Tác giả: Lý Dực Vân
[ChanhKien.org]
Chu Du. (Ảnh tổng hợp: Thiên Ngoại Khách/The Epoch Times)
Trước mắt là một con sông nước sâu chảy xiết, đến cả một cây cầu nhỏ cũng không có, khiến người và ngựa đều không thể vượt qua. Chu Du tỏ ra không hài lòng, cho gọi viên quan địa phương đến và hỏi: “Đây là vị trí trọng yếu trong hệ thống phòng thủ ven sông, sao lại có thể không có cầu?” Nói rồi, ông vung roi chỉ về phía trước, ra lệnh: “Trong vòng một ngày phải dựng xong cầu!”
Trước nay, dường như Chu Du vẫn một mực không mấy tha thiết với công danh. Ông hình như thích ở bên cạnh người chú là Chu Thượng phụ giúp công việc hơn, như thể việc chính duy nhất mà ông cần làm chỉ là giúp Tôn Sách chinh chiến Giang Đông.
Chiến tích xuất sắc của Chu Du khi phò tá Tôn Sách chinh phạt Giang Đông cuối cùng đã khiến Viên Thuật chú ý đến tài năng của ông. Viên Thuật muốn phong Chu Du làm tướng dưới trướng mình. Chu Du nhận thấy Viên Thuật là kẻ “cuối cùng cũng chẳng làm nên trò trống gì”, nhưng lại không tiện từ chối thẳng thừng lời mời gọi ấy, bèn tự mình xin đến làm Huyện trưởng ở vùng Cư Sào hẻo lánh phương Nam. Như có sự an bài của số phận, chính trong khoảng thời gian ở Cư Sào này, Chu Du đã kết giao với một người tri kỷ quan trọng khác của đời mình — Lỗ Túc.
Lỗ Túc
Lỗ Túc, tự Tử Kính, là người vùng Đông Thành thuộc Lâm Hoài. Lỗ Túc mồ côi cha từ nhỏ, do một tay bà nội nuôi nấng trưởng thành. Ông vóc dáng tráng kiện khôi ngô, dung mạo thanh tú kỳ lạ, lại thêm đầu óc linh hoạt, lúc nào cũng có thể nghĩ ra những mưu kế khác người.
Gia tộc họ Lỗ vốn nhiều đời giàu có, lại có lòng hay làm việc thiện. Thuở ấy thiên hạ đại loạn, nhà họ Lỗ thường hào phóng đem tiền tài của cải trong nhà ra cứu tế người nghèo, rất được lòng người dân trong hương thôn. Lỗ Túc là cháu cưng của cả nhà, rất được cưng chiều. Ngày thường, ông thích học đánh kiếm, cưỡi ngựa bắn cung, lại còn chiêu mộ các thiếu niên trong làng, bao ăn bao ở cho họ, rồi dẫn họ vào trong núi tập luyện săn bắn, giảng giải võ nghệ, luyện binh đánh giặc, trông chẳng khác nào một đội quân tư nhân. Các bậc kỳ lão trong làng bấy giờ đều lắc đầu bảo: “Nhà họ Lỗ vậy mà lại sinh ra đứa cháu cuồng vọng thế này, xem ra gia đạo nhất định phải lụi bại rồi!”
Khi đang giữ chức huyện lệnh huyện Cư Sào, Chu Du từ lâu đã nghe danh Lỗ Túc. Một hôm, ông dẫn theo hơn 100 binh sĩ đến tận nhà chào hỏi, đồng thời ngỏ ý xin Lỗ Túc hỗ trợ lương thực. Trong nhà Lỗ Túc có hai kho thóc, mỗi kho chứa 3.000 hộc lúa. Lỗ Túc không hề do dự, lập tức chỉ vào một trong hai kho và đem toàn bộ số lương thực trong kho ấy tặng cho Chu Du. Sự hào hiệp, rộng rãi và dứt khoát của Lỗ Túc khiến Chu Du vô cùng cảm động. Kể từ đó, hai người kết giao bằng hữu, trở thành tri kỷ của nhau.
Về sau, Viên Thuật nghe danh tiếng của Lỗ Túc nên bổ nhiệm ông làm huyện lệnh huyện Đông Thành. Thế nhưng, sau một thời gian quan sát, Lỗ Túc nhận thấy Viên Thuật xử lý chính sự hoàn toàn không có phương pháp, không phải là người có thể cùng nhau lập nên đại nghiệp. Vì vậy, ông dẫn theo cả gia quyến cùng hơn 100 thiếu niên hào hiệp đến nương nhờ Chu Du đang ở Cư Sào.
Năm Kiến An thứ ba (năm 198), Tào Tháo dâng biểu lên triều đình, tiến cử Tôn Sách giữ chức Thảo Nghịch tướng quân, đồng thời phong ông làm Ngô hầu. Tào Tháo còn kết thông gia với nhà họ Tôn, điều này chẳng khác nào chính thức thừa nhận địa vị và thế lực quan trọng của họ Tôn ở miền Nam.
Năm ấy có lẽ thời cơ cũng đã chín muồi. Chu Du đưa theo Lỗ Túc, nhân cơ hội vượt sông từ Cư Sào, đến quy thuận Tôn Sách. Sau hơn hai năm xa cách, Chu Du và Tôn Sách cuối cùng cũng được vui mừng gặp lại nhau.
Khi gặp Lỗ Túc, Tôn Sách cũng lập tức nhận ra đây là một bậc kỳ tài xuất chúng, không phải người tầm thường. Không ngờ, đúng lúc ấy từ vùng Giang Bắc truyền đến tin bà nội của Lỗ Túc qua đời. Lỗ Túc đành phải để gia quyến ở lại miền Nam, còn một mình trở về Đông Thành chịu tang.
Quét sạch Giang Đông
Việc Chu Du xuống phương Nam đầu quân khiến Tôn Sách vô cùng mừng rỡ. Ông lập tức cho xây dựng nhà cửa riêng cho Chu Du, ban tặng nhiều của cải đến mức không sao kể xiết, lại đích thân tổ chức một yến tiệc long trọng để nghênh đón người bạn tri kỷ của mình.
Trong buổi yến tiệc, Tôn Sách giới thiệu với mọi người: “Công Cẩn có tài năng hơn người, cùng ta kết giao từ thuở thiếu niên, tình nghĩa gắn bó như ruột thịt. Năm xưa, chính Công Cẩn đã từ Đan Dương đem quân cùng thuyền chở lương đến giúp ta dựng nên đại nghiệp. Nếu nói về công lao của ông ấy, thì tất cả những lễ vật ta ban tặng hôm nay cũng không đủ để báo đáp ân nghĩa to lớn của Chu Du!” [2] Sau đó, Tôn Sách bổ nhiệm Chu Du giữ chức Kiến Uy Trung Lang tướng. Khi ấy, cả hai người đều mới 24 tuổi.
Sau đó, Tôn Sách và Chu Du cùng liên thủ đánh chiếm thành Hoản. Tại đây, hai người lần lượt cưới hai chị em quốc sắc thiên hương là Đại Kiều và Tiểu Kiều làm vợ. Câu chuyện ấy về sau trở thành một giai thoại nổi tiếng. Kể từ đó, Tôn Sách và Chu Du trở thành anh em đồng hao, mối quan hệ giữa hai người càng thêm gắn bó, khăng khít.
Tranh Đại Kiều và Tiểu Kiều trong bộ Cổ Kim Bách Mỹ Đồ của Ngô Quân Như. (Phạm vi công cộng)
Tiếp đó, Tôn Sách lại cùng Chu Du xuất quân đánh Hoàng Tổ – kẻ thù đã sát hại cha mình. Tuy không bắt được Hoàng Tổ, nhưng quân của họ đã tiêu diệt mấy vạn quân địch, bình định hai quận Dự Chương và Lư Lăng, thanh thế chấn động khắp miền Nam. Sau chiến dịch này, Chu Du được giao trọng trách trấn giữ Ba Khâu, một vị trí chiến lược hết sức quan trọng.
Một ngày dựng xong cầu
Trong quá trình phò tá Tôn Sách chinh chiến khắp Giang Đông, Chu Du đã bộc lộ tài năng xuất chúng. Tương truyền, có một lần ông được lệnh xuôi theo dòng Trường Giang đến vùng Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh). Trên đường đi, một con sông chắn ngang đường đi. Nước sông vừa sâu vừa xiết, lại không có lấy một cây cầu nhỏ để bắc qua, khiến toàn bộ quân lính và ngựa chiến đều bị chặn lại ở bờ bên này, không thể tiếp tục hành quân.
Chu Du cho gọi viên quan địa phương đến và hỏi: “Vì sao ở đây lại không có cầu?” Viên quan lúng túng, ấp úng mãi mà không biết trả lời thế nào. Chu Du không hài lòng, nói: “Đây là vị trí trọng yếu trong hệ thống phòng thủ ven sông, sao lại có thể không có cầu?” Nói rồi, ông vung roi dài chỉ về phía trước, dứt khoát ra lệnh: “Lập tức bắt tay vào xây cầu!” Đồng thời, ông hạ quân lệnh: “Trong vòng một ngày phải dựng xong cầu!”
Mọi người nghe xong đều sững sờ: “Làm sao có thể xây xong cầu chỉ trong một ngày được?”
Chỉ thấy Chu Du đích thân ngồi chỉ huy tại hiện trường. Ông ra lệnh tháo dỡ một cây cầu đá cũ đã bị bỏ hoang ở gần đó, rồi vận chuyển vật liệu đến để dựng cầu mới. Chưa đầy một ngày, cây cầu quả nhiên đã được hoàn thành. Về sau, người đời gọi cây cầu do Chu Du xây là “Chu Lang Kiều”. Tương truyền, đến tận ngày nay trên mặt cầu vẫn còn lưu lại rõ nét dấu móng ngựa của chiến mã mà Chu Du từng cưỡi.[3]
Chu Du múa kiếm, ý tại ngôn ngoại
Tào Tháo ở phương Bắc vốn khao khát hiền tài, nghe danh Chu Du tuổi trẻ tài cao, trí dũng song toàn, bèn đặc biệt phái Tưởng Cán — một người có tài hùng biện vô song lại có mối giao tình cũ với Chu Du — đến quận Ôn để du thuyết, hòng chiêu dụ Chu Du về dưới trướng.
Tưởng Cán, tự Tử Dực. Khi Chu Du tiếp đón người bạn cũ này, ông đã đi thẳng vào vấn đề mà hỏi rằng:
“Tử Dực, anh nhọc lòng tốn sức, lặn lội đường xa vượt sông sang đây, có phải là để làm thuyết khách cho họ Tào không?”
Tưởng Cán vội vàng đáp: “Tôi và ngài là người cùng quê, đã lâu không gặp. Ở phương xa, tôi nghe tiếng sự nghiệp lẫy lừng của ngài nên đặc biệt nhân dịp này đến thăm, chỉ mong được diện kiến phong thái cao nhã của ngài. Thế mà ngài lại nói tôi đến đây để làm thuyết khách, chẳng phải là đã nghi ngờ tấm lòng của tôi sao?”
Chu Du vẫn giữ vẻ điềm tĩnh, mỉm cười đáp: “Tử Dực, tài thưởng thức âm nhạc của ta tuy không thể sánh với các bậc đại sư thời cổ như Quỳ và Sư Khoáng, nhưng chỉ cần nghe tiếng đàn của ông cũng đủ hiểu được ý tứ ẩn chứa trong khúc nhạc ấy rồi”.
Chu Du mời Tưởng Cán cùng dự tiệc rượu. Giữa buổi tiệc, Chu Du nổi hứng, đứng dậy múa kiếm và cất tiếng hát bài “Trượng Phu Ca”: Đại trượng phu xử thế hề, lập công danh, công danh ký lập hề, vương nghiệp thành. Vương nghiệp thành hề, tứ hải thanh, tứ hải thanh hề, thiên hạ thái bình. Thiên hạ thái bình hề, ngô tương túy, ngô tương túy hề, vũ sương phong.
Tạm dịch:
Đại trượng phu ở đời há! Lập công danh, Công danh đã lập há! Vương nghiệp thành. Vương nghiệp thành há! Bốn biển lặng, Bốn biển lặng há! Thiên hạ thái bình. Thiên hạ thái bình há! Ta sẽ say, Ta sẽ say há! Múa đường kiếm sáng tựa như sương.
Giai điệu hùng hồn, mạnh mẽ của bài ca đã thể hiện trọn vẹn khí phách hào sảng của một bậc anh hùng Chu Du. Kết hợp với dáng vẻ oai phong, tiêu sái trong điệu múa kiếm, ông đã dùng phong thái nghệ thuật tuyệt mỹ để bộc lộ hoài bão lớn lao trong lòng: dẹp yên bốn biển, bình định thiên hạ.
Múa kiếm xong, Chu Du nói với Tưởng Cán: “Đúng lúc này ta có việc cơ mật cần xử lý. Xin Tử Dực tạm thời lưu lại đây nghỉ ngơi. Khi công việc xong xuôi, ta sẽ sai người đến mời ngài tới gặp.”
Ba ngày sau, Chu Du mời Tưởng Cán đến tham quan doanh trại. Một mặt, ông sai thị giả mang ra những bộ y phục đẹp cùng các món châu báu, đồ quý để xem; mặt khác, ông nói với Tưởng Cán: “Bậc nam nhi sống ở đời, nếu gặp được một vị minh chủ tâm ý tương thông với mình, thì tuy trên danh nghĩa là quan hệ vua tôi, nhưng thực chất lại là tình nghĩa huynh đệ. Chúa công của ta không chỉ lắng nghe ý kiến và mưu lược của ta, mà còn cùng ta đồng cam cộng khổ, đồng hưởng vinh nhục. Dẫu cho Tô Tần, Trương Nghi có sống lại, hay Lệ Thực Kỳ tái thế, họ cũng sẽ vỗ vai mà khen ngợi sự lựa chọn của ta. Tình nghĩa son sắt của ta đối với Chúa công vững chắc như bàn thạch, há lại là điều mà một người trẻ như ngươi có thể dùng lời lẽ lay chuyển được sao?”
Nghe những lời ấy, Tưởng Cán chỉ còn biết mỉm cười đáp lại, không tiện nói thêm điều gì nữa.
Sau khi trở về, Tưởng Cán thuật lại với Tào Tháo toàn bộ chuyến đi thuyết phục Chu Du. Ông kể rằng Chu Du không những mở tiệc khoản đãi, múa kiếm và cất cao khúc ca trước mặt mình, mà còn đưa ông đi tham quan doanh trại, phô bày quân uy hùng mạnh, đồng thời cho xem vô số châu báu, vật quý do Tôn Sách ban tặng. Chu Du cũng chân thành kể về tình nghĩa tương tri tương kính giữa ông và Tôn Sách. Tưởng Cán than rằng: “Tình nghĩa giữa Chu Công Cẩn và Tôn Bá Phù, không thể dùng lời lẽ mà ly gián”.
Khi những người ở Trung Nguyên nghe chuyện này, ai nấy đều hết sức khâm phục phong độ tao nhã, khí độ rộng rãi và phẩm cách cao quý của Chu Du. Ngay cả việc khéo léo từ chối lời thỉnh cầu không nói ra thành lời của một người bạn cũ, ông cũng xử sự nhã nhặn chu toàn như vậy, khiến người ta ghi nhớ, cảm phục mãi trong lòng [4].
Tôn Sách và Thần Tiên Vu Cát
Tuy nhiên, những ngày tháng Tôn Sách và Chu Du hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau đắc ý, bay cao bay xa ấy lại chẳng kéo dài được bao lâu.
Năm Kiến An thứ năm, binh mã của Viên Thiệu và Tào Tháo đối đầu tại Quan Độ. Trận chiến này sẽ quyết định ai là người có thể thống nhất phương Bắc, tình hình chiến sự vô cùng căng thẳng. Tôn Sách vốn dĩ luôn ôm chí lớn, hy vọng có thể giống như cha mình, dốc hết tâm sức vì nhà Hán, đồng thời gây dựng nên một cơ nghiệp vĩ đại. Vì vậy, Tôn Sách dự định thừa cơ lúc hai bên đang giao tranh, ngầm tập kích Hứa Đô để đón Hán Hiến Đế đi.
Tôn Sách xưa nay luôn có thói quen một mình cưỡi ngựa đi săn. Ngày hôm đó, ông vẫn như mọi khi, một mình cưỡi ngựa đi trên lối mòn trong rừng sâu, không ngờ lại rơi vào ổ mai phục của kẻ thù, bị ám sát mà chết, khi ấy mới vừa tròn 26 tuổi.
Thế nhưng, cũng có rất nhiều tài liệu chỉ ra rằng, cái chết sớm của Tôn Sách có thể còn có nguyên nhân khác.
Tranh minh họa Hồi 29 “Tam Quốc Diễn Nghĩa” do Kim Hiệp Trung vẽ màu: Tiểu Bá Vương giận chém Vu Cát. (Ảnh: hạm vi công cộng)
Vào thời Hán Thuận Đế, tại vùng Lang Nha có một người tên là Cung Sùng đến yết kiến Thuận Đế. Ông dâng lên một bộ thần thư có tên “Thái Bình Thanh Lĩnh Đạo”, nói rằng đây là sách do sư phụ mình là Vu Cát có được tại Khúc Dương.[5] Hơn 50 năm sau, Đạo sĩ Vu Cát khi ấy đã ngoài 100 tuổi lại xuất hiện ở vùng Giang Đông để truyền Đạo. Ông dựng tịnh xá, truyền dạy kinh điển Đạo gia và dùng nước bùa chữa bệnh cứu người, có rất nhiều tín đồ trong dân chúng địa phương.[6]
Lúc bấy giờ, Tôn Sách đang chuẩn bị xuất quân vượt sông. Đúng vào lúc hạn hán kéo dài, đã lâu trời không mưa. Một hôm, Tôn Sách thấy rất đông người vây quanh Vu Cát nên vô cùng tức giận. Ông sai người bắt Vu Cát, trói dưới nắng gay gắt và ra lệnh cho ông cầu mưa. Nếu cầu được mưa xuống thì sẽ tha tội, còn nếu không linh nghiệm thì sẽ đem xử tử.
Chẳng bao lâu sau, bầu trời mây đen kéo kín. Đến giữa trưa, quả nhiên mưa như trút nước, nước trong các khe suối đều dâng đầy tràn bờ. Các tướng sĩ vô cùng vui mừng, cho rằng Vu Cát nhất định sẽ được tha chết. Mọi người hớn hở đến chúc mừng và thăm hỏi ông. Thế nhưng, Tôn Sách vẫn nhất quyết xử tử Vu Cát.
Phu nhân và người nhà của các tướng sĩ cũng lần lượt đến cầu xin mẹ của Tôn Sách là Tôn Thái phu nhân đứng ra nói đỡ. Tôn Thái phu nhân liền cầu tình với Tôn Sách: “Vu tiên sinh đã cầu phúc cho đại quân, lại chữa trị, chăm sóc các tướng sĩ. Con tuyệt đối không nên giết ông ấy”.
Lần này, Tôn Sách không nghe theo lời khuyên của mẹ, nhất quyết giết chết Vu Cát. Các tướng sĩ vô cùng đau xót, lén lút thu nhặt và mai táng thi thể của Vu Cát. Đêm hôm đó, bỗng nhiên có một đám mây bay đến phủ kín thi thể của Vu Cát. Đến sáng sớm hôm sau, thi thể đã biến mất không để lại dấu vết [7].
Không lâu sau, Tôn Sách dẫn theo vài tùy tùng ra ngoài săn hươu như thường lệ. Con tuấn mã ông cưỡi phi nước đại, nhanh chóng bỏ xa các tùy tùng ở phía sau. Đúng lúc ấy, Tôn Sách bất ngờ chạm trán người của doanh trại đối phương. Trong lúc hỗn loạn, ông bị một mũi tên bắn trúng vào má, rồi phải vội vã chạy về doanh trại.
Thầy thuốc dặn rằng chỉ cần tĩnh dưỡng cẩn thận thì trong vòng ba tháng vết thương sẽ hoàn toàn bình phục. Thế nhưng, mỗi khi ngồi một mình, Tôn Sách thường nhìn thấy bóng dáng của Vu Cát thấp thoáng xuất hiện bên cạnh, khiến ông vô cùng kinh hãi và nghi hoặc.
Có lần, khi soi gương, ông nhìn thấy Vu Cát hiện ra trong gương. Vội quay đầu lại nhìn thì không thấy Vu Cát đâu nữa. Chuyện ấy lặp đi lặp lại nhiều lần, cuối cùng Tôn Sách không còn chịu nổi. Trong cơn giận dữ, ông lao tới trước gương gào thét, khiến vết thương trên mặt bị nứt ra. Sau đó, vết thương trở nặng, không thể cứu chữa và qua đời [8].
(Còn tiếp)
Chú thích:
[1] Bản gốc “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung
[2] Giang Biểu truyện chép: Tôn Sách còn ban cho Chu Du nghi trượng và đội nhạc nghi lễ, cho xây dựng phủ đệ, ban thưởng hậu hĩnh, không ai sánh bằng. Tôn Sách từng hạ lệnh rằng: “Chu Công Cẩn là bậc anh tài kiệt xuất, từ thuở tóc để chỏm đã có tình bằng hữu với ta, thân thiết như cốt nhục. Trước đây ở Đan Dương, ông ấy đã chiêu tập quân sĩ, cung cấp thuyền bè và lương thảo để giúp ta hoàn thành đại nghiệp. Xét về đức hạnh để luận công ban thưởng thì những gì ta ban hiện nay vẫn chưa đủ để báo đáp công lao ấy.”
[3] Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể của quận Giang Ninh.
[4] Tam quốc chí – Ngô thư – Chu Du truyện, dẫn từ sách Giang biểu truyện chú thích rằng: Ban đầu, Tào Công (Tào Tháo) nghe tin Chu Du tuổi trẻ lại có tài, nghĩ rằng có thể dùng lời lẽ để thuyết phục, bèn mật phái người xuống Dương Châu, sai Tưởng Cán ở Cửu Giang đến gặp Du. Tưởng Cán là người có tướng mạo đường hoàng, nổi tiếng có tài hùng biện, một mình vang danh khắp vùng Giang, Hoài, không ai sánh kịp. Cán bèn mặc áo vải thô, đội khăn cát (kiểu thường dân), tự coi như đi việc riêng mà đến gặp Du. Chu Du ra nghênh đón, lập tức bảo Cán rằng: “Tử Dực quả là vất vả, đường xa lặn lội qua sông qua hồ, là làm thuyết khách cho họ Tào đó sao?” Tán đáp: “Tôi và túc hạ vốn là người cùng châu, bấy lâu xa cách, từ xa nghe tiếng thơm của ngài, nên nay đến để ôn chuyện cũ, đồng thời chiêm ngưỡng phong thái cao nhã, vậy mà ngài lại bảo là thuyết khách, chẳng phải là nghi oan cho người khác quá sao?”
Chu Du nói: “Tôi tuy không bằng Quỳ, Khoáng (hai bậc thầy về âm nhạc thời cổ), nhưng nghe dây đàn biết được thanh âm, đủ sức hiểu được khúc nhạc thanh nhã vậy.” Bèn mời Cán vào trong, bày rượu thịt chiêu đãi. Tiệc xong, Du tiễn Cán và bảo: “Nay tôi có việc bí mật, xin mời ông ra nghỉ ngơi tại quán xá, việc xong xuôi, tôi sẽ tự đến mời ông sau”. Ba ngày sau, Chu Du mời Tưởng Cán cùng đi thị sát trong doanh trại, đi xem xét các kho tàng, quân nhu và binh khí xong, liền quay về mở tiệc rượu. Du cho Cán xem trang phục của người hầu cùng những vật trân bảo, nhân đó bảo Cán rằng: “Đấng trượng phu ở đời, gặp được minh chủ tri kỷ, bên ngoài gán giữ nghĩa quân thần, bên trong kết tình cốt nhục, lời nói việc làm đều được nghe theo, họa phúc cùng chịu. Giả sử như Tô Tần, Trương Nghi sống lại, Lệ Tẩu (Lệ Thực Kỳ) xuất thế lần nữa, thì cũng chỉ vỗ lưng khen ngợi ta thôi, há đâu để cho một kẻ hậu sinh như anh có thể lay chuyển được?” Tưởng Cán chỉ cười, cuối cùng không nói thêm lời nào. Khi Cán trở về, liền khen ngợi Chu Du là người có độ lượng rộng rãi, chí cao, không thể dùng lời lẽ mà ly gián được. Sĩ phu ở Trung Châu (kinh đô) cũng vì thế mà vô cùng ca ngợi Chu Du.
[5] Giang Biểu truyện chép:
Bấy giờ có một Đạo sĩ người Lang Nha tên là Vu Cát. Trước đây ông từng cư ngụ ở phương Đông, thường qua lại vùng Ngô và Cối Kê. Ông lập tịnh xá, đốt hương tụng đọc Đạo thư, chế tạo nước bùa để chữa bệnh. Người dân vùng Ngô – Cối rất nhiều người tôn kính và phụng sự ông. Có lần, Tôn Sách mở tiệc tại lầu cổng thành quận, tập hợp các tướng lĩnh và tân khách. Đúng lúc ấy, Vu Cát mặc lễ phục chỉnh tề, chống gậy, mang theo một chiếc hộp nhỏ được sơn vẽ tinh xảo, gọi là “tiên nhân hoa” (một loại pháp khí), đi ngang qua dưới cổng thành. Các tướng lĩnh và khách khứa có đến hai phần ba số người lập tức xuống lầu nghênh đón và hành lễ với ông. Quan chủ khách cố sức ngăn cản, quát bảo mọi người dừng lại nhưng không ai nghe theo. Tôn Sách thấy vậy liền hạ lệnh bắt giữ Vu Cát. Những người tôn kính Vu Cát đều sai vợ con vào gặp mẹ của Tôn Sách để cầu xin cứu mạng cho ông. Tôn mẫu nói với Tôn Sách: “Tiên sinh Vu cũng từng giúp quân đội cầu phúc, chữa trị và chăm sóc các tướng sĩ, không nên giết ông ấy”. Tôn Sách đáp: “Tên này yêu tà mê hoặc lòng người. Hắn khiến các tướng lĩnh không còn giữ lễ nghĩa quân thần nữa. Khi nãy họ bỏ mặc ta mà cùng xuống lầu bái lạy hắn. Hạng người như vậy không thể không trừ bỏ”. Các tướng lĩnh lại cùng ký tên dâng thư xin tha cho Vu Cát. Tôn Sách nói: “Xưa kia ở Nam Dương có Trương Tân làm Thứ sử Giao Châu. Ông ta bỏ kinh điển của Thánh hiền, phế bỏ pháp luật nhà Hán, thường quấn khăn đỏ trên đầu, gảy đàn, đốt hương, đọc những đạo thư tà tục, tự cho là giúp ích cho việc giáo hóa dân chúng. Cuối cùng lại bị người Man phương Nam giết chết. Những việc ấy hoàn toàn vô ích, chỉ là các vị chưa hiểu mà thôi. Nay tên này đã có tên trong sổ của quỷ rồi, chư vị đừng tốn thêm giấy mực để xin xỏ nữa”. Nói xong, Tôn Sách lập tức thúc giục hành hình Vu Cát, rồi treo đầu ông ngoài chợ để thị chúng. Tuy vậy, những người tôn kính Vu Cát vẫn không cho rằng ông đã thực sự chết, mà nói rằng ông chỉ “thi giải” (thoát xác thành Tiên). Họ vẫn tiếp tục lập đàn tế lễ và cầu phúc nơi ông.
[6] Chí Lâm viết: Vào đầu thời Thuận Đế, Cung Sùng người vùng Lang Nha đến cửa khuyết dâng cuốn thần thư mà sư phụ ông là Vu Cát có được bên dòng suối ở Khúc Dương, sách viết trên lụa trắng kẻ đường viền đỏ, gọi là Thái Bình Thanh Lĩnh Đạo, gồm tất cả hơn trăm quyển. Từ thời Thuận Đế cho đến năm Kiến An, trải qua chừng năm sáu mươi năm, Vu Cát lúc này tuổi gần trăm tuổi, đã ở độ tuổi già yếu suy suyển, theo lễ pháp không được trừng phạt. Hơn nữa, bậc thiên tử khi đi tuần thú, nghe nơi nào có người trăm tuổi đều đến tận nơi bái kiến, kính trọng người cao tuổi để bày tỏ lòng thân ái, đó là giáo hóa cao tột của bậc Thánh Vương vậy. Vu Cát tội chưa đến mức chết, vậy mà (Tôn Sách) lại đột ngột dùng hình phạt tàn khốc, ấy là giết lầm, chẳng phải việc gì tốt đẹp để ca ngợi. Tác giả từng đẩy mạnh khảo cứu về việc Hoàn Vương (Tôn Sách) băng hà, là vào ngày mồng bốn tháng tư năm Kiến An thứ năm. Lúc bấy giờ Tào, Viên đang đánh nhau, chưa phân thắng bại. Xét thư của Hạ Hầu Nguyên Nhượng (Hạ Hầu Đôn) gửi cho Thạch Uy Tắc có chép: “Ấy là sau khi Viên Thiệu bại trận. Thư phong cho Tôn Bôn làm Thái thú Trường Sa, phong cho Trương Tân quản lĩnh vùng Linh Lăng, Quế Dương.” Việc này cho thấy Hoàn Vương chết trước, còn Trương Tân chết sau, hai bên không thể nhường chức cho nhau, ví như nói về duyên cớ cái chết của Tân vậy. Thần (Bùi) Tùng Chi xét rằng: Năm Thái Khang thứ tám, Đại trung chính của Quảng Châu là Vương Phạm dâng sách Giao Quảng nhị châu xuân thu. Đến năm Kiến An thứ sáu, Trương Tân vẫn còn làm Giao Châu mục. Sự sai lệch, hư cấu của sách Giang Biểu truyện đúng như những gì cuốn Chí Lâm đã chỉ ra.
[7] Sưu Thần Ký chép:
Tôn Sách định vượt sông đánh úp Hứa Đô nên mang theo Vu Cát cùng đi. Bấy giờ trời đại hạn, khắp nơi nóng bức khô cằn. Tôn Sách liên tục thúc giục các tướng sĩ nhanh chóng chuẩn bị thuyền bè. Có lúc ông còn đích thân ra ngoài từ sáng sớm để đôn đốc công việc. Thế nhưng, ông lại thấy rất nhiều tướng lĩnh và quan lại đang tụ tập quanh chỗ Vu Cát. Việc ấy khiến Tôn Sách vô cùng tức giận, nói: “Lẽ nào ta còn không bằng Vu Cát hay sao mà các ngươi đều vội vàng chạy đến với hắn trước?” Ông lập tức sai người bắt Vu Cát đến, rồi quát hỏi: “Trời hạn hán không mưa, đường sá khó đi, việc vượt sông chưa thể tiến hành đúng lúc. Vì thế ta phải đích thân dậy từ sớm để lo liệu. Còn ngươi chẳng những không cùng chia sẻ nỗi lo ấy, lại ngồi yên trên thuyền làm trò quỷ quái, làm rối loạn quân ngũ của ta. Nay ta phải trừ bỏ ngươi!” Tôn Sách sai người trói Vu Cát rồi phơi dưới nắng gắt, bảo ông cầu mưa: “Nếu ngươi có thể cảm động trời đất để đến giữa trưa trời đổ mưa, ta sẽ tha tội cho ngươi. Bằng không sẽ đem ngươi ra xử tử”. Chẳng bao lâu sau, mây khí bắt đầu bốc lên. Những đám mây nhỏ dần tụ lại thành từng mảng lớn. Đến giữa trưa, mưa lớn quả nhiên đổ xuống khắp nơi, nước trong khe suối đều dâng đầy tràn bờ. Các tướng sĩ vô cùng vui mừng, cho rằng Vu Cát chắc chắn sẽ được tha chết, nên cùng nhau đến chúc mừng và an ủi ông. Thế nhưng, Tôn Sách vẫn giết Vu Cát. Các tướng sĩ thương tiếc ông, cùng nhau cất giấu thi thể. Đến đêm, bỗng có mây kéo đến che phủ xác Vu Cát. Sáng hôm sau mọi người đến xem thì thi thể đã biến mất, không ai biết tung tích ở đâu.
[8] Ngô lịch chép rằng: Sau khi Tôn Sách bị thương, thầy thuốc bảo rằng có thể chữa trị được, nhưng phải khéo tự chăm sóc giữ gìn, trong vòng trăm ngày không được cử động mạnh. Sách bèn lấy gương tự soi mặt mình, rồi bảo với thuộc hạ tả hữu rằng: “Mặt mũi đã ra nông nỗi này, liệu còn có thể lập công dựng nghiệp được nữa chăng?” Nói rồi đập mạnh xuống bàn gầm lên dữ dội, khiến cho các vết thương đều rách toạc ra, ngay đêm hôm đó thì qua đời.
Sưu thần ký lại chép rằng: Tôn Sách sau khi giết Vu Cát, mỗi lúc ngồi một mình đều lờ mờ nhìn thấy Cát ở ngay bên cạnh, trong lòng vô cùng căm ghét, tinh thần có phần hoảng loạn, bất thường. Sau này, vết thương vừa mới thuyên giảm, ông lấy gương tự soi thì thấy bóng Vu Cát ở trong gương, nhưng quay đầu lại nhìn thì chẳng thấy đâu. Tình trạng như vậy diễn ra hai ba lần, Sách bèn đập nát gương rồi hét lớn, các vết thương từ đó đều bục vỡ ra, chỉ một chốc sau thì chết.
Dịch từ:


