Tác giả: Lưu Hiểu

[ChanhKien.org]

Tranh Ngô chủ Tôn Quyền, một phần bức “Cổ đế vương đồ” của Diêm Lập Bản thời Đường. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Thời kỳ Tam Quốc, các anh hùng hào kiệt xuất hiện lớp lớp, nào là Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Tôn Quyền, Chu Du, Quan Vũ, Trương Phi… Chỉ trong vòng vài thập kỷ ngắn ngủi, họ đã tung hoành ngang dọc, cùng nhau diễn dịch nên một khúc tráng ca đầy lay động về “Trung nghĩa, Tín nghĩa, Nhân nghĩa, Ân nghĩa, Hiệp nghĩa”, để lại cho hậu thế niềm say mê và cảm thán vô tận. Trong số đó, Tôn Quyền — người từng được nhân vật mang hùng tâm thống nhất thiên hạ là Tào Tháo hết lời tán thưởng qua câu nói: “Sinh con nên sinh người như Tôn Trọng Mưu”. Mặc dù không được người đời sau xem trọng bằng Tào Tháo, Lưu Bị hay Gia Cát Lượng, nhưng những công trạng và thành tựu mà ông đạt được là điều không thể xem nhẹ.

Sử sách ghi lại, Tôn Quyền chấp chính suốt 52 năm, là nhân vật nắm quyền lâu nhất trong số các nhân vật lịch sử thời Tam Quốc. Trong thời gian tại vị, ông liên kết với Thục Hán ở phía Tây, kháng cự Tào Ngụy ở phía Bắc, bình định tộc Sơn Việt trong nội địa, khai phá vùng đất hoang vu Giang Nam. Ông cũng chính là vị Hoàng đế đầu tiên làm chủ vùng Giang Nam kể từ sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước. Ngoài ra, Đông Ngô sở hữu kỹ thuật hàng hải đứng đầu thế giới thời bấy giờ, có thể đi lên phía Bắc tới Liêu Đông, đi xuống phía Nam đến tận Đài Loan, đồng thời khai sáng việc Đại Lục đi thuyền tới Đài Loan, thiết lập mối liên hệ và giao lưu kinh tế, văn hóa với nơi này. Ở thời kỳ đỉnh cao, cương vực của Đông Ngô bao gồm từ phía Nam vùng trung hạ lưu Trường Giang cho đến tận Giao Chỉ (nay là miền Bắc Việt Nam), diện tích tương đương với nước Ngụy và lớn hơn rất nhiều so với Thục Hán. Nhìn từ những thành tựu đã đạt được này, Tôn Quyền hoàn toàn xứng đáng với lời khen ngợi năm xưa của Tào Tháo, cũng như xứng với câu từ “Tìm đâu bậc anh hùng, như thuở Tôn Trọng Mưu” của văn nhân thời Tống là Tân Khí Tật. Mà việc Đông Ngô có thể lớn mạnh như thế, vận nước tương đối lâu dài, không thể tách rời nghệ thuật tiến cử người hiền, bổ dụng người tài và xem trọng nhân tài như mạng sống của Tôn Quyền.

Lời trăng trối nhìn xa trông rộng của Tôn Sách

Tôn Quyền sinh năm Quang Hòa thứ năm thời Đông Hán (năm 182) tại Hạ Bì, Từ Châu (nay là Phi Châu, thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô). Cha của ông là Tôn Kiên, lúc bấy giờ đang giữ chức Huyện thừa Hạ Bì. Tôn Quyền còn có một người anh trai tên là Tôn Sách. Có thuyết nói rằng gia tộc của họ là hậu duệ của nhà quân sự Tôn Vũ thời Xuân Thu. Cuốn “Giang Biểu Truyện” chép rằng, Tôn Quyền từ khi sinh ra mắt đã có tinh quang, cằm vuông miệng rộng, tướng mạo kỳ vĩ, khác hẳn người thường. Ngoài ra, theo ghi chép trong “Sưu Thần Ký”, khi Ngô phu nhân mang thai Tôn Sách, bà nằm mơ thấy Mặt Trăng bay vào lòng; đến khi mang thai Tôn Quyền, bà lại mơ thấy Mặt Trời sa vào dạ. Tôn Kiên sau khi nghe phu nhân kể lại thì vui mừng khôn xiết, khẳng định rằng: “Mặt Trời và Mặt Trăng là tinh hoa của âm dương, là biểu tượng cho đại phú đại quý.”

Cuối thời Đông Hán, Tôn Kiên lúc bấy giờ đã được thăng chức làm Thái thú Trường Sa, dấy binh hưởng ứng liên quân Quan Đông thảo phạt Đổng Trác. Ông chuyển cả gia đình đến sinh sống tại huyện Thư thuộc quận Lư Giang (nay là phía Tây Nam huyện Lư Giang, tỉnh An Huy); Tôn Sách, Tôn Quyền cùng người mẹ là Ngô phu nhân đều đi theo. Tại nơi này, Tôn Sách đã gặp gỡ Chu Du — một người lỗi lạc phong lưu, tài hoa xuất chúng. Hai người tính khí hợp nhau, tình như anh em.

Năm 191, Tôn Kiên tuân lệnh Viên Thuật đi thảo phạt Thứ sử Kinh Châu là Lưu Biểu, không may tử trận. Năm 195, Tôn Sách dấy binh chinh chiến ở Giang Đông, hết lòng mời Chu Du về phò tá mình, Tôn Quyền cũng luôn đi theo bên cạnh. Lúc này, Tôn Quyền tuy chưa đầy 15 tuổi nhưng tính cách đã cởi mở, khoáng đạt, lại chuộng nghĩa hiệp, thích chiêu mộ và nuôi dưỡng môn khách, danh tiếng đã có thể sánh ngang với cha và anh. Ông còn thường xuyên tham gia vào việc bàn mưu tính kế trong quân của Tôn Sách, điều này khiến Tôn Sách không khỏi kinh ngạc. Mỗi khi mở tiệc chiêu đãi tân khách, Tôn Sách thường ngoảnh lại nhìn Tôn Quyền và nói: “Những người này, sau này đều sẽ là thuộc hạ của đệ.”

Chân dung Tôn Sách do họa sĩ thời Thanh vẽ. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Năm 196, Tôn Sách bổ nhiệm Tôn Quyền khi đó mới 15 tuổi làm Huyện trưởng Dương Xuyến (nay là Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô). Sau đó, Tôn Quyền được quận cử làm Hiếu liêm, được châu tỉnh tiến cử làm Mậu tài, rồi lại tạm giữ chức Phụng nghĩa Hiệu úy. Năm 199, Tôn Quyền theo Tôn Sách đi thảo phạt Thái thú Lư Giang là Lưu Huân. Sau khi Lưu Huân bại trận tháo chạy, quân đội lại tiến về Sa Xuyến để thảo phạt Thái thú Giang Hạ là Hoàng Tổ. Sau khi đánh bại một số thế lực cát cứ, Tôn Sách bắt đầu đứng vững chân tại Giang Đông. Cùng lúc đó, bên cạnh ông cũng đã tập hợp được một nhóm mưu sĩ trí dũng, lấy “Trương Chiêu người Bành Thành, Trương Hoành người Quảng Lăng, cùng Tần Tùng, Trần Đoan… làm mưu chủ”. Họ cùng bàn mưu tính kế nơi màn trướng, giúp cho vùng Giang Đông dưới quyền quản lý vận hành vô cùng thông suốt. Đặc biệt là hai người Trương Chiêu và Trương Hoành, công lao của họ trong các cuộc chinh chiến Giang Đông của Tôn Sách là không thể đong đếm, “Hoành cùng Trương Chiêu đều cùng tham mưu, thường lệnh cho một người trấn giữ phía sau, một người đi theo chinh phạt”.

Đúng vào lúc đại nghiệp sắp thành, năm Kiến An thứ năm (200), Tôn Sách bị thích khách ám sát qua đời. Trước lúc lâm chung, Tôn Sách nói với em trai là Tôn Quyền: “Về việc dựa vào lòng người ở Giang Đông, quyết đoán trong chiến trận, tranh hùng thiên hạ, đệ không bằng ta; nhưng về việc tiến cử hiền tài, dùng người đúng chỗ để ai nấy đều tận tâm tận lực, giữ vững cơ nghiệp Giang Đông, thì ta không bằng đệ”. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, nhận định của Tôn Sách quả thực chính xác.

Cử người hiền, dùng người tài, triển tài hoa

Khi Tôn Sách đột ngột qua đời, Tôn Quyền vừa tròn 18 tuổi đã phải lên tiếp quản ngôi vị, nhưng ông suốt ngày buồn bã khóc lóc, không thể xử lý chính sự. Trương Chiêu bèn nói với ông rằng: “Ngày nay thiên hạ đại loạn, sói dữ cản đường. Nếu chỉ biết đau buồn mà bỏ bê việc nước, thì chẳng khác nào mở toang cửa lớn rước cướp vào nhà, tất sẽ tự chuốc lấy tai họa.” Tôn Quyền cho lời ấy là rất phải, bèn nén đau thương, bắt đầu xử lý chính vụ, thị sát quân đội, giúp ổn định lòng dân và quân sĩ.

Sau khi lắng nghe ý kiến của các mưu thần, Tôn Quyền thi hành chính sách đối nội là “vỗ về, chiêu an các bộ tộc Sơn Việt; đối với những kẻ không chịu quy phục thì đem quân chinh phạt”, đồng thời dốc sức khai phá và phát triển vùng Giang Nam. Về đối ngoại, ông chủ trương không trực tiếp đối đầu với Tào Tháo, tiếp nhận các chức vị như Thảo Lỗ Tướng quân và Thái thú quận Cối Kê, nhằm tránh đối lập và xung đột trực diện. Trong việc dùng người, Tôn Quyền đối đãi với Trương Chiêu bằng lễ nghi dành cho bậc thầy; bổ nhiệm Chu Du, Trình Phổ và Lã Phạm làm các tướng lĩnh chủ chốt; đồng thời tích cực “chiêu mộ nhân tài mới và mời gọi các bậc danh sĩ ra giúp nước”.

Trên phương diện dùng người, Tôn Quyền có một câu danh ngôn nổi tiếng: “Quý kỳ sở trường, vong kỳ sở đoản”, tạm dịch là trân trọng sở trường, bỏ qua sở đoản. Ông cho rằng bên cạnh việc tán thưởng những điểm mạnh của người khác, cũng cần phải có lượng bao dung để cảm thông cho những khuyết điểm của họ, nếu không sẽ dễ sa vào việc phê bình vô bổ, thậm chí là khơi mào tai vạ. Việc ông trọng dụng Lỗ Túc — người từng bị Trương Chiêu đánh giá là “tuổi trẻ còn nông nổi, thiếu chín chắn” — và Lã Mông — người có xuất thân bần hàn — chính là minh chứng cụ thể cho tư tưởng này.

Tôn Quyền không chỉ tiến cử người hiền, bổ dụng người tài, biết nhìn người và giỏi dùng người, mà một khi đã dùng ai thì sẽ tuyệt đối không nghi ngờ. Chẳng hạn như Gia Cát Cẩn — anh trai của Gia Cát Lượng — chuyển đến sống ở Giang Đông vào cuối thời nhà Hán và được Tôn Quyền hết sức trọng dụng, làm quan đến chức Thái thú Nam Quận, Đại tướng quân. Vào thời điểm ngay trước khi trận Di Lăng giữa Ngô và Thục nổ ra, ông từng viết một bức thư gửi cho Lưu Bị nhằm cố gắng ngăn chặn sự đổ vỡ của liên minh Ngô – Thục. Có kẻ đã mật báo việc này với Tôn Quyền, vu cáo rằng Gia Cát Cẩn thông đồng với quân địch. Tôn Quyền hoàn toàn không tin, lại còn nói rằng: “Cô cùng Tử Du (Gia Cát Cẩn) có lời thề tử sinh không đổi. Tử Du không phụ Cô, cũng giống như Cô không phụ Tử Du vậy”.

Đông Ngô có một số vị lão tướng từng theo phò tá Tôn Kiên, Tôn Sách năm xưa, tuy nhiên họ lại thuộc tuýp người trung dũng thì thừa thãi nhưng mưu lược lại không đủ. Chính vì vậy, Tôn Quyền đã đề bạt một vài tướng lĩnh trẻ tuổi. Trong việc làm thế nào để các lão tướng tâm phục khẩu phục những vị tướng trẻ này, Tôn Quyền cũng rất có phương pháp. Có một lần, Tôn Quyền cử Chu Thái — một người có xuất thân từ gia đình bần hàn — đến trấn thủ Nhu Tu Ổ, còn hai vị lão tướng là Chu Nhiên và Từ Thịnh thì đảm nhận chức vụ phó thủ (người trợ giúp). Tôn Quyền biết rõ Chu Nhiên và Từ Thịnh nhất định sẽ không phục, do đó đã lấy danh nghĩa đi thị sát để đến Nhu Tu Ổ. Tại bàn tiệc, ông bảo Chu Thái cởi bỏ y phục, chỉ thấy trên người Chu Thái chằng chịt những vết sẹo do thương tích, hầu như có thể dùng cụm từ “mình đầy thương tích” để mô tả. “Vết thương này của Chu tướng quân là do đâu mà có?”, “Vết thương này của Chu tướng quân là ở nơi nào?”, “Vết thương này của Chu tướng quân lại bị chém trong chiến dịch nào?”. Theo từng lời hỏi đáp giữa Tôn Quyền và Chu Thái, ai nấy đều kinh hãi. Tôn Quyền vuốt ve cánh tay của Chu Thái và nói: “Tướng quân! Ta và khanh tình thân như huynh đệ, tướng quân trên chiến trường vì họ Tôn ta mà chẳng màng tính mạng, đến mức chịu nhiều thương tích thế này, hỏi họ Tôn ta sao có thể không biết ơn báo đáp, giao phó trọng trách cho tướng quân cơ chứ?”. Chu Nhiên và Từ Thịnh ngồi bên cạnh nghe đến mức trợn mặt há mồm, từ đó về sau không bao giờ dám có thái độ bất kính với Chu Thái nữa.

Và Chu Thái quả nhiên đã không phụ trọng trách. Tào Tháo dẫn 40 vạn đại quân tiến đánh Nhu Tu Khẩu, nhưng sau vài lần giao tranh đều không chiếm được chút lợi thế nào. Khi Tào Tháo đứng từ xa nhìn ngắm đội hình quân đội và chiến thuyền của Đông Ngô, ông không khỏi tán thưởng kỷ luật quân đội nghiêm minh, quân dung chỉnh tề nơi đây, liền bùi ngùi than rằng: “Sinh con nên sinh người như Tôn Trọng Mưu, chứ còn con của Lưu Cảnh Thăng thì chẳng khác nào lũ lợn chó!” Nói rồi, ông hạ lệnh lui quân.

Chính vì Tôn Quyền có mắt nhìn người, lại giỏi dùng người và tuyệt đối không nghi ngờ người mình đã dùng, nên xung quanh ông luôn có vô số tài năng, tập hợp được biết bao mưu sĩ hiền thần và đại tướng. Về văn có Trương Chiêu, Trương Hoành, Cố Ung, Thị Nghi, Trương Ôn, Khám Trạch, Ngu Phiên, Triệu Tư, Gia Cát Cẩn… Về võ có Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, Cam Ninh, Lăng Thống, Từ Thịnh, Hạ Tề, Chu Thái, Thái Sử Từ… và đặc biệt là bộ tứ kiệt Giang Đông lẫy lừng danh tiếng: Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông, Lục Tốn. Nếu so với một Tào Tháo sở hữu mưu sĩ như mây, mãnh tướng như mưa, thì Tôn Quyền cũng chẳng hề kém cạnh. Và cũng chính nhờ vậy, Đông Ngô mới có thể duy trì được một trạng thái chính trị trong sạch, đất nước giàu mạnh, nhân dân ấm no.

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/b5/16/5/5/n7806323.htm