Tác giả: Tiêu Phong
[ChanhKien.org]
Điệu múa “Nghênh xuân hoa khai” của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận triển hiện cảnh đẹp ngày xuân trăm hoa đua nở, vạn vật đổi mới, phồn vinh thịnh vượng.
Trong cảnh núi xanh nước biếc quây quanh, hoa dại tranh nhau đua nở tỏa ra hương thơm thấm vào người, những con bướm rực rỡ sắc màu bay lượn tự do qua lại giữa những bụi hoa. Một nhóm thiếu nữ trong độ tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống đang xoay tròn khăn Bát giác, lộ ra nét vui tươi tràn ngập, bừng bừng sức sống, hòa thành một thể với cảnh nền, triển hiện ra cảm giác tốt đẹp “trong tĩnh có động; trong động có tĩnh”, tựa như một cuộn tranh thiên nhiên mỹ lệ.
Các nghệ sĩ xoay chuyển những chiếc khăn màu cam trên tay, kèm theo âm nhạc vui tươi, nhảy múa những bước uyển chuyển, trình diễn cảnh tượng mùa xuân đã đến, trăm hoa nở rộ. Cách họ chuyển động khăn tay trong nhu có cương, tự nhiên trôi chảy, sôi nổi nhiệt tình, hoạt bát tự do. Thêm nữa, khăn tay xoay chuyển thì có lúc xoay ngang, có lúc xoay đứng, đã trình bày một cách rõ ràng tường tận cảm giác sống động của khăn tay, triển hiện ra cảnh tượng mùa xuân về khắp đất trời, trăm hoa đua nở, vạn vật hồi sinh.
Nhà bình luận nghệ thuật sân khấu Thạc sĩ Quách Tĩnh Tử đã tán thưởng rằng: Trong điệu múa “Nghênh xuân hoa khai”, mỗi nữ vũ công trẻ giống như nốt nhạc nhảy múa, trong sáng hoạt bát.
Cô Jennifer Fox, một vũ công ba lê đến từ Alberta, Canada, thích nhất điệu múa “Nghênh xuân hoa khai”, cô nói: “Tiết mục ngập tràn niềm vui, nhẹ nhàng thoải mái, không những biểu diễn chỉnh tề thống nhất, mà màu sắc trang phục cũng xinh đẹp rực rỡ. Cảnh nền ăn ý với chủ đề điệu múa, triển hiện cảnh đất trời vào xuân, vạn vật hồi sinh, thật là tràn đầy sức sống, vô cùng đẹp đẽ”.
Khăn tay là đạo cụ thường dùng trong loại hình hát múa tập thể dân gian Ương ca và trong thể loại hát múa hai người – Nhị nhân chuyển – vùng Đông Bắc cũng như Kinh kịch, còn có tên là Thủ phách công (kỹ thuật biểu diễn múa khăn). Kỹ thuật xoay chuyển khăn Bát giác là loại động tác kỹ thuật có độ khó rất cao, khi họ xoay khăn, một tay xoay ngang song song mặt đất (Bình chuyển), một tay xoay theo chiều đứng vuông góc mặt đất (Lập chuyển), độ khó của nó còn hơn cả việc dùng tay này vẽ hình tròn trong khi tay kia vẽ hình vuông. Khi xoay ngang còn có thể hai người đổi khăn cho nhau, còn có từ phía sau nhảy lên bắt khăn, cũng có lúc ném qua phải, đón bắt khăn của người khác từ bên trái, thật sự không dễ, xứng tầm tiêu chuẩn quốc tế. Hơn nữa các cô gái hoàn toàn không cần chú ý đến khăn Bát giác, mà một bên múa khăn, một bên không ngừng thực hiện những bước nhảy uyển chuyển, di chuyển đến một góc hay điểm nào đó cũng không một chút hao tâm tổn sức, trình độ thành thục đã đến mức tự do như ý.
“Nghênh xuân hoa khai” lấy điệu ương ca Đông Bắc làm nền, khăn tay màu cam, phối hợp cùng trang phục xanh lục nhạt tươi xinh, tượng trưng cho sự sống và hy vọng. Thông qua chuyển động sống động của khăn tay, làm nổi bật cái đẹp trăm hoa đua nở trong ngày xuân, theo đó nhấn mạnh thêm khung cảnh ngày xuân phồn vinh thịnh vượng, trăm hoa khoe sắc.
Ương ca mang phong cách sống động, nhiệt tình phóng khoáng, ấm áp, vui tươi, là hình thức ca múa dân gian có tính đại diện nhất. Dưới đây chúng ta hãy nói một chút về Ương ca.
Nguồn gốc của Ương ca
Ương ca có lịch sử xa xưa, là một loại hình vũ đạo dân gian phố biến nhất Trung Quốc, cũng là loại nghệ thuật ca múa tập thể độc nhất vô nhị với các động tác vũ đạo phong phú rực rỡ nổi bật trong những nơi tổ chức lễ hội dân gian, cũng vô cùng phổ biến khắp các nơi trên toàn quốc, là một hình thức nghệ thuật rất được yêu thích. Múa Ương ca ngoài phong cách đặc sắc vốn có, đội múa thường tập hợp từ mười thậm chí trăm người, hóa trang thành nhân vật trong các câu chuyện lịch sử, truyền thuyết thần thoại hoặc cuộc sống hiện thực vừa đi vừa múa theo nhịp trống, giỏi thay đổi đội hình, thêm vào là các động tác múa muôn màu muôn vẻ, nên nhận được sự đón nhận của đông đảo dân chúng.
Ương ca bắt nguồn từ cuộc sống lao động thường ngày, nó lại có quan hệ với Tụng ca (bài hát ca ngợi Thần) dùng trong lúc tế bái Thần nông nghiệp cầu mùa màng bội thu, và Nhương ca (bài hát xua tà tránh họa) dùng lúc cầu phúc trừ tai thời cổ đại, đồng thời trong quá trình phát triển không ngừng dung nạp hình thức và kỹ thuật của Nông ca (dân ca ngâm nga lúc làm nông), Lăng ca (một loại hình dân ca), võ thuật dân gian, tạp kỹ cũng như Hí khúc, như vậy từ ca hát thông thường, Ương ca phát triển thành ca múa dân gian. Đến đời Thanh, “Ương ca” đã lưu truyền rộng rãi khắp các nơi trên toàn quốc. Để phân biệt, người ta thường thêm vào trước Ương ca tên địa khu nào đó hoặc hình thức đặc trưng. Như “Cổ tử Ương ca” (Sơn Đông), “Thiểm Bắc Ương ca”, “Địa Ương ca” (Hà Bắc, Bắc Kinh, Liêu Ninh), “Mãn tộc Ương ca”, “Cao khiêu Ương ca”, v.v.; mà “Hoa cổ”, “Hoa đăng” và “Thải trà” ở miền Nam, cho tới “Anh ca” phổ biến ở Quảng Đông và Hồng Kông, tuy rằng tên gọi khác nhau, nhưng đều thuộc loại hình “Ương ca”, là những hình thức phái sinh từ Ương ca.
Đặc điểm của Ương ca
Múa Ương ca khi biểu diễn sinh động hoạt bát, hình thức đa dạng, muôn màu muôn vẻ, sôi động náo nhiệt, quy mô to lớn, khí thế ngút trời. Mỗi dịp lễ lớn, ví như lễ mừng năm mới, tổ chức đội Ương ca, gửi lời chúc mừng năm mới, chúc phúc lẫn nhau, ăn mừng ngày lễ. Ngoài ra, các thôn làng lân cận còn tự tổ chức đội Ương ca để thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, so ca thi múa.
Vũ đạo dân gian vùng Đông Bắc có Ương ca, Long đăng (múa đèn rồng), Hạn thuyền (múa thuyền trên cạn), Phác hồ điệp (múa bắt bướm), Nhị nhân suất giao (một người mang trên lưng đạo cụ thành như hai người biểu diễn đấu vật), Đả hoa côn (múa gậy hoa), Thải cao khiêu (đi cà kheo), Thiên tử vũ (múa quạt), Đăng vũ (múa đèn) v.v. Khi nhiều điệu múa cùng phối hợp biểu diễn thì gọi chung là “Ương ca”. Ương ca có giai điệu mượt mà và tiết tấu vui tươi nhanh gọn, cảnh tượng náo nhiệt, ngôn ngữ vũ đạo phong phú, dáng vẻ duyên dáng và phong cách biểu diễn linh động hoạt bát luôn được mọi người yêu thích.
Ương ca vùng Đông Bắc có lịch sử xa xưa, bắt nguồn từ cuộc sống lao động cày ruộng gieo mạ, có liên hệ với hoạt động tế lễ Thần nông nghiệp cầu mùa màng bội thu, cầu phúc thời xưa, phát triển đến ngày nay trở thành một loại hình ca múa dân gian được đông đảo quần chúng yêu thích.
Ương ca vùng Đông Bắc có hình thức hoạt bát dí dỏm, phong cách độc đáo, vùng đất đen màu mỡ rộng lớn nơi này đã ban cho nó tinh thần cùng phong thái chất phác mà hào sảng, kết hợp giữa tinh nghịch, khôi hài cùng nhàn nhã, điềm đạm với nhau để miêu tả sâu sắc tường tận tính cách chất phác nhiệt tình, có cương có nhu đặc trưng của người dân vùng Đông Bắc.
Mỗi dịp lễ lớn, người ta sẽ tự phát tổ chức biểu diễn và thi đua Ương ca. Trang phục của các đội Ương ca có màu sắc phong phú tươi đẹp, chủ yếu dựa theo trang phục của Hí kịch. Từ trang phục có thể phán đoán nhân vật sắm vai, có Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng trong “Tây Du Ký”, còn có Bao Chửng, Trần Thế Mỹ, Tần Hương Liên v.v., kèm theo là chiêng, trống, chũm chọe nhỏ, kèn bầu diện tấu những giai điệu vừa hát vừa múa nồng nhiệt mà vui vẻ, hài hước dễ chịu.
Cao khiêu (Cà kheo)
Cà kheo là một hình thức vũ đạo của Ương ca, vũ công buộc cà kheo dài bằng gỗ vào chân để biểu diễn, tính kỹ thuật cao và hình thức sinh động đa dạng, do diễn viên đứng trên cà kheo cao hơn người bình thường, tiện cho gần xa xem được, hơn nữa di chuyển thuận tiện không khác gì hoạt động sân khấu, vậy nên rất được quần chúng yêu thích.
Về nguồn gốc của cà kheo, có học giả cho rằng có liên quan với tín ngưỡng vật tổ của các thị tộc nguyên thủy và hoạt động đánh bắt cá của ngư dân duyên hải. Theo khảo chứng của các nhà lịch sử học, thị tộc Đan Chu thời Nghiêu Thuấn coi chim hạc là vật tổ, trong lễ tế của mình, họ đi cà kheo bắt chước chim hạc nhảy múa (xem “Thuyết Đan Chu” – Tôn Tác Vân); Các nhà khảo cổ học cho rằng, trong chữ cổ khắc trên mai rùa đã có chữ hình dạng giống như đi cà kheo nhảy múa (“Giáp cốt văn trung Thương đại vũ đạo” – Phương Khởi Đông). Hai điều này có thể đối chiếu chứng thực lẫn nhau.
Trong tài liệu cổ “Sơn Hải kinh” có ghi chép liên quan đến “Trường Cổ Quốc”, theo chú thích của người xưa, thấy rõ đi cà kheo dường như có liên quan đến “Trường Cổ Quốc”. Trong một chú thích ghi rằng “Người chân dài thường cõng người tay dài xuống biển bắt cá vậy”, chúng ta không khó để hình dung ra hình dáng người chân buộc cà kheo gỗ dài, tay cầm dụng cụ đánh bắt cá nguyên thủy làm bằng gỗ dài đang bắt cá trong vùng biển cạn. Điều khiến người ta cảm thấy hứng thú là, ngày nay ngư dân tộc Kinh cư trú tại vùng duyên hải Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây vẫn giữ phong tục đi cà kheo bằng gỗ dài thả lưới bắt cá trong vùng biển cạn.
Hầu hết các loại cà kheo được dùng để biểu diễn ngày nay đều làm bằng gỗ, phân thành Song khiêu (cà kheo đôi) và Đơn khiêu (cà kheo đơn). Song khiêu thường buộc cà kheo vào bắp chân để dễ thể hiện kỹ thuật; Đơn khiêu thì dùng hai chân giữ phần đỉnh gỗ của cà kheo, lên xuống dễ dàng, chuyển động hài hước. Biểu diễn cà kheo cũng chia thành “Văn khiêu” và “Võ khiêu”. Văn khiêu chủ yếu tập trung vào hóa trang thành các nhân vật và thực hiện các động tác nhún nhảy mua vui, trong khi Võ khiêu nhấn mạnh kỹ thuật cá nhân và các tuyệt kỹ. Cà kheo ở các vùng miền khác nhau đều đã hình thành phong cách vùng miền và màu sắc dân tộc riêng biệt. Ở Sơn Đông, cà kheo thường được xếp thành ba tầng (tầng thứ hai và thứ ba không có cà kheo) để đóng vai các nhân vật trong các vở hí kịch, người ở tầng trên sẽ đứng trên vai người ở tầng dưới đi trên cà kheo.
Tại khu vực Bắc Kinh – Thiên Tân, diễn viên cà kheo thường biểu diễn những kỹ thuật khó như “nhảy một chân”, “xoạc chân” và “vượt chướng ngại vật”; một số còn biểu diễn tuyệt kỹ nhảy xuống từ bốn chiếc bàn cao bằng một chân v.v..
Cà kheo phổ biến ở vùng Đông Bắc, nổi tiếng nhất phải kể đến “Liêu Nam cao khiêu”, nó có hình thức hoàn chỉnh và tiêu chuẩn biểu diễn riêng. Lúc bắt đầu, trước tiên phải “Đáp tượng” (tạo hình xếp chồng hai tầng, ý tứ là bắc hình con voi) và hát Ương ca, ngụ ý là “thái bình hữu tượng” (báo trước hiện tượng thái bình), sau đó chia thành các nhóm để biểu diễn múa hai người, “Múa bắt bướm”, “Múa ngư ông câu cá” cũng như diễn các vở kịch ngắn dân gian v.v.
Đối với các dân tộc thiểu số, các diễn viên đều mặc trang phục dân tộc mình, biểu diễn cà kheo theo phong cách riêng. Ví dụ, dân tộc Bố Y có cả Song khiêu và Đơn khiêu (còn gọi là Độc mộc khiêu), với hai tay giữ đầu cà kheo, dễ chế tạo; Độc mộc khiêu của họ đặc biệt được trẻ em yêu thích; Diễn viên biểu diễn “Cao khiêu sái mã” (cà kheo cưỡi ngựa) của Dân tộc Bạch cũng đi cà kheo gỗ, trên người mang đạo cụ hình ngựa. “Song nhân cao khiêu” của người Duy Ngô Nhĩ dung hợp với múa đôi dân gian, mang đến cho người xem một trải nghiệm mới mẻ.
Bên cạnh cà kheo thì múa rồng, múa lân và chạy thuyền trên cạn cũng là những hình thức phổ biến của vũ đạo Ương ca, đây đều là những điển hình về sự kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo và kỹ thuật. Các loại hình vũ đạo này sống động hoạt bát, kỹ thuật cao, tạo hình đẹp, thu hút đông đảo quần chúng, phù hợp với mọi lứa tuổi.