu hai lần nằm mơ thấy Sư phụ nói với cháu rằng mẹ sẽ sớm trở về.

Một chị đồng tu thường ở cùng tôi cũng hào hứng nói, chị ấy biết tôi sẽ sớm về, bởi vì trong mơ, Sư phụ đã nói với chị ấy là tôi sẽ về nhà sớm, còn nói tôi đã cứu được một cảnh sát. Tôi nghe xong lặng đi một hồi mới nhớ ra khi tôi bị giam, một cảnh sát thiện lương đã đến gặp tôi để tìm hiểu chân tướng Đại Pháp. Sau khi tôi nói chuyện với cô ấy một lúc, cô ấy rời đi, vừa đi vừa nói “Pháp Luân Công tốt thật!”, vậy hẳn là người cảnh sát hữu duyên này rồi. Tôi rất cảm động, trên con đường tu luyện, chỉ cần tôi có thể bước đi chính một chút, Sư phụ liền có thể bảo vệ tôi, an bài mọi việc cho tôi, triển hiện cho tôi rất nhiều Thần tích.

Tôi không mảy may oán hận cảnh sát, tôi biết họ đều là những người vô tri vì phải sống dưới sự áp bức và tẩy não của chính quyền tà đảng. Nơi tôi bị giam là một thành phố du lịch nổi tiếng nên việc tôi bị bắt rồi lại được thả đã gây chấn động không nhỏ, điều đó cũng khiến tà ác ở đó kinh sợ. Tôi nghe luật sư của mình nói rằng cảnh sát đã coi vụ bắt giữ tôi là một vụ án lớn và đã tiêu tốn rất nhiều tiền. Tôi nghĩ việc xấu đã hóa việc tốt, không ít người ở đó đã được biết chân tướng Đại Pháp.


————————————————– ———————————–

Khi tôi đến Mỹ Quốc, các đồng tu cho tôi tham gia vào các hoạt động giảng chân tướng, vạch trần bức hại. Khi bắt đầu hồi tưởng lại, lần nào tôi cũng nghẹn ngào rơi nước mắt, có lúc không nói nên lời. Một đồng tu người Tây phương đến tìm tôi, cô bảo cô nhất định phải nói với tôi rằng cô ấy đã hai lần nhìn thấy một vị Thần mặc áo trắng đứng cạnh tôi với đầy vẻ đau buồn. Cô ấy nói muốn ôm tôi. Tôi rất biết ơn đồng tu ấy. Hôm nay viết bài giao lưu này, tôi cũng có chút thương cảm. Tuy nhiên, mặc dù là như vậy nhưng tôi hy vọng rằng mình có thể chứng thực Đại Pháp và cả những điều thần thoại đó bằng nỗ lực của chính mình.

Dịch từ: http://big5.zhengjian.org/node/252596


Ngày đăng: 10-04-2021