Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Hoàng đế Khang Hy từng khắc ghi ba đại sự lên cột cung đình — gồm dẹp loạn Tam Phiên, trị thủy Hoàng Hà (Hà vụ) và vận tải đường sông (Tào vận), để ngày đêm tự nhắc nhở bản thân phải dốc sức trị quốc, trước sau như một. Trong hình là Hoàng đế Khang Hy, vị đế vương khai mở thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Hình: The Epoch Times chế tác)

Thời niên thiếu, Hoàng đế Khang Hy, bằng trí tuệ và bản lĩnh xuất chúng, đã thanh trừ quyền thần Ngao Bái, chỉnh đốn triều cương, chính thức nắm giữ quyền lực tối cao trong thiên hạ. Đồng thời, ông còn dốc lòng nghiên cứu Nho học truyền thống và đạo trị quốc với nghị lực phi thường của bậc đế vương, từ đó tôi luyện nên tầm nhìn sáng suốt cùng học vấn uyên thâm. Giờ đây, trên cương vị của một bậc chân mệnh thiên tử, Hoàng đế Khang Hy đã có thể phóng tầm mắt nhìn khắp giang sơn vô hạn của Trung Hoa, vạch ra con đường cho một thời đại thái bình thịnh trị và đế quốc hùng cường của ông.

Vậy điều gì mới là mối bận tâm hàng đầu về quốc sự của vị thiên tử trẻ tuổi? Qua mấy năm lắng nghe việc triều chính và không ngừng học hỏi, Hoàng đế Khang Hy đã nhận thức rõ những vấn đề cấp bách cần được giải quyết trong triều đình nhà Thanh. Vì vậy, ông đã khắc ghi 3 đại sự lên cột cung đình — gồm dẹp loạn Tam Phiên, trị thủy Hoàng Hà (Hà vụ) và vận tải đường sông (Tào vận), ngày đêm tự nhắc nhở bản thân phải dốc sức trị quốc, trước sau như một. Trong đó, dẹp loạn Tam Phiên chính là trọng điểm cốt lõi của mọi đại sự.

Loạn Tam Phiên

“Ngô Tam Quế và những kẻ như ông ta không thể sánh với các công thần khai quốc thời nhà Tống, mà thực chất là thế lực cát cứ của các Phiên trấn thời nhà Đường.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: “Ngô Tam Quế đẳng phi Tống công thần khả tỷ, nãi Đường phiên trấn chi lưu.” — “Khang Hy Triều Thực Lục”)

Chân dung Ngô Tam Quế (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Tam Phiên là ba vị phiên vương người Hán được phong vào thời đầu khai quốc của nhà Thanh, bao gồm: Bình Tây vương Ngô Tam Quế, Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ và Tĩnh Nam vương Cảnh Tinh Trung. Chỉ từ tước hiệu cũng đủ thấy ba vị phiên vương này là những thế lực cát cứ hùng mạnh, nắm giữ vùng Tây Nam. Họ đều là những đại tướng cuối thời Minh đã quy thuận triều Thanh.

Năm Sùng Trinh thứ 17 (năm 1644), Sùng Trinh Đế thắt cổ mà chết. Trên lãnh thổ Trung Hoa vẫn còn tồn tại chính quyền Đại Thuận của Lý Tự Thành, chính quyền Đại Tây của Trương Hiến Trung, cùng triều Nam Minh do tông thất nhà Minh và các văn thần, võ tướng vượt xuống phương Nam gây dựng. Để tiến vào Trung Nguyên và thống nhất Trung Hoa, nhà Thanh cần mượn sức mạnh của các tướng lĩnh hàng Thanh này, vì vậy, triều đình Thanh đã trọng thưởng và gia phong hậu hĩnh cho họ, biểu thị sự ân sủng.

Năm Sùng Đức thứ nhất (năm 1636), sau khi Hoàng Thái Cực xưng đế, phong Khổng Hữu Đức, Cảnh Trọng Minh (con là Cảnh Kế Mậu, cháu là Cảnh Tinh Trung kế vị) và Thượng Khả Hỷ làm vương, mở ra tiền lệ phong vương cho các tướng Hán quy thuận. Đến năm Sùng Trinh thứ 17 (năm 1644), sau khi Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh nhập quan, ông cũng được phong vương.

Bốn vị vương theo quân Thanh xuống phía Nam, bình định các thế lực phản Thanh, lập nhiều chiến công và hưởng lộc cao chức trọng. Cuối cùng, Ngô Tam Quế, Thượng Khả Hỷ và Cảnh Tinh Trung lần lượt trấn giữ các vùng biên cương của triều Thanh tại Vân Nam, Quảng Đông và Phúc Kiến, nắm quyền cai trị một phương. Theo thời gian, 3 phiên vương này ngày càng dựa vào binh lực trong tay để củng cố địa vị, quyền thế không ngừng gia tăng, dần hình thành thế lực quá lớn, khó kiểm soát và khó bề kiềm chế (vượt ngoài tầm kiểm soát của triều đình).

Trước hết là áp lực và đe dọa về quân sự. Sử liệu ghi chép, quân số của Cảnh và Thượng “mỗi bên có 2 vạn quân”, riêng Ngô Tam Quế nhờ chinh chiến bốn phương, đã tuyển mộ các binh lính tinh nhuệ từ nhiều vùng miền, tổng cộng hơn 5 vạn quân. Binh lực hùng hậu của Tam Phiên không chỉ là ẩn họa đối với sự thống nhất quốc gia, mà khoản lương quân sự khổng lồ cũng trở thành gánh nặng lớn cho ngân khố. Chỉ riêng bổng lộc và quân lương của tỉnh Vân Nam một năm đã lên tới hơn 9 triệu quan tiền, dẫn đến cục diện: “Tài phú thiên hạ, phân nửa tiêu hao cho Tam Phiên”.

Về mặt chính trị, quyền lực của Tam Phiên đứng trên cả triều đình và quan lại các cấp địa phương. Thời đầu nhà Thanh, triều đình chia cả nước thành 18 tỉnh, mỗi tỉnh đặt một chức Tuần phủ, cứ 2 hoặc 3 tỉnh đặt một chức Tổng đốc để phụ trách quân sự, chính sự. Tuy nhiên, các vùng đất biên thùy thuộc quyền cai quản của các phiên vương là ngoại lệ. Điển hình như Ngô Tam Quế, ông ta quản lý toàn bộ sự vụ lớn nhỏ của 2 tỉnh Vân Nam – Quý Châu, quan lại các bộ trong ngoài triều đình không được phép gây cản trở hay can thiệp. Đến năm Khang Hy thứ 2 (năm 1663), Ngô Tam Quế thậm chí còn xin chỉ dụ, yêu cầu ghi bốn chữ “thính Vương tiết chế” (chịu sự điều hành của Vương) vào chiếu thư bổ nhiệm Đốc phủ Vân Nam – Quý Châu. Thêm vào đó, ông ta còn thâu tóm đại quyền bổ nhiệm quan chức, thường xuyên tuyển chọn thuộc hạ thân tín để đưa đến nhậm chức tại các tỉnh khác, gọi là “Tây tuyển”, dẫn đến trong thiên hạ lưu truyền câu nói “quan chức Tây tuyển khắp thiên hạ”.

Về mặt kinh tế, Ngô Tam Quế lại càng tận dụng triệt để mọi thủ đoạn vơ vét: chiếm dụng cựu cung Ngũ Hoa Sơn của hoàng đế Nam Minh làm phủ phiên vương, trang trí xa hoa; thu giữ toàn bộ 700 khoảnh trang viên của nhà họ Mộc thời tiền triều để biến thành phiên trang; mượn danh nghĩa tu sửa thành quách, kênh rạch để vơ vét tiền của, tùy ý khoanh chiếm đất đai, khôi phục các loại sưu cao thuế nặng từ cuối thời Minh.

Đồng thời, Ngô Tam Quế còn mở cửa giao thương với Tây Tạng, Mông Cổ, mỗi năm thu về vô số ngựa chiến tinh nhuệ. Con trai ông ta là Ngô Ứng Hùng với thân phận Phò mã ở lại triều đình làm con tin, thường xuyên báo tin mật ở kinh sư về cho cha. Suốt hơn mười năm, Ngô Tam Quế ngày đêm thao luyện binh mã, ra sức bồi đắp vây cánh trong cả nước, lộ rõ dã tâm bừng bừng. Hai vị vương còn lại tuy thực lực không hùng hậu bằng Ngô Tam Quế, nhưng cũng độc chiếm đại quyền quân sự, chính trị, dùng sưu cao thuế nặng và bạo chính để lũng đoạn địa phương, sức ảnh hưởng thậm chí còn vượt xa sự chuyên quyền của Ngao Bái nơi triều đình.

Chính vì vậy, hoàng đế Khang Hy thuở thiếu thời luôn coi Tam Phiên là mối họa tiềm ẩn lớn nhất đối với giang sơn nhà Thanh. Giữa lúc ba vị phiên vương đang ra sức vơ vét của cải và thao túng chính sự, hoàng đế Khang Hy cũng đang âm thầm tính toán đại kế Triệt Phiên (xóa bỏ các phiên vương).

Biến giả thành thật

“Khi Trẫm còn trẻ, nhận thấy quyền thế của Tam Phiên ngày một bành trướng, không thể không triệt bỏ.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: “Trẫm tự thiếu thời, dĩ Tam Phiên thế diễm nhật xí, bất khả bất triệt.” — “Khang Hy Triều Thực Lục”)

Một phần bức họa “Thanh niên Khang Hy xuất thú đồ” (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Kể từ khi Tần Thủy Hoàng bãi bỏ chế độ chế độ phong đất cho chư hầu, thiết lập quận huyện, quân thần các triều đại trong lịch sử Trung Hoa đều coi thế lực phiên vương cát cứ là mối đe dọa đối với sự thống nhất của đế nghiệp. Lịch sử cũng đã ghi nhận những biện pháp nhằm loại bỏ nguy cơ binh biến từ các phiên trấn như: chính sách “thôi ân” của Hán Vũ Đế hay việc Tống Thái Tổ dùng “chén rượu tước binh quyền” để thu hồi quyền lực quân sự. Triều Thanh, trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, đã thiết lập 3 phiên vương. Mặc dù họ từng có công trong sự nghiệp thống nhất của nhà Thanh, nhưng khi các thế lực này trở thành mối đe dọa đối với quốc gia, việc bãi bỏ phiên vương đã trở thành điều không thể tránh khỏi.

Ngay từ thời kỳ phụ chính, triều đình đã bắt đầu từng bước tước giảm quyền lực của 3 vị phiên vương, đứng đầu là Ngô Tam Quế. Năm Khang Hy thứ 2 (năm 1663), Hoàng đế Khang Hy thu hồi ấn đại tướng quân mà Ngô Tam Quế từng được ban tặng dưới thời Thuận Trị để chỉ huy chiến dịch chinh phạt Vân Nam và Quý Châu. Tiếp đó, Ông hạ chiếu cắt giảm quân số của các phiên vương, giảm hơn một triệu lượng lương bổng và quân phí; triều đình cũng nghiêm cấm các vương công, tổng đốc, tuần phủ và các quan lại khác, cũng như những gian thương dựa vào quyền thế của phiên vương để trục lợi; đồng thời lệnh cho các tổng đốc, tuần phủ và quan chức liên quan trực tiếp quản lý mọi công việc tại khu vực Vân Nam và Quý Châu.

Quyền lực của Tam Phiên từng bước bị thu hẹp, nhưng hành động triệt phiên thực sự chỉ bắt đầu vào đầu năm Khang Hy thứ 12 (năm 1673). Khi kinh thành vẫn còn đang trong cái se lạnh của mùa xuân, một bản tấu chương mang tên Thượng Khả Hỷ gửi về từ Lĩnh Nam đã khơi nên một cuộc thảo luận sôi nổi trong triều đình. Thượng Khả Hỷ khi đó đã gần 70 tuổi, ông lấy lý do tuổi cao sức yếu, dâng tấu xin Hoàng đế Khang Hy cho phép mình dẫn theo hơn 2 vạn quan binh cùng thân quyến già trẻ trở về quê hương Liêu Đông để an hưởng tuổi già. Tước vị phiên vương của ông sẽ do con trai là Thượng Chi Tín kế vị.

Bản tấu của Thượng Khả Hỷ hoàn toàn phù hợp với kế hoạch triệt phiên của triều đình. Hoàng đế Khang Hy rất hài lòng và triệu tập các đại thần nghị chính để bàn thảo, song đa số đều phản đối việc triệt phiên. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Hoàng đế Khang Hy cho rằng: “Tam Phiên nắm giữ binh quyền, nếu để kéo dài e rằng sẽ sinh ra tai họa, xảy ra những sự tình không ngờ tới”. Vì vậy, Hoàng đế đã kiên quyết đưa ra quyết định bãi bỏ các phiên vương.

Trong chiếu thư phúc đáp Thượng Khả Hỷ, Hoàng đế Khang Hy đã khen ngợi Thượng Khả Hỷ rằng: “Việc ông muốn về Liêu Đông dưỡng già, lời lẽ chân thành khẩn thiết, cho thấy thái độ cung kính thận trọng, biết nhìn đại cục”. Đồng thời, ngoại trừ hai doanh binh “Lục Kỳ” (quân đội người Hán) được giữ lại Quảng Đông, toàn bộ thân quyến và tướng lĩnh của Thượng Khả Hỷ đều theo ông dời về Liêu Đông. Cũng chính là nói Khang Hy Đế lần đầu tiên thực hiện kế hoạch triệt phiên tại Quảng Đông.

Thượng Khả Hỷ tuổi đã cao nên chấp nhận thực tế bị bãi bỏ phiên vương. Tuy nhiên, động thái này của Hoàng đế Khang Hy lại gây sóng to gió lớn với 2 phiên vương còn lại. Vì chuyện đó, Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung ăn ngủ không yên. Bảo họ từ bỏ tước vị vương gia thì dĩ nhiên không cam tâm, nhưng nếu không có động thái gì, họ lại lo sẽ khiến triều đình thêm nghi ngờ. Đặc biệt là Ngô Tam Quế, năm xưa từng có người viết huyết thư xúi giục ông mưu phản, lại cố ý làm cho sự việc lan truyền khắp nơi, gây chấn động dư luận. Vì thế, triều đình cũng nghi ngờ Ngô Tam Quế nhiều nhất. Cuối cùng, 2 vị vương này đã cho ngựa chiến phi nước đại, lần lượt dâng tấu xin bãi bỏ phiên vương. Ý đồ của họ là đánh cược rằng Hoàng đế Khang Hy chắc chắn sẽ hạ chiếu an ủi và giữ họ lại, từ đó họ có thể tiếp tục trấn giữ biên cương lâu dài như gia tộc họ Mộc dưới thời nhà Minh.

Tuy nhiên, họ đã lầm. Tam Phiên tuy hùng mạnh, nhưng đối mặt với họ lại là Hoàng đế Khang Hy, một vị quân vương tài trí mưu lược kiệt xuất. Trước khi Ngô Tam Quế dâng tấu, mưu sĩ của ông đã ra sức ngăn cản: “Hoàng đế từ lâu đã muốn bãi bỏ phiên vương của ngài, chỉ là khó mở lời. Nay Vương gia tự mình dâng tấu, chẳng khác nào tạo cơ hội để bị triệt hạ ngay lập tức”. Thế nhưng Ngô Tam Quế vẫn ôm mộng tưởng nên không nghe theo. Quả nhiên, sau khi nhận được tấu chương, Hoàng đế Khang Hy đã tương kế tựu kế, lập tức hạ chiếu “ca ngợi” hành động của 2 phiên vương, đồng thời cử quan viên đến xử lý các công việc liên quan đến việc triệt phiên.

Có thể tưởng tượng được rằng, khi Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung nhận được tin triệt phiên từ triều đình, họ hẳn vừa kinh hãi vừa tức giận, lại thêm vạn phần hối hận vì đã “chữa tốt thành xấu”. Riêng Ngô Tam Quế, một mặt vừa cố tình trì hoãn không chịu rút khỏi lãnh địa của mình, mặt khác lại âm thầm lên kế hoạch dấy binh tạo phản.

Biến loạn khởi phát ở biên cương phía Nam

“Ngô Tam Quế và những kẻ đó đã mưu tính từ lâu, nếu không sớm trừ bỏ sẽ để lại hậu họa khôn lường. Nay triệt phiên chúng cũng phản, không triệt phiên chúng cũng phản; chi bằng ra tay trước để giành thế chủ động.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: “Tam Quế đẳng súc mưu cửu, bất tảo trừ chi, tương dưỡng ung thành hoạn. Kim nhật triệt diệc phản, bất triệt diệc phản, bất nhược tiên phát.” — “Thanh Sử Cảo”)

Ngô Tam Quế dấy binh làm loạn, Hoàng đế Khang Hy quyết định xuất quân dẹp phản, quét sạch lực lượng nổi dậy trong thiên hạ. Ảnh minh họa: Một phần bức tranh “Khang Hy thú liệp đồ” do họa sĩ người Ý Giuseppe Castiglione (Lang Thế Ninh) vẽ thời nhà Thanh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Quốc lập Đài Bắc. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Trước khi chính thức hạ chiếu bãi bỏ phiên vương, Hoàng đế Khang Hy đã triệu tập quần thần để bàn bạc về vấn đề này. Khi đó, chỉ có Hộ bộ Thượng thư Mễ Tư Hàn, Hình bộ Thượng thư Mạc Lạc và Binh bộ Thượng thư Minh Châu là số ít quan viên tán thành việc bãi bỏ Tam Phiên; đại đa số bá quan vì khiếp sợ uy thế của Tam Phiên nên đều chọn cách im lặng. Thực tế, dù các đại thần có tán thành hay phản đối, giữa họ và Hoàng đế Khang Hy đều có chung một nhận định: các phiên vương rất có thể sẽ dấy binh tạo phản vì quyết định này. Chỉ có điều, vị thiên tử trẻ tuổi Khang Hy đã quyết định dốc toàn lực đánh cược một phen, quyết nhổ tận gốc khối u ác tính mang tên Tam Phiên.

Ngay sau đó là chặng đường dẹp loạn kéo dài suốt 8 năm trong lịch sử nhà Thanh. Ngày 21 tháng Chạp năm Khang Hy thứ 12 (năm 1673), khi ngày Tết đã cận kề, vị quan được triều đình phái đến Vân Nam bất chấp giá rét, ngày đêm thúc ngựa, vượt đường xa cấp tốc hồi kinh. Ông mang theo một tin tức đủ làm rung chuyển triều Thanh: Ngô Tam Quế đã chính thức khởi binh tạo phản!

Sự việc cụ thể diễn ra như sau: Ngô Tam Quế nhận được chỉ dụ triệt phiên vào tháng 9; đến cuối tháng 11, ông ta lập tức điều động phiên binh dưới trướng, sát hại Tuần phủ Vân Nam Chu Quốc Trị — vì đã kịch liệt từ chối phản Thanh, đồng thời bắt giữ sứ thần tuyên chỉ. Ngô Tam Quế tự phong làm “Thiên hạ Đô chiêu thảo Binh mã Đại nguyên soái”, ban bố bản “Hịch phản Thanh” với những lời lẽ đường hoàng hòng ngụy biện cho hành vi hàng Thanh năm xưa của mình. Ngay sau đó, ông ta phất cao ngọn cờ “Phản Thanh phục Minh”, dấy binh tạo phản.

Chưa đầy một tháng sau, quân đội của Ngô Tam Quế đã chiếm toàn bộ tỉnh Quý Châu. Ông ta gửi thư thúc giục hai vương Cảnh Tinh Trung và Thượng Khả Hỷ cùng tham gia mưu phản, đồng thời liên kết với các thế lực phản Thanh khác như Tôn Diên Linh ở Quảng Tây và chính quyền Minh Trịnh ở Đài Loan. Trong một thời gian ngắn, thanh thế của quân phản loạn trở nên vô cùng lớn mạnh, khí thế hung hăng, nhanh chóng hướng mũi tiến công đến các khu vực như Tứ Xuyên và Hồ Nam.

Lúc bấy giờ, trong triều đình rơi vào tình trạng hỗn loạn. Các đại thần liên tiếp dâng tấu yêu cầu trừng phạt những quan viên từng chủ trương triệt phiên để xoa dịu phản quân — tương tự như việc Hán Cảnh Đế năm xưa xử tử Triều Thác để dập tắt Loạn Thất Quốc. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy không hề nhượng bộ trước quân phản loạn, ông khẳng định: “Lẽ nào chỉ vì Ngô Tam Quế phản loạn mà lại đổ mọi sai lầm lên đầu các đại thần hay sao?”

Khí độ của một bậc đế vương dám gánh vác trách nhiệm như vậy không chỉ cứu những trung thần một lòng can gián quân chủ, mà còn củng cố niềm tin để văn võ bá quan đồng lòng chống lại quân phản loạn. Hoàng đế Khang Hy quyết định xuất binh dẹp loạn, quét sạch lực lượng phản nghịch trong thiên hạ. Từ năm Khang Hy thứ 13 đến năm thứ 15 (năm 1674–1676), chiến dịch bình định chủ yếu ở giai đoạn phòng thủ. Hoàng đế Khang Hy chủ trương tập trung chiến trường tại các khu vực Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam và Hồ Bắc, vì vậy ông liên tục tăng cường quân đội đến các vị trí trọng yếu nhằm ngăn chặn bước tiến công của quân phản loạn.

Ban đầu, cục diện chiến trận không mấy lạc quan. Quan binh ở Tứ Xuyên đầu hàng Ngô Tam Quế khiến tỉnh này thất thủ, từ đó uy hiếp trực tiếp đến Thiểm Tây và Hồ Bắc. Tại vùng Hồ Nam và Hồ Bắc, quân Ngô tiếp tục đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Hành Châu, Nhạc Châu, Trường Sa và nhiều nơi khác. Cùng lúc đó, Cảnh Tinh Trung cũng khởi binh nổi loạn, chiếm cứ Phúc Kiến, rồi tiến công chiếm đóng vùng Nam Chiết Giang. Trong thời gian ngắn, nhà Thanh liên tiếp mất đi 6 tỉnh gồm Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Phúc Kiến cùng phần lớn Chiết Giang và Giang Tây; phân nửa giang sơn đã rơi vào tay Ngô Tam Quế. Dẫu vậy, Hoàng đế Khang Hy vẫn giữ thái độ bình tĩnh, không hề hoảng loạn, tiếp tục điều động thêm binh mã tiến xuống phía Nam chi viện, giữ thế giằng co với quân phản loạn tại vùng Giang Nam và Quảng Đông.

Lúc này, Ngô Tam Quế nảy sinh ý định nghị hòa. Vào tháng 4 năm Khang Hy thứ 13, ông ta thả các sứ thần bị giam giữ, với hy vọng đạt được thỏa thuận phân chia lãnh thổ với triều Thanh, để hai bên chia đất cai trị một Nam một Bắc. Thế nhưng, quyết tâm dẹp yên Tam Phiên của Hoàng đế Khang Hy vô cùng kiên định. Ông có thể dùng biện pháp chinh phạt hay chiêu hàng, nhưng tuyệt đối không chấp nhận cắt đất cầu an, không để vương triều đại nhất thống mà các bậc tiền nhân phải gian khổ gây dựng rơi vào cảnh chia năm xẻ bảy. Ông tiếp thu kiến nghị của các đại thần nghị chính, hạ lệnh xử tử Ngô Ứng Hùng cùng con trưởng của hắn. Từ đó, mộng tưởng chia cắt giang sơn, xưng hùng xưng bá của Ngô Tam Quế bị đập tan hoàn toàn, trong khi niềm tin bình loạn của quân thần và bá tánh lại càng thêm kiên định.

Thời gian đầu, thực lực của quân Thanh mới chỉ đủ để cầm cự với quân phản loạn chứ chưa thể tiến công, do binh lực các lộ bị phân tán khắp các chiến trường, không thể phối hợp và hỗ trợ với nhau. Trong khi đó, Ngô Tam Quế lại tập trung đại quân ở Nhạc Châu, chờ thời cơ tiến quân ra phía bắc hoặc đánh sang phía đông. Vì vậy, bắt đầu từ tháng 6 năm Khang Hy thứ 13, Hoàng đế Khang Hy tiếp tục tăng cường lực lượng, cử thêm 5 vị tông thất Đại tướng quân chỉ huy quân đội, lần lượt trấn giữ Nhạc Châu, Chiết Giang, Tứ Xuyên (trên thực tế chỉ tiến đến Thiểm Tây), Giang Nam và Quảng Đông. Cộng với vị Đại tướng quân đã đóng quân tại Kinh Châu trước đó, triều đình hình thành 6 chiến trường lớn. Mỗi cánh quân đều do một Thân vương hoặc Bối lặc đảm nhiệm chức Đại tướng quân, thống lĩnh tinh binh Bát Kỳ, đồng thời kiêm quản chỉ huy quan binh địa phương, tạo thành một đội vương sư (quân đội của vương) với đội hình vô cùng hùng hậu. Sự bố trí chiến lược này của Hoàng đế Khang Hy đã nâng cao vượt bậc năng lực tác chiến và khả năng ứng biến của quân đội nhà Thanh.

Cuối năm Khang Hy thứ 13, Đề đốc Thiểm Tây Vương Phụ Thần làm phản, chiếm đóng vùng đông Cam Túc và bắc Thiểm Tây. Sang năm sau, cánh quân Thanh vốn định tiến vào Tứ Xuyên đã chuyển hướng sang chinh phạt Vương Phụ Thần, nửa năm sau giành được đại thắng, vùng Tây Bắc nhờ vậy được bình định. Sau đó, Hoàng đế Khang Hy áp dụng chiến lược kết hợp giữa trấn áp và chiêu dụ, thành công chiêu hàng hai cánh quân của Cảnh và Thượng, bình định xong Phúc Kiến và Quảng Đông. Cục diện chiến trường từ đây bắt đầu xuất hiện bước ngoặt, bước vào giai đoạn thứ 2 của cuộc bình định Tam Phiên — thời khắc quân Thanh chuyển từ thế phòng thủ sang phản công.

Tám năm bình định Tam Phiên

“Khang Thân vương tiến quân tiễu trừ nghịch tặc ở Phúc Kiến, dù liên tiếp báo tin thắng trận, Trẫm cũng không thực sự vui mừng. Ngô Tam Quế mới là đầu sỏ, chỉ khi nào công phá được Nhạc Châu, Lễ Châu, thì mới thật sự đáng mừng.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: “Khang Thân vương tiến tiễu Mân tặc, tuy lũ tấu tiệp, Trẫm bất vi hỷ. Ngô Tam Quế nãi tặc cừ, duy phá Nhạc Châu, Lễ Châu, phương khả hỷ nhĩ.” — “Khang Hy Triều Thực Lục”)

Mãn – Hán tướng sĩ chiến đấu tắm máu, cuối cùng đại phá quân Ngô. Ảnh minh họa: Một phần bức họa “Mã Sưởng Trảm Trận Đồ Quyển” do họa sỹ người Ý Giuseppe Castiglione (Lang Thế Ninh) vẽ, tranh màu trên giấy. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Trong khi các tướng sĩ ngoài tiền tuyến liều mình chiến đấu vì cơ nghiệp nhà Thanh, Hoàng đế Khang Hy ngồi trấn giữ kinh thành, bày mưu lập kế và chỉ huy chiến cuộc từ xa. Từ năm Khang Hy thứ 16 đến năm thứ 20 (1677–1681) là giai đoạn quân Thanh chuyển sang đánh bại quân địch giành chiến thắng. Hoàng đế Khang Hy cho rằng Ngô Tam Quế là kẻ thù nguy hiểm nhất, còn Hồ Nam là chiến trường trọng yếu. Vì vậy, ông đặc biệt chú trọng đến cục diện tại Hồ Nam và tập trung lực lượng chủ yếu của triều đình tại đây.

Nhìn nhận từ đại cục, Hoàng đế Khang Hy điều động tinh binh từ Thiểm Tây chi viện cho Hồ Nam, liên tiếp thu hồi hơn 10 thành trấn bao gồm Trà Lăng, Du Huyện, An Nhân, Sâm Châu, Quế Dương. Khi đó, Ngô Tam Quế đang ở Hành Châu, chuẩn bị tiến đánh Quảng Đông. Hàng loạt thắng lợi quân sự liên tiếp của quân Thanh đã hoàn toàn phá vỡ kế hoạch tác chiến của ông ta.

Trước tình thế liên tục thất bại, để vực dậy sĩ khí, tháng 3 năm Khang Hy thứ 17 (năm 1678), Ngô Tam Quế cưỡng ép xưng đế tại Hành Châu. Thế nhưng, chưa đầy một tháng sau, ông ta đã lâm bệnh qua đời, ngôi vị do người cháu là Ngô Thế Phiên kế nhiệm. Cái chết của Ngô Tam Quế đã đẩy lòng quân vốn đã rệu rã đến bờ vực sụp đổ. Hoàng đế Khang Hy lập tức nắm bắt thời cơ, lệnh cho hai cánh quân thủy và bộ tạo thế gọng kìm từ hai mặt, thần tốc đánh lấy Nhạc Châu và chính thức thu phục nơi này vào năm Khang Hy thứ 18 (năm 1679). Chẳng bao lâu sau, toàn bộ đất Hồ Nam đã nằm gọn trong tầm kiểm soát của quân Thanh.

Tiếp đó, Hoàng đế Khang Hy vạch kế hoạch thu phục đất Thục (Tứ Xuyên), Vân Nam và Quý Châu. Trên chiến tuyến Tứ Xuyên, Hoàng đế Khang Hy quyết định trọng dụng các tướng lĩnh người Hán, thống lĩnh lục kỳ binh (quân đội người Hán) tác chiến; tướng sĩ người Mãn đóng vai trò hậu thuẫn, vận chuyển lương thảo và cùng tham gia chiến đấu. Đến tháng 10, một cánh quân Thanh thu phục phủ Hán Trung, tiến thẳng đến Thanh Thạch Quan nơi biên giới Thiểm Tây – Tứ Xuyên; một cánh khác tiến đến Lược Dương, đánh chiếm Dương Bình Quan. Dưới sự bày binh bố trận chu mật của Hoàng đế Khang Hy, 2 đại quân hội sư rồi chia đường tiến đánh Tứ Xuyên vào tháng 12, thế như chẻ tre, đại bại quân Ngô. Đến tháng giêng năm thứ 19, phần lớn đất Tứ Xuyên được bình định.

Sau đó, 2 đạo quân này áp sát Vân Nam và Quý Châu. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, do một số tướng lĩnh Mãn Châu tác chiến không hiệu quả, quân Ngô lại tiến vào Tứ Xuyên, khiến chiến sự có lúc diễn biến bất lợi. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy nhận thấy quân Ngô đã phân tán lực lượng, điều này tất yếu làm suy yếu khả năng phòng thủ của Vân Nam. Vì thế, ông điều động đạo quân vừa bình định xong Lưỡng Quảng cùng tham gia chiến dịch đánh chiếm Vân Nam và Quý Châu.

Đầu năm Khang Hy thứ 20 (năm 1681), Ngô Thế Phiên vẫn cố chống cự trong tuyệt vọng và định điều quân từ Tứ Xuyên về cứu viện Vân Nam. Hoàng đế Khang Hy lập tức hạ lệnh cho nhiều đạo quân thần tốc tiến quân, chiếm lấy Vân Nam trước khi quân tiếp viện của đối phương kịp đến. Đồng thời, ông bố trí một cánh quân người Hán thực hiện chiến lược “bình định Tứ Xuyên trước, rồi tiến vào Vân Nam”. Tháng 3, đạo quân này truy kích quân phản loạn tại Tứ Xuyên; tháng 5 thu phục Lô Châu và nhiều địa phương khác; tháng 7 tiến vào Vũ Định Châu của Vân Nam; đến tháng 9 thì áp sát Côn Minh, chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng.

Lúc này, Hoàng đế Khang Hy hạ lệnh tổng tấn công tỉnh thành Vân Nam. Tướng sĩ Mãn – Hán chiến đấu tắm máu, giao tranh suốt 3 ngày liền, cuối cùng đại bại quân Ngô. Ngày 28/9, Ngô Thế Phiên tự sát, quân phản loạn mở cửa thành đầu hàng. Đến đây, cuộc chiến bình định phản loạn kéo dài suốt 8 năm chính thức khép lại. Giữa đêm khuya, tin đại thắng vượt ngàn dặm truyền về kinh thành rồi tiến thẳng vào hoàng cung. Trước thắng lợi vẻ vang sau bao năm chinh chiến, Hoàng đế Khang Hy vô cùng phấn chấn, đã phóng bút đề thơ “Điền Bình” (Bình định Vân Nam) để ghi lại thời khắc lịch sử ấy:

“Nhĩ Hải Côn Trì đạo lộ nan,
Tiệp thư dạ bán đáo Trường An.
Vị căng can vũ Tam Miêu cách,
Sạ hỷ chinh thâu Lục Chiếu khoan.
Thiên mạt viễn thu Kim Mã ải,
Quân trung tân giải thiết y hàn.
Hồi tư kỷ tái tiêu lao ý,
Thử nhật phương đồng vạn quốc hoan.

Dịch nghĩa:

Đường đến Nhĩ Hải, Côn Trì xa xôi hiểm trở,
Tin thắng trận nửa đêm truyền tới Trường An.
Chưa dám nói đức hóa đã cảm phục được Tam Miêu,
Chỉ mừng vì việc binh đao, sưu dịch nơi Lục Chiếu nay được khoan giảm.
Nơi cuối trời xa, cửa ải Kim Mã đã được thu phục,
Trong quân, binh sĩ cũng vừa cởi bỏ áo giáp lạnh giá.
Ngoảnh lại những năm tháng lao tâm khổ tứ,
Đến hôm nay mới được cùng muôn dân chung hưởng niềm vui thái bình.

Sau khi dẹp yên phản loạn, triều đình thuận thế đẩy mạnh việc triệt phiên. Trong Tam Phiên, phe của Ngô Tam Quế bị coi là đại nghịch bất đạo, bị tru di cửu tộc; tàn quân bị sung làm quan nô hoặc lao dịch; đối với hai phiên họ Cảnh và họ Thượng, do đã quy thuận triều đình nên người có tội thì bị xét xử, người trung nghĩa thì được khoan hồng. Cứ như vậy, Hoàng đế Khang Hy đã bãi bỏ hoàn toàn thế lực Tam Phiên, thống nhất cơ cấu quản lý địa phương, đưa quyền lực các vùng về dưới sự quản lý trực tiếp của triều đình.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/5/26/n12138083.htm