Tác giả: Leo Salvatore
[ChanhKien.org]
“Con đường La Mã”. Đây là một trong nhiều con đường mà người La Mã đã xây dựng tại Vương Quốc Anh. (Ảnh: Oast House Archive (GeographBot), giấy phép CC BY-SA 2.0.)
Hằng năm, thành phố Rome thu hút hàng triệu lượt du khách. Mọi người từ khắp nơi trên địa cầu đáp những chuyến bay vượt Đại Tây Dương để đến thưởng ngoạn Đấu trường La Mã, thưởng thức ẩm thực của nước Ý và tản bộ trên những con đường xinh đẹp của thành phố lâu đời này.
Đối với nhiều người, thành phố Rome cũng là hiện thân cho di sản của Đế chế La Mã, một trong những nền văn minh vĩ đại trong lịch sử. Đế chế La Mã đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trên khắp Châu Âu, Bắc Phi, và bán đảo Tiểu Á, trong đó có một mạng lưới cơ sở hạ tầng vô cùng bền vững. Các công trình công cộng của thành phố La Mã, từ cầu cống và đường sá, cho đến các bể chứa nước ngầm, đều là những đơn cử cho thấy cam kết về sự lâu bền đáng để con người ngày nay suy ngẫm.
Lược sử La Mã
Thành La Mã (Rome ngày nay) nguyên là một nơi định cư nhỏ nằm bên bờ sông Tiber. Mặc dù bằng chứng về khảo cổ học cho thấy rằng các hoạt động của con người đã sớm diễn ra tại đây vào năm 1700 trước Công nguyên (TCN), nhưng việc hình thành nên thành phố này theo truyền thuyết là vào năm 753 TCN, khi Romulus giết người anh em sinh đôi của mình là Remus và tự xưng vua, vị vua đầu tiên của thành La Mã.
“Người chăn cừu Faustus mang Romulus và Remus về cho vợ”, 1654, tranh của Nicolas Mignard, Bảo tàng Nghệ thuật Dallas. (Ảnh: Phạm vi Công cộng)
La Mã thuở ban đầu là theo chế độ quân chủ. Vị vua cuối cùng trong “Bảy vị vua” trong truyền thuyết của thành phố này là Tarquinius Superbus tàn bạo (hay còn gọi là “Tarquinius Kiêu Ngạo”), người đã chiếm đoạt vương quyền bằng việc sát hại vợ, anh trai và vị vua tiền nhiệm.
Vào năm 509 TCN, người La Mã truất ngôi của Tarquin, và sau khi Tarquin bị lưu đầy thì La Mã trở thành một nền cộng hòa được trị vì bởi Viện Nguyên lão quý tộc và hai vị quan chấp chính có quyền lực ngang nhau. Sự chuyển giao này đã dẫn đến các cuộc chiến đẫm máu, trong đó có cuộc tấn công của Tarquin và các đồng minh Etruscan của ông ta để xâm chiếm La Mã, một cuộc chiến đã khơi nguồn cảm hứng cho huyền thoại về Horatius, một người lính can trường đã đơn thương độc mã ngăn chặn cuộc xâm lăng của đội quân này vào La Mã.
Nền cộng hòa kéo dài gần năm thế kỷ, và trong suốt thời gian này, La Mã đã bành trướng sự cai trị của mình trên khắp vùng Địa Trung Hải. Các cuộc nội chiến và sự trì trệ kinh tế cuối cùng đã khiến cho nền cộng hòa này sụp đổ từ bên trong. Vào năm 27 TCN, Octavian Augustus tự xưng là Hoàng đế đầu tiên của Đế quốc La Mã. Đế quốc La Mã đã bắt đầu bằng “Nền Hòa Bình La Mã” (“Pax Romana”), một giai đoạn tương đối hòa bình, giao thương phát triển, và văn hóa nở rộ mở đường cho việc thống trị thế giới.
Năm 117 Công Nguyên (CN) Đế quốc La Mã đạt được sự bành trướng lãnh thổ lớn nhất, với gần hai triệu dặm vuông. Nhưng theo thời gian, quốc gia cũng bắt đầu chia cắt, phần lớn là vì những nguyên nhân tương tự như những gì đã từng làm suy yếu nền cộng hòa. Vào thế kỷ thứ 4, đất nước chia làm hai miền Đông và Tây. Đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476 CN, để lại những khoảng trống quyền lực kéo dài cho đến thời kỳ Trung Cổ. Đế quốc Đông La Mã tồn tại đến năm 1453 TCN, nhưng lịch sử của đế chế này từ lúc hình thành cho tới khi tàn lụi luôn nguy ngập trong các mối đe dọa hiện hữu.
Bên cạnh những giá trị khác, La Mã cổ đại giờ đây còn được xem là biểu tượng của sự tinh thông về chính trị, sức mạnh quân sự, và sự huy hoàng về văn hóa. Một phần quan trọng nhưng lại bị xem nhẹ trong di sản đồ sộ của đế chế này chính là một mạng lưới đầy ấn tượng với cơ sở hạ tầng vững chắc, vốn có nhiều điều để cho con người ngày nay học hỏi.
“Sự hủy diệt”, 1836, tranh của Thomas Cole, nằm trong chuỗi các tác phẩm thuộc chủ đề “Sự hưng thịnh của Đế chế”. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Những bậc thầy về kỹ thuật xây dựng
Sử gia cổ đại Dionysius của xứ Halicarnassus (vào khoảng năm 60 TCN – vào khoảng năm 7 TCN) viết trong cuốn “Cổ vật La Mã” rằng: “Ba công trình hoành tráng bậc nhất của La Mã, thể hiện rõ nét nhất sự vĩ đại của đế chế này, chính là các cây cầu dẫn nước, các con đường được lát đá, và công trình cống ngầm”.
Kỹ thuật xây dựng là điều tạo nên sự khác biệt cho La Mã ngay từ đầu. Vua Tarquin trông coi việc xây dựng một trong những hệ thống thoát nước lâu đời nhất trên thế giới, được gọi là “Cloaca maxima” (“hệ thống cống ngầm vĩ đại nhất”) được đặt theo tên của Cloacina, một vị nữ Thần nguyên thủy của La Mã cai quản sự sạch sẽ và thanh tẩy. Hệ thống này đã bảo đảm cho những con đường được sạch sẽ một cách đáng kinh ngạc và cung cấp nguồn nước sạch, nuôi dưỡng nên một cộng đồng cư dân khỏe mạnh để có thể làm việc, xây dựng, và chiến đấu — ba hoạt động mà người La Mã rất xuất sắc. Một vài phần của hệ thống thoát nước này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay.
La Mã còn là giao điểm trung tâm của một mạng lưới đường sá chằng chịt, vốn chưa từng thực sự ngừng phát triển. Trong suốt kỷ nguyên đế quốc, đường sá ở La Mã kéo dài từ nơi hiện nay là Scotland cho tới nơi hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ, từ vùng sông Nile cho tới những cánh rừng ở nước Đức. Những con đường này được xây dựng đặc biệt để chống lũ và các hiểm họa môi trường khác. Đường sá cũng giúp thúc đẩy thương mại, định hình cho việc mở rộng đô thị, và tạo thuận tiện cho các chiến dịch quân sự trên khắp các vùng đất rộng lớn. Quả thực, mọi con đường đều dẫn về La Mã.
“Pháo đài Housesteads của La Mã,” 1997, Colin Park. Hệ thống sưởi bên dưới (Hypocaust) giúp lưu thông khí nóng để sưởi ấm cho các căn phòng ở bên trên. Những gì còn lại ngày hôm nay chỉ là tàn tích của tầng dưới của pháo đài này. (Ảnh: GeographBot/CC BY-SA 2.0)
“Hypocaust”, hệ thống sưởi ấm trung tâm lưu thông trong các khoảng trống dưới lòng đất nhằm đưa khí nóng vào các căn phòng bao quanh bên trên, là một trong số những phát minh đáng chú ý khác của người La Mã. Là tiền thân cổ xưa (nhưng ít lãng phí hơn) của hệ thống điều hòa không khí, hệ thống này đôi khi được sử dụng ở các ngôi đền, các đại sảnh trong cung điện, và những công trình công cộng trọng yếu khác.
Bê tông: Bí quyết của người La Mã
Bê tông là một loại vật liệu đặc biệt tạo nên phần lớn cơ sở hạ tầng ở La Mã. Nhìn chung, đá cẩm thạch được dùng để xây dựng cung điện và các công trình tưởng niệm, còn gỗ được dùng cho ngành kỹ thuật chế tạo vũ khí cầm tay. Bê tông lại được sử dụng để làm hầu như mọi thứ khác.
Bê tông thời La Mã không giống lắm với bê tông ngày nay. Được làm từ vôi khô, nước, và tro núi lửa, bê tông La Mã có đặc tính tự phục hồi mà các nhà khoa học gần đây mới hiểu được. Các mảng vôi có trong bê tông này khi tiếp xúc với nước sẽ tạo ra canxi để lấp đầy bất cứ vết nứt hở nào có thể mở ra theo thời gian. Quá trình đơn giản này giải thích tại sao có nhiều tàn tích cổ xưa của La Mã vẫn tồn tại, trong khi đó chẳng hạn như tại Hy Lạp cổ đại hoặc Ba Tư cổ đại thì số tàn tích này lại ít hơn nhiều. Một công trình điển hình đáng chú ý nhất được xây dựng bằng bê tông La Mã vẫn còn vẹn nguyên cho đến hôm nay là Điện Pantheon, với mái vòm bê tông không cốt thép lâu đời nhất và lớn nhất trên thế giới.
Một mẫu bê tông tự phục hồi của La Mã Cổ Đại còn sót lại được tìm thấy trong một mái vòm ở La Mã. (Ảnh: Michael Wilson/CC BY-SA 2.0)
Những cầu dẫn nước thời La Mã
Bê tông của La Mã phát huy tối đa tác dụng ở các công trình cầu dẫn nước (aqueducts) và hải cảng, những nơi có dòng nước liên tục chảy qua. Trong cuốn sách “Xây dựng để trường tồn: Lịch sử và Công nghệ của Kỹ thuật Bê tông La Mã trên Biển” (“Building for Eternity: The History and Technology of Roman Concrete Engineering in the Sea”), một nhóm các học giả đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau đã ghi chép về một cơ sở hạ tầng hàng hải rộng lớn vốn đã duy trì cái mà họ họ gọi là “nền kinh tế toàn cầu” đầu tiên của phương Tây. Nhờ có bê tông, người La Mã đã có thể dựng lên các hải cảng ở bất cứ đường bờ biển nào để từ đó thiết lập nên sự thống lĩnh về thương mại và quân sự nhanh hơn các đối thủ của họ.
Dù ít liên quan đến thương mại, nhưng các cây cầu dẫn nước cũng có vai trò trọng yếu cho sự lớn mạnh của La Mã. Cây cầu dẫn nước đầu tiên của La Mã được xây dựng vào năm 312 TCN, khi các nguồn nước phụ cận quanh thành phố này không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng của lượng dân số đang ngày càng tăng lên. Cây cầu này được gọi là “Aqua Appia”, đặt theo tên của Appius Claudius Caecus (khoảng năm 340 – 273 TCN). Chính khách này là người đã xây nên Đường Appian, một trong những con đường lâu đời nhất của La Mã vẫn còn đang được sử dụng cho đến ngày nay.
Vào thời cực thịnh của đế chế này, số lượng các cây cầu dẫn nước được sử dụng lên đến con số hàng trăm. Từ năm 226 TCN đến năm 312 SCN, chỉ riêng tại thành phố La Mã đã có 11 cây cầu dẫn nước được xây nên. Cây cầu ngắn nhất là Aqua Appia với chiều dài xấp xỉ hơn 10 dặm. Cây cầu dài nhất có độ dài 57 dặm, một chiều dài ấn tượng đối với thời kỳ đó. Mặc dù tên gọi “cầu dẫn nước” gợi nhớ đến những vòm đá bê tông đặc trưng, nhưng hệ thống dẫn nước phần lớn lại nằm dưới lòng đất. Các vòm đá được sử dụng một cách có chọn lọc ở các khu vực đô thị để giữ lại không gian đi bộ hoặc để tạo địa hình cho các dải đất cằn cỗi.
Các cây cầu dẫn nước này có giá trị thực tiễn dễ nhận thấy. Chúng giúp dẫn nước sạch đến các đài phun nước công cộng, xả sạch các cống ngầm và các nhà tắm công cộng, giúp cho các vùng đất khô hạn và các khu vực xa xôi được tưới tiêu, và củng cố thêm cho sức kháng cự của La Mã trong thời chiến.
Hàng ngàn năm sau, tàn tích của cây cầu dẫn nước Aqua Appia vẫn tồn tại. Phần được thấy trong hình này hiện ở trong một công viên tại Ý. (Ảnh: Lalupa/CC BY-SA 3.0)
Không có gì ngạc nhiên khi các cây cầu dẫn nước thu hút những người dân sống ngoài vòng luật pháp, người thường lợi dụng kỹ thuật tiện dụng này. Trong một chuyên luận gồm hai quyển, vị chính khách kiêm kỹ sư người La Mã Sextus Julius Frontinus (khoảng năm 40 – 103 SCN) cho biết thỉnh thoảng “nước cũng bị các cá nhân dẫn trộm từ các cầu dẫn nước” bằng cách nối thêm các đoạn ống trái phép và sử dụng những thủ đoạn khác.
Frontinus đã đi đầu trong việc cải tiến các cây cầu dẫn nước ở La Mã trên phạm vi toàn đế chế. Ông là người đầu tiên trình bày rõ ràng về tiềm năng to lớn của các công trình này. Là một kỹ sư uyên bác, ông có hiểu biết sâu sắc về các trước tác của người tiền nhiệm Vitruvius, một học giả bách khoa của La Mã, tác giả cúa tác phẩm “De Architectura” (Về Kiến trúc). Đây là một tác phẩm tạo nền tảng căn bản cho nghệ thuật và kiến trúc phương Tây.
Trong cuốn sách thứ 8 của mình, Vitruvius thảo luận về những dòng suối tự nhiên, chất lượng và các ứng dụng của nước, và một vài kỹ thuật liên quan đến việc xây dựng các cây cầu dẫn nước. Những luận điểm của ông được dựa trên ba nguyên lý trong kiến trúc – sự kiên cố, tính ứng dụng, và tính mỹ thuật – đúc kết từ niềm tin sâu sắc của người La Mã rằng cơ sở hạ tầng đóng vai trò căn bản trong việc tạo nên một nền văn minh vĩ đại.
Một bản tranh khắc gỗ năm 1684 mô tả Vitruvius đang giới thiệu cuốn sách “De Architectura” cho Augustus. (Ảnh: Phạm vi Công cộng)
Sự gắn kết, thận trọng và khát vọng trường tồn
Người La Mã không khám phá ra bê tông một cách tình cờ. Các kỹ sư, những người vốn quan tâm đến việc tìm kiếm các vật liệu tốt nhất để dựng nên các kết cấu vững chắc và hiệu quả, cuối cùng cũng đã tìm được một hợp chất phù hợp. Đằng sau sự quan tâm của họ là rất nhiều động lực, trong đó có những áp lực về mặt xã hội và cả quân sự. Nhưng đằng sau những áp lực đó là niềm tin sâu sắc rằng La Mã sẽ mãi mãi trường tồn.
Những người La Mã cùng có chung một tinh thần lạc quan về một tương lai được tạo nên từ sự đồng lòng, thận trọng và trường tồn. Có lẽ không có nơi nào tốt hơn để thấy được sự lạc quan này hơn là qua các cơ sở hạ tầng của họ. Mạng lưới đường sá của họ cho thấy một sự gắn kết vô song như là một cam kết chung về việc tạo ra một La Mã thịnh vượng bất kể những xung đột nội bộ. Sự chú trọng khắt khe của họ đối với độ bền và việc bảo trì của kết cấu thể hiện một sự thận trọng đáng kinh ngạc, và điều này cũng phản ánh qua việc quản trị một cách tỉ mỉ của họ đối với các lãnh thổ cũ và mới.
Du khách đứng trước Pantheon, một ngôi đền La Mã có từ thế kỷ thứ 2, ở thành phố Rome, vào ngày 24/04/2025. (Ảnh: Andrej Isakovic/AFP via Getty Images)
Một số mục tiêu của người La Mã cho đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn. Dù sao đi nữa, họ là những người chinh phạt hiếu chiến và thường không khoan nhượng, những người không có mục đích gì khác ngoài việc thống trị được thế giới. Nhưng ít nhất họ đã tin vào triển vọng cho nền văn minh của mình, và họ tất nhiên biết được họ đại diện cho điều gì. Khát vọng trường tồn của họ đã trở thành hiện thực thông qua các cơ sở hạ tầng bền vững tồn tại lâu hơn những người đã tạo ra chúng. Điiều này nhắc nhở chúng ta rằng các nền văn minh không thể đạt được sự vĩ đại nếu không có nền móng vững chãi.
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ: https://www.theepochtimes.com/bright/building-for-eternity-romes-engineering-genius-5976219







