[ChanhKien.org]
Trong “Sử Ký – Quyển 92: Hoài Âm Hầu liệt truyện thứ 32”, Tư Mã Thiên đã ghi chép về sự nghiệp cả đời của Hàn Tín – vị khai quốc công thần nhà Tây Hán. Khi thuật lại thời thiếu niên của Hàn Tín, sử gia viết: “Hoài Âm Hầu Hàn Tín là người Hoài Âm. Thuở ban đầu còn là thường dân, cảnh nhà bần hàn, lại không có phẩm hạnh nổi trội nên không được tiến cử làm quan; cũng chẳng biết làm lụng buôn bán để kiếm sống. Thường đến nhà người khác ăn nhờ ở đậu, khiến nhiều người chán ghét. Hàn Tín từng nhiều lần đến nhà Nam Xương Đình trưởng ở Hạ Hương ăn chực suốt mấy tháng trời. Vợ Đình trưởng lấy làm khó chịu, bèn nấu cơm từ sáng sớm rồi ăn ngay trên giường. Đến bữa Hàn Tín tới, bà ấy không dọn cơm ra nữa. Hàn Tín hiểu ý, nổi giận rồi bỏ đi hẳn. Hàn Tín đi câu cá dưới chân thành, có một bà lão giặt lụa thấy Hàn Tín đói bụng bèn dọn cơm cho ăn suốt mấy chục ngày, cho đến khi giặt xong xuôi. Hàn Tín vui mừng nói với bà lão: ‘Sau này tôi nhất định sẽ báo đáp bà thật hậu hĩnh’. Bà lão giận mà rằng: ‘Đại trượng phu không tự nuôi nổi thân mình, ta vì thương tình vương tôn mà cho ăn, há lại mong báo đáp sao?’”
Khi ghi chép về việc Hàn Tín làm Sở Vương, đóng đô tại Hạ Phi, sử gia viết: “Tín về nước, triệu bà lão giặt lụa năm xưa từng cho mình ăn, ban thưởng nghìn vàng. Lại gọi Nam Xương Đình trưởng ở Hạ Hương tới, chỉ ban thưởng trăm đồng tiền và bảo rằng: ‘Ngươi quả là kẻ tiểu nhân không có tầm nhìn xa, làm ơn mà chẳng làm cho trót’”.
Khi Hàn Tín còn trong cảnh bần cùng khốn khó, cả Đình trưởng và Phiếu mẫu (bà lão giặt lụa) đều đã từng cho ông cơm ăn. Đình trưởng cho Hàn Tín ăn suốt mấy tháng trời, còn Phiếu mẫu cho ông ăn trong mấy mươi ngày; có thể nói cả hai đều có ân đức đối với Hàn Tín. Thế nhưng về sau, sự ban thưởng mà họ nhận được từ Hàn Tín lại hoàn toàn khác biệt: Phiếu mẫu được tặng ngàn vàng, trong khi Đình trưởng chỉ nhận được trăm đồng tiền, lại còn bị quở trách là “kẻ tiểu nhân không có tầm nhìn xa”. Nguyên nhân sâu xa nằm ở chỗ: Khi Hàn Tín phải sống nương nhờ dưới mái nhà người khác, tại nhà Đình trưởng, dù ông được thỏa mãn tạm thời về mặt sinh lý (cái ăn), nhưng về mặt tâm lý, có lẽ ông đã phải chịu đựng sự khinh miệt và lạnh nhạt của vợ chồng người này. Sau khi phải chịu nhục vì họ cố tình “không dọn cơm”, ông đã phẫn nộ bỏ đi; có thể thấy vết thương lòng ấy lớn đến nhường nào. Ngược lại, Phiếu mẫu thì hoàn toàn khác. Suốt mấy mươi ngày bà đều cho Hàn Tín cơm ăn, mãi cho đến khi công việc giặt giũ hoàn tất, làm việc luôn có thủy có chung. Điều đáng quý hơn cả là khi Hàn Tín nói sau này sẽ báo đáp bà thật hậu hĩnh, bà chẳng những không vui mừng, mà còn nghiêm khắc giáo huấn Hàn Tín một phen. Chính thiện tâm của bà đã khiến Hàn Tín cảm nhận được hơi ấm của nhân gian; chính tình thương của bà đã xoa dịu vết thương lòng của ông; và chính những lời khích lệ của bà đã giúp Hàn Tín gây dựng niềm tin để nỗ lực vươn lên. Có người nói rằng chính lòng từ ái của Phiếu mẫu đã thành tựu nên một bậc hào kiệt đời sau như Hàn Tín. Lời này thật không sai, qua đó đủ thấy tâm thiện lương, nhân ái và lòng đồng cảm có sức ảnh hưởng to lớn đến nhường nào đối với một con người.
Con trẻ cũng vậy, cũng giống như mầm cây, mầm cây cần được vun trồng và con trẻ cũng cần được nuôi dưỡng. Nếu chúng ta bón cho cây lượng dưỡng chất phù hợp và chú tâm chăm sóc, nó có thể trưởng thành một cây đại thụ chọc trời. Nếu cha mẹ trong khi thỏa mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại cho con trẻ mà còn dụng tâm bồi dưỡng cho con tình cảm thiện lương, lòng yêu thương đồng cảm với người khác và phẩm chất đạo đức nhân văn, thì đứa trẻ khi lớn lên có thể trở thành một người giàu lòng nhân ái, biết cống hiến cho xã hội và quốc gia. Ngược lại, nếu chỉ mải mê đáp ứng những yêu cầu bất chính của con, lấy con làm trung tâm mà nuông chiều phóng túng, thì đứa trẻ ấy khi lớn lên rất có thể sẽ trở thành kẻ ích kỷ, lạnh lùng, giả dối, thiếu thốn tình thương, thậm chí là kẻ vong ân bội nghĩa.
Việc nuôi dưỡng lòng từ ái cho con trẻ trong gia đình chúng tôi, trước hết được bắt đầu từ sự yêu thương lẫn nhau giữa các thành viên. Gia đình chúng tôi đã làm được việc: chồng yêu vợ, vợ thương chồng; con dâu hiếu kính cha mẹ chồng, cha mẹ chồng yêu quý con dâu; con rể tôn trọng cha mẹ vợ, cha mẹ vợ thương mến con rể; cha mẹ yêu thương con cái, con cái hiếu thuận với cha mẹ; cháu chắt kính yêu ông bà, ông bà che chở cho con cháu. Chúng tôi còn giữ được sự hòa thuận giữa chị em trong nhà. Nhờ đó, một môi trường gia đình tràn đầy tình thương đã được hình thành, mối quan hệ hòa ái, bầu không khí ấm áp. Điều này một cách tự nhiên sẽ hun đúc nên tình cảm yêu thương, bồi đắp đức hạnh lương thiện, giúp trẻ hình thành tính cách từ ái ngay từ thuở nhỏ. Tôi còn nhớ một lần, do bận trao đổi với một phóng viên tại tòa soạn hơi lâu nên tan làm khá muộn, tôi đã mời anh ấy về nhà mình dùng bữa. Khi về đến nhà đã là chín giờ tối. Tối hôm đó vợ tôi vắng nhà, con gái chín tuổi của tôi đã tự mình nấu xong cơm nước. Sau khi chào hỏi khách, con bé liền nói với tôi: “Ba ơi, muộn thế này mới về, cả nhà lo cho ba lắm! Ba nên gọi điện về cho gia đình chứ ạ!” Anh phóng viên nghe xong vô cùng kinh ngạc, thốt lên: “Chà! Tuổi còn nhỏ mà đã hiểu chuyện như vậy, biết quan tâm đến ba và nói năng rất thấu tình đạt lý”. Sau khi tôi và khách nghỉ ngơi chốc lát, con gái đã bưng những món ăn nóng hổi lên bàn. Món chính tối hôm đó là cá, anh phóng viên ăn rất ngon miệng và không ngớt lời khen ngợi con gái tôi. Anh nói rằng cháu bé còn nhỏ mà đã có thể nấu được những món ăn vừa miệng đến vậy; anh còn khen cháu rất thiện lương, biết thể hiện sự quan tâm đến cha mẹ, và rằng cha mẹ nuôi dưỡng được một đứa trẻ như thế đúng là may mắn.
Thứ hai, cần phải biết quan tâm đến những người xung quanh. Cha mẹ chính là tấm gương cho con cái, những gì cha mẹ làm và nói, trẻ đều sẽ học theo. Dưới sự ảnh hưởng của những hành vi thiện lương từ cha mẹ, trẻ sẽ dần dần học được cách quan tâm đến mọi người. Trước đây, hàng xóm nhà chúng tôi là một cụ ông góa vợ đã ngoài 70 tuổi. Vợ cụ đã qua đời nhiều năm, tuy có con cái nhưng vì tính tình cụ cổ quái, ngang ngược, quan hệ với các con không tốt nên cụ sống đơn độc một mình. Vợ tôi là một người thiện lương, thích giúp đỡ người khác. Thấy cụ ông sống cô quạnh đáng thương, cô ấy thường sang trò chuyện để giúp cụ giải tỏa nỗi ưu phiền của cảnh neo đơn. Thế nhưng cụ ông này có tính cách hơi kỳ lạ, chỉ cho đứng ngoài cửa nói chuyện chứ không cho ai vào nhà. Vợ tôi cũng vui vẻ chấp thuận yêu cầu đó. Sau này, theo thời gian, vợ tôi thường xuyên giúp cụ làm một số việc, khoảng cách tình cảm giữa chúng tôi và cụ dần thu hẹp lại, mỗi khi có việc cụ đều tìm đến chúng tôi nhờ giúp đỡ. Đặc biệt là vào năm 1997, khi cả nhà chúng tôi đều đã tu luyện Đại Pháp, cụ ông bị bệnh phải nằm viện. Con trai, con dâu, con gái và con rể của cụ đều thờ ơ không hỏi han, dường như việc ông lâm bệnh chẳng hề liên quan gì đến họ. Trong hoàn cảnh đó, cả nhà chúng tôi đều chung tay giúp đỡ, vừa đến bệnh viện chăm sóc, vừa nấu cơm ở nhà rồi mang vào viện cho cụ. Để bồi dưỡng tấm lòng quan tâm đến người khác cho các con, đôi khi chúng tôi để các cháu tự đi đưa cơm cho ông. Năm sau, gia đình chúng tôi chuyển đi nơi khác. Khi chia tay, cụ nắm tay vợ tôi, mắt rưng rưng xúc động nói: “Cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ của gia đình cô chú bấy lâu nay, giờ mọi người chuyển đi rồi, tôi biết sống sao đây!” Do chuyển đi khá xa nên chúng tôi ít có dịp quay lại thăm cụ. Sau này, cụ lâm trọng bệnh rồi qua đời.
Sư phụ đã giảng:
“Kỳ thực làm một người tu luyện, quá khứ hoàn toàn không quan tâm trong người thường các vị nghĩ thế nào. Các vị nghĩ tôi tốt, nghĩ tôi xấu, đó chỉ là cách nghĩ của người thường, đối với người tu luyện mà nói thì không đáng gì. Ai quản người thường các vị như thế nào? Tu là tu bản thân tôi, người ta tu viên mãn rồi rời đi, người thường thích thế nào thì thế nấy, có tội thì người đó phải gánh chịu, không đạt nữa thì tiến nhập vào sự đào thải của lịch sử là được rồi, quá khứ chính là như vậy. Từ bi mà đệ tử Đại Pháp chúng ta hôm nay biểu hiện, là quá khứ bất kể sinh mệnh nào trong tu luyện cũng đều không làm được. Làm một đệ tử Đại Pháp, một người từ bi vĩ đại nhất, trong bất kể hoàn cảnh nào ở xã hội nhân loại cũng đều là xuất sắc nhất, từ bi nhất, đối với sinh mệnh đều là có chỗ tốt. Trong giảng rõ chân tướng chẳng phải nên là như vậy sao? Chúng ta chính là đang thực thi như vậy, đây là từ bi của một người tu luyện Đại Pháp, chứ không phải hoạt động nào đó của người thường”. (Giảng Pháp tại Pháp hội Great Lakes ở Bắc Mỹ)
Đệ tử Đại Pháp sau khi tu luyện, mọi việc đều chiểu theo Pháp lý của Đại Pháp mà yêu cầu bản thân, dĩ nhiên sẽ làm tốt hơn trước kia. Đặc biệt là trong suốt 11 năm (kể từ 20/7/1999) cuộc bức hại tàn khốc của tà đảng Trung Cộng đối với Pháp Luân Đại Pháp và các đệ tử Đại Pháp, nhiều học viên đã bất chấp nguy hiểm bị bắt bớ, bị đánh đập, bị giam cầm phi pháp, bị kết án phi pháp, thậm chí là bị bức hại đến chết, vẫn kiên định không chút do dự giảng rõ chân tướng, vạch trần tà ác, cứu độ thế nhân. Đây chính là thiện hạnh lớn lao nhất, là lòng từ bi vĩ đại nhất, vượt xa mọi hình thức từ thiện của bất kỳ sinh mệnh nào từ xưa đến nay.
Sau khi tập đoàn tà ác Giang Trạch Dân bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công vào tháng 7/1999, các phương tiện truyền thông tại Trung Quốc đại lục đã đẩy mạnh cuộc đàn áp tà ác, đẫm máu và tàn bạo nhất lịch sử nhân loại này. Chúng điên cuồng vu khống, phỉ báng Pháp Luân Công, kích động nhân dân cả nước thù hận Đại Pháp, tiến hành tẩy não tuyên truyền trên diện rộng, đầu độc vô số chúng sinh. Để cứu vãn những sinh mệnh bị lừa dối, giúp họ không phạm tội với Đại Pháp và có được một tương lai tốt đẹp, vợ tôi đã mang lòng từ bi vô hạn bắt đầu giảng chân tướng cứu người. Những người dân từng nghe vợ tôi giảng chân tướng đều gọi cô ấy là “Bồ Tát sống”, là “Đại thiện nhân”. Ngay cả với những kẻ được tà đảng phái đến để theo dõi, giám sát, vợ tôi vẫn giữ tấm lòng cứu độ chúng sinh từ bi vô lượng, thường xuyên giảng chân tướng và đạo lý thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo cho họ. Tuy nhiên, do bị độc hại quá sâu bởi tà đảng, họ ngoài mặt thì nói Pháp Luân Công tốt nhưng sau lưng lại báo cáo tình hình với sếp của mình. Việc họ làm là điều Thần không cho phép, và dĩ nhiên họ phải gánh chịu trừng phạt. Mùa hè năm 2002, hai kẻ giám sát chúng tôi đã bị người khác chém trọng thương. Cảnh tượng lúc đó thật thê thảm: nhóm đối phương có bảy tám người cầm dao, dồn hai kẻ này vào trong phòng rồi chém loạn xạ. Giữa mùa hè nóng nực, chúng mặc quần đùi, bị đối phương dùng dao dài hai ba thước đâm vào đùi, còn ngoáy thêm mấy vòng, máu chảy đầy đất, sau đó nhóm người kia nghênh ngang rời đi. Vợ tôi nhìn thấy cảnh đó liền lập tức báo cảnh sát. Sự việc xảy ra nhưng không một ai đứng ra quản. Vợ tôi bèn đích thân chạy đi tìm những người ở văn phòng khu phố, đồn công an, ban trị sự dân phố vốn tham gia bức hại Pháp Luân Công, chất vấn họ: “Chính các người phái người đến giám sát Pháp Luân Công, giờ xảy ra chuyện tại sao các người lại không quản?” Khi họ nhập viện, vợ tôi vẫn từ bi với họ, mua quà cáp cao cấp đến thăm hỏi. Một người trong đó xúc động nói: “Chị ơi, em sai rồi, từ nay về sau em sẽ không làm những việc như vậy nữa”. Sau khi xuất viện, người này không còn đến giám sát chúng tôi nữa. Kẻ còn lại vì mê mờ bởi tiền tài, sau khi vết thương lành vẫn không hối cải, tiếp tục tham gia bức hại để kiếm những đồng tiền bán rẻ lương tâm. Sau này, hắn ta đã thắt cổ tự tử ngay tại nhà mình. Kẻ này vốn là một tên sát nhân, ngay cả vợ mình hắn cũng muốn giết, từng bị kết án tù nhiều năm, thuần túy là hạng du côn vô lại. Không ai ngờ hắn lại tự sát, đây thật sự là sự trừng phạt của thiên thượng.
Trong cuộc bức hại vô nhân tính này, nhiều người con trong gia đình các đệ tử Đại Pháp, dưới sự dẫn dắt của người thân, cũng đã gia nhập vào hồng thế giảng chân tướng cứu người. Các em đã thể hiện sự đại thiện, đại ái của mình, từ đó thụ lập nên uy đức của bản thân trong tiến trình Chính Pháp.
Thêm vào đó, chúng ta còn cần phải biết yêu thương các sinh mệnh xung quanh mình. Con trai tôi khi đang học lớp tám, có một buổi tối mùa đông cháu về nhà khá muộn. Khi được hỏi lý do tại sao không về nhà đúng giờ, cháu chậm rãi lấy từ trong lồng ngực ra một thứ, hóa ra là một chú chó nhỏ. Tôi hỏi con lấy chú chó này ở đâu, cháu kể rằng trên đường về nhà, cháu thấy chú chó này đang rên rỉ bên lề đường, tiếng kêu rất yếu ớt, có lẽ là bị ai đó bỏ rơi. Cháu liền dừng xe đạp, ngồi xuống quan sát một hồi và thấy chú chó thật đáng thương. Cháu nghĩ, thời tiết lạnh giá thế này, nếu không ai quan tâm, chắc chắn nó không sống nổi đến sáng mai. Thế là cháu ủ chú chó vào lồng ngực cho ấm rồi mang về nhà, hy vọng chúng tôi có thể nuôi dưỡng nó thật tốt. Tuy rằng chú chó này vốn bị bệnh nên cuối cùng đã không qua khỏi, nhưng qua việc này, chúng tôi đã nhìn thấy hành vi tốt đẹp, thuần khiết, lương thiện và lòng trân quý sinh mệnh của con trai mình.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện thực, chúng ta thường xuyên nhìn thấy hoặc nghe thấy những chuyện không khỏi đau lòng. Gần đây, tôi nghe một đồng tu kể câu chuyện thế này: Một vị giáo sư sang Thụy Sĩ giảng dạy, trong thời gian đó ông có đến nhà một người bạn nước ngoài làm khách. Khi người bạn và vị giáo sư đang trò chuyện ở phòng khách, đứa con của người bạn ngồi xem tivi bên cạnh. Đang nói chuyện, đứa trẻ bỗng hét lên kinh hãi: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Vợ người bạn đang nấu cơm trong bếp, nghe tiếng hét khiếp đảm của con liền lập tức lao ra hỏi: “Có chuyện gì vậy?” Đứa trẻ một tay che mắt, một tay chỉ vào tivi, khóc lóc sợ hãi: “Mẹ nhìn kìa, đáng sợ quá!”
Hóa ra trên tivi đang phát một chương trình của Trung Quốc: Một cặp vợ chồng đưa con đi chơi sở thú, ở đó người ta chuẩn bị sẵn những con vật nhỏ để cho cá sấu ăn — đó là những con vịt con còn sống. Có em nhỏ nắm lấy vịt con ném thẳng về phía cá sấu. Cá sấu há miệng đớp gọn và nuốt chửng con vịt trong nháy mắt. Thấy con mình ném vịt cho cá sấu ăn một cách chuẩn xác, cha mẹ đứa trẻ liền vỗ tay khích lệ. Thế là đứa trẻ lại bắt con vịt thứ hai ném đi… Chứng kiến cảnh tượng máu me đó, vợ người bạn phẫn uất nói: “Người Trung Quốc thật quá dã man!” Lúc này, vị giáo sư ngồi bên cạnh không nói được lời nào, chỉ thấy mặt nóng bừng, trong lòng cảm thấy xót xa vì sự tàn nhẫn của chính đồng bào mình.
Thế nhưng đó không phải là chuyện hiếm. Hôm nay trên mạng tôi lại thấy một đoạn video phóng sự: Có mấy chú thỏ trắng bị nhốt trong một chiếc lồng sắt đặt tại góc tường. Sau đó, một cô gái trẻ bắt từ trong lồng ra một chú thỏ, ban đầu cô ấy còn hôn chú thỏ, rồi bế nó đến đối diện với ống kính nói “Hello”. Thế nhưng ngay sau đó, cô ấy giơ cao chú thỏ lên rồi đột nhiên hung ác ném mạnh nó xuống bàn. Một lát sau, cô gái này lại ôm chú thỏ vào lòng vuốt ve, rồi bỏ vào túi quần của mình. Tiếp đó, cô ấy lấy một tấm kính dày đè lên thân thể chú thỏ ngay trước ống kính. Lúc này, cơ thể chú thỏ đã bị biến dạng, bốn chân không ngừng giãy giụa. Tuy nhiên, sự đau đớn của sinh mệnh nhỏ bé ấy chẳng hề khiến cô động lòng trắc ẩn, trái lại, cô còn ngồi trực tiếp lên tấm kính để nghiền nát, cho đến khi đầu chú thỏ bị ép bẹt, cơ thể không còn động đậy mới thôi. Từ hình ảnh cho thấy, đây đã là chú thỏ bất hạnh thứ ba. Trong đoạn video đó, trong phòng còn có hai cô gái trẻ khác ngồi trên ghế sofa; trong suốt quá trình “nữ chính” hành hạ chú thỏ, họ không những không ngăn cản mà trái lại còn cười đùa không ngớt. Qua đây chúng ta có thể thấy nhân tính ở Trung Quốc đại lục đã bị bóp méo đến mức độ nào.
Dưới ảnh hưởng của tư tưởng “triết học của Đảng Cộng sản là triết học đấu tranh”, những đứa trẻ lớn lên bằng “sữa sói” dĩ nhiên sẽ thiếu đi lòng nhân ái. Những năm gần đây, chúng ta đã mắt thấy tai nghe không ít những chuyện như vậy: trẻ nhỏ bóp chết gà con trong nhà, ngược đãi mèo, dùng gậy đánh đập chó của hàng xóm… thậm chí tệ hơn nữa, có những đứa trẻ mười mấy tuổi đã giết hại cha mẹ, giết thầy cô, giết bạn học, điều đó thật kinh khủng biết bao! Khi những chuyện như thế xảy ra với con trẻ, chẳng lẽ người làm cha mẹ lại không có chút trách nhiệm nào sao? Chúng ta là những người làm cha mẹ, không thể chỉ biết cho con tình yêu thương, mà còn phải giáo dục con biết yêu quý sinh mệnh, yêu thương người khác, yêu thiên nhiên; để trẻ từ trong từng chút việc nhỏ nhặt hằng ngày dần dần hình thành nên phẩm tính lương thiện và nhân ái. Có như vậy, xã hội của chúng ta mới có khả năng tiến về phía trước theo hướng tốt đẹp; mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với các sinh mệnh khác, giữa con người với môi trường tự nhiên mới có thể phụ thuộc lẫn nhau và phát triển hài hòa.