Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Hán Vũ Đế là bậc thiên cổ nhất Đế, trên cùng Tần Thủy Hoàng được xưng “Tần Hoàng Hán Vũ”, dưới cùng Đường Thái Tông khai mở ra thời kỳ “Hán Đường Thịnh Thế”. (Ảnh: Dữu Tử/The Epoch Times)

Khi Hán Vũ Đế bắc chinh Hung Nô, liên thông Tây Vực, thì cũng mở rộng phạm vị phía nam, phía tây cho đến vùng đông bắc, làm cho lãnh thổ nhà Hán vào đoạn sau thời trị vì của Hán Vũ Đế trở nên cực kỳ rộng lớn. Khi ấy, cương vực Tây Hán ở phía tây bắc bao gồm cả vùng Tân Cương và Cam Túc ngày nay, phía tây nam kéo dài suốt dải núi Cao Lê Cống và núi Ai Lao Vân Nam ngày nay, phía nam đến Phúc Kiến, đảo Hải Nam, đông bắc mở rộng tới tận bán đảo Triều Tiên, Đại Hải. Ngoại trừ một số vùng cục bộ bị thu nhỏ, cương vực rộng lớn đó được duy trì đến tận những năm cuối Tây Hán. Hán Vũ Đế có cống hiến lớn nhất trong việc mở rộng biên cương nhà Hán.

Thống nhất hai nước Việt

Trong “Hán thư – Thực hóa chí” có ghi: “Vũ đế nhân văn cảnh chi súc, phẫn hồ, việt chi hại.” Tạm dịch là: Vì sự việc gia súc thời Văn Đế, Cảnh Đế bị cướp, nên Vũ Đế tức giận người Hồ và người Việt. Hồ là chỉ dân tộc thiểu số phương bắc, khi ấy chủ yếu là Hung Nô. Việt là chỉ Bách Việt, là dân tộc cổ ở phương nam, sống phân bố ở phía nam trung hạ du sông Trường Giang. Câu chuyện “Nếm mật nằm gai” của Việt Vương Câu Tiễn thời Xuân Thu được nhiều người biết. Đến thời Tây Hán, tộc Việt chủ yếu phân làm hai nhánh, nhánh Nam Việt nằm ở dải Quảng Đông, Quảng Tây, nhánh Đông Việt nằm ở dải Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tây, nội bộ nhánh Đông Việt lại phân thành Mân Việt và Đông Âu, đều nhận sắc phong của nhà Hán.

Bản đồ nước Nam Việt thời đầu lập quốc. (Wikimedia)

Thời Vũ Đế, người Hung Nô cực kỳ cuồng bạo, người Bách Việt dựa vào nhà Hán, nhưng vẫn chưa an phận. Phần trước đã nói, năm Kiến Nguyên thứ ba (năm 138 TCN), Mân Việt bao vây đánh Đông Âu, nước Đông Âu cầu cứu nhà Hán. Hán Vũ Đế lập tức phái binh vượt biển cứu viện, buộc Mân Việt lui quân. Dân Đông Âu sợ sau khi quân Hán rút thì Mân Việt lại tiến đánh, nên di dời đến vùng Trường Giang và sông Hoài. Dần dần tộc Đông Âu dung hợp vào tộc Hán.

Năm Kiến Nguyên thứ tư, vua Mân Việt là Dĩnh lại xuất binh đánh Nam Việt. Khi ấy Nam Việt Vương Triệu Hồ (cũng gọi là Triệu Mạt, Triệu Muội, tức Triệu Văn Đế, cháu Triệu Đà) cầu cứu Hán Vũ Đế, nói hai nước đều là chư hầu của Đại Hán, không thể đánh lẫn nhau, hy vọng Thiên tử xuống chiếu xử lý. Hán Vũ Đế thấy Nam Việt Vương có lòng trung nghĩa, nên lập tức phái binh đánh Mân Việt. Khi đó, em vua Mân Việt là Dư Thiện đã giết Dĩnh rồi đầu hàng nhà Hán. Hán Vũ Đế tiếp tục duy trì nước Mân Việt, lập vua mới, gọi là Dao Vương.

Để đáp tạ Hán Vũ Đế, Nam Việt Vương cho Thái tử Triệu Anh Tề đến Trường An, một mặt là học điển chương chế độ Hán triều, sau này dùng để quản lý Nam Việt, mặt khác cũng là biểu hiện lòng thần phục vĩnh viễn nhà Hán. Triệu Anh Tề khi ở Trường An, lấy một người Hán họ Cù làm vợ, sinh được con trai tên là Triệu Hưng.

Năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Nam Việt Vương lâm bệnh nặng, Triệu Anh Tề phải về nước, đồng thời kế thừa vương vị, ông dâng thư cho Hán Vũ Đế thỉnh cầu lập Cù Thị làm hoàng hậu, Triệu Hưng làm Thái tử, được Hán Vũ Đế chấp thuận. Sách sử ghi lại, Triệu Anh Tề là một bạo chúa, do vậy mà Hán Vũ Đế nhiều lần phái sứ giả đến Nam Việt quốc, dùng lời nhẹ nhàng khuyên Triệu Anh Tề đi Trường An triều bái Hán Vũ Đế. Triệu Anh Tề lo rằng sau khi vào kinh, Hán Vũ Đế sẽ cho làm chư hầu nội địa, chấp hành pháp lệnh Hán triều, nên lấy cớ bị bệnh không đi, chỉ cho con trai là Triệu Tư Công đến Trường An làm thị vệ.

Năm Nguyên Đỉnh thứ hai (năm 115 TCN), Triệu Anh Tề bị bệnh qua đời, Thái tử Triệu Hưng kế vị, Cù Thị trở thành Vương Thái hậu. Lúc này, Hán Vũ Đế cơ bản đã bình định Hung Nô, chuẩn bị thu nạp Nam Việt vào bản đồ. Thế là ông phái sứ thần đi Nam Việt, mục đích khuyên Nam Việt Vương và Cù Thị đồng ý làm chư hầu, đồng thời xóa bỏ biên giới của Nam Việt. Nhưng việc này bị Thừa tướng Nam Việt là Lữ Gia phản đối. Lữ Gia là lão thần ba đời, có địa vị tôn quý, ông cực lực phản đối việc quy thuộc nhà Hán, thậm chí còn làm phản giết cả Thái hậu cùng Nam Việt Vương.

Hán Vũ Đế liền quyết định đánh Nam Việt, năm Nguyên Đỉnh thứ năm (năm 112 TCN), ông xuất quân hai nghìn binh, kết quả thất bại. Sau đó Hán Vũ Đế phái 10 vạn đại quân, phân làm 5 đường, trong vòng một năm đã bình định xong phản loạn Lữ Gia. Sau này, Hán Vũ Đế thiết lập ở Nam Việt 9 quận: Đam Nhĩ, Châu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Giao Chỉ…ngày nay là Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, bắc bộ Việt Nam, trong đó hai quận Đam Nhĩ, Châu Nhai ở trên đảo Hải Nam. Nam Việt đã hoàn toàn nằm trong bản đồ nhà Hán.

Bản đồ nhà Hán (màu hồng) cùng Nam Việt (Nanyue), Mân Việt (Minyue) và Âu Việt (Ouyue). (Wikipedia)

Khi Lữ Gia tạo phản, Dư Thiện bên tông thất Mân Việt cũng bắt đầu rục rịch tạo phản. Dư Thiện tự cho mình là có công lao cao hơn Dao Vương, được người trong nước quy phục, nên tự lập mình làm vương. Hán Vũ Đế nghe tin, cho là việc này không đáng phải động binh, chỉ cần khuyên bảo vỗ về, phong Dư Thiện làm Đông Việt Vương, ngang hàng Dao Vương.

Nhưng Dư Thiện Đông Việt Vương vẫn chưa vừa ý. Nhân việc Lữ Gia tạo phản, hai người này bí mật câu kết đối phó Thiên tử nhà Hán. Dư Thiện dâng thư lên Hán Vũ Đế, thỉnh cầu xin 8 nghìn binh sĩ, ý là theo thủy quân nhà Hán đi đánh Lữ Gia. Đợi quân Hán đến Khế Dương, Dư Thiện lấy cớ sóng to gió lớn nên không tiến tiếp, đồng thời báo tin cho Lữ Gia. Khi quân Hán đánh đến Phiên Ngung, quân Dư Thiện cũng vẫn chưa tới.

Tướng Hán là Dương Bộc thỉnh cầu thừa thắng bình định luôn Mân Việt, nhưng Hán Vũ Đế suy xét quân binh đã mệt, nên không đồng ý, cho hạ trại đợi lệnh. Ai ngờ Dư Thiện nghe được việc này, công khai tạo phản. Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu (năm 111 TCN), Dư Thiện dẫn quân đánh quân Hán. Hán Vũ Đế bèn hạ lệnh 4 lộ đại quân tiến vào Mân Việt, chiến sự có thắng có thua, sau này Việt Diễn Hầu Ngô Dương khuyên hàng Dư Thiện không thành, liền cùng 700 người khởi nghĩa, lại lập mưu với mấy người Dao Vương, cho rằng quân Hán vừa đông vừa mạnh, mà Dư Thiện lại là tên đầu sỏ hành ác, chi bằng giết Dư Thiện quy thuận Hán, làm vậy có thể tránh được tội. Thế là Dư Thiện chết trong nội loạn, Đông Việt cũng bình định xong.

Sau đó, Hán Vũ Đế lệnh cho Dao Vương xuống làm Chư Hầu Vương của nhà Hán, các tướng sĩ khác cũng luận công ban thưởng. Còn đối với Mân Việt quốc, Hán Vũ Đế nhận định, Mân Việt đất rộng hiểm trở, dễ thủ khó công, người Việt lại hay tạo phản, do vậy hạ lệnh di dân phần lớn đến vùng giữa Trường Giang, Hoài Thủy. Cả vùng còn lại hầu như hoang vắng không người, quy về quận Kê quản lý.

Từ đây, Hán Vũ Đế kết thúc việc mở rộng về nam, xác lập biên giới phía nam của nhà Hán, biểu thị uy quyền chói lọi của Thiên tử.

Mở rộng tây nam

Nhiều người đều biết đến thành ngữ “Dạ Lang tự đại”, chỉ kẻ cuồng vọng vô tri, tự phụ tự đại, câu đó bắt nguồn từ “Sử ký – Tây nam Di liệt truyện”. Năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Hán Vũ Đế muốn tìm đường đến Thân Độc (nay là Ấn Độ), phái sứ giả đến nước Điền nay là Vân Nam. Điền Vương hỏi sứ giả nhà Hán: “Nước ta và nước Hán, ai lớn?”. Sau này khi sứ giả nhà Hán trên đường qua nước Dạ Lang, nay là Quý Châu, Dạ Lang Hầu cũng nêu ra câu hỏi tương tự. Khi ấy nước Dạ Lang ở phía tây nam, cũng được xem là nước lớn, nước giàu binh mạnh. Sứ giả nhà Hán nói, nhà Hán rộng hơn Dạ Lang quốc vài chục lần, quốc lực cực kỳ hùng mạnh, dân chúng giàu có. Dạ Lang Hầu nghe xong không khỏi trợn mắt há mồm.

Tư Mã Tương Như không chỉ viết tác phẩm trứ danh “Thượng lâm phú”, mà còn có cống hiến lớn giúp Hán Vũ Đế đả thông tây nam. Trong hình là một phần bức tranh “Thượng lâm đồ” của Cừu Anh đời Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Vậy tây nam Di ở đâu? Vào thời Tần Hán, tây nam Di là chỉ các vùng dân tộc thiểu số dọc dải Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam ngày nay. Các nước như Dạ Lang, Bặc phía nam Ba Thục gọi là “Nam Di”; các nước Cung, Tạc, Nhiễm, Mang phía tây Ba Thục gọi là “Tây Di”. Tần Thủy Hoàng từng thiết lập quận huyện ở vùng Tứ Xuyên, nhưng tới thời đầu nhà Hán, triều đình không ngó ngàng đến tây nam Di, tận đến thời Hán Vũ Đế năm thứ sáu mới bắt đầu khai thông tây nam.

Giống với việc khai thông Tây Vực, mục đích ban đầu của Hán Vũ Đế khi đả thông tây nam Di chính là bình định phản loạn Nam Việt. Năm Kiến Nguyên thứ sáu (năm 135 TCN), sau khi Mân Việt Vương Dư Thiện sát hại vua Dĩnh, đầu hàng nhà Hán, Đại tướng nhà Hán Vương Khôi cho Đường Mông đi khuyên dụ Nam Việt, nói cho họ biết ý đồ xuất binh của nhà Hán. Người Nam Việt mang tương Câu Kỷ, là đặc sản của quận Thục ra chiêu đãi, còn nói rằng: “Tương này lấy từ vùng tây bắc sông Tang Kha (nay là vùng Vũ Ninh, Thủy Thành, Quan Lĩnh thuộc Quý Châu), sông Tang Kha rộng vài dặm, chảy qua chân thành Phiên Ngung”.

Sau khi Đường Mông về đến Trường An, hỏi thăm thương nhân quận Thục. Thương nhân đáp: “Chỉ có quận Thục sản xuất tương Câu Kỷ, người bản địa mang trộm đi bán ở Dạ Lang. Dạ Lang dựa sát sông Tang Kha, sông rộng trăm thước, có thể đi thuyền. Nam Việt muốn dùng tài vật làm Dạ Lang quy phục, họ cũng có thế lực mạnh như Đồng Sư ở phía Tây, nhưng vẫn không thể làm Dạ Lang thần phục nô dịch”.

Thế là Đường Mông dâng thư lên Hán Vũ Đế, kiến nghị thông qua nước Dạ Lang, đưa chiến thuyền theo sông Tang Kha để chế phục Nam Việt. Hán Vũ Đế chấp thuận, lệnh cho Đường Mông lĩnh nghìn đại quân cùng nhiều tài vật ban thưởng, để thuyết phục Dạ Lang. Cuối cùng Dạ Lang Hầu chấp nhận kết liên minh. Hán Vũ Đế đặt Dạ Lang làm quận Kiền Vi, đồng thời điều động binh sĩ từ hai quận Ba, Thục làm đường từ Bặc (nay là Nghi Tân, Tứ Xuyên) một mạch đến tận sông Tang Kha. Do công trình độ khó rất cao nên bách tính Ba Thục oán trách. Hán Vũ Đế phái đặc sứ đến trách vấn Đường Mông, đồng thời an ủi dân chúng địa phương, vị đặc sứ này chính là vị đại văn hào nổi danh Tây Hán Tư Mã Tương Như.

Nhắc đến Tư Mã Tương Như, mọi người đều biết văn phong ưu nhã của ông, hạ bút thành thơ, những bài phú ông viết đã trở thành thành tựu văn học lớn nhất thời Hán. Chuyện tình của ông với Trác Văn Quân cũng làm hậu thế tấm tắc. Nhưng thực ra ông còn có một cống hiến to lớn khác, đó là giúp Hán Vũ Đế đả thông tây nam.

Năm Nguyên Quang thứ năm (năm 130 TCN), Tư Mã Tương Như về đến đất Thục, đây cũng là cố hương của ông. Biết rằng dân chúng chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc đả thông tây nam Di của nhà Hán, ông viết 2 bài hịch để nói rõ ý nghĩa cho dân chúng là “Dụ Ba Thục hịch” và “Nan Thục phụ lão”. Trong đó “Nan Thục phụ lão” dùng lối văn biện luận, lấy lời của sứ giả để giải thích mối quan hệ qua lại lẫn nhau giữa Ba Thục, tây nam Di và Trung Nguyên, đồng thời biểu thị sự đồng tình thấu hiểu với người dân đất Thục. Ngày nay đọc lại, chúng ta vẫn cảm nhận được sức mạnh “Văn hiểu nhi dụ bác, hữu di dịch chi cốt yên” Tạm dịch: Lời văn trong sáng mà uyên thâm, mang hồn cốt của bài hịch. (Trích: Văn tâm điêu long)

Sau khi Tư Mã Tương Như về tới Trường An, các thủ lĩnh bộ tộc Cung, Tạc cũng muốn được nhà Hán ban thưởng, thỉnh cầu quy phục. Hán Vũ Đế hỏi ý kiến Tư Mã Tương Như, ông chỉ ra, vùng tây Di gần đất Thục, thời Tần chưa đặt quận huyện, nếu nay khai thông lần nữa, sẽ thuận lợi hơn nhiều so với việc khai thông nam Di. Hán Vũ Đế rất đồng tình, phong ông làm Trung Lang Tướng, cho đi sứ tây Di. Quy mô đoàn sứ giả đi tây Di rất lớn, có 4 vị phó sứ với 4 cỗ xe tứ mã, cùng nhiều tài vật ban thưởng người ở tây Di. Sau này khi về tới đất Thục, quan Thái thú ra tận ngoài thành nghênh đón. Nhạc phụ của Tư Mã Tương Như là Trác Vương Tôn cùng nhiều danh sĩ cũng đến chào hỏi. Trác Vương Tôn cũng tặng ông nhiều tài vật, biểu thị sự tôn trọng đối với con rể.

Thông qua lần đi sứ này của Tư Mã Tương Như, các nước tây Di đã trở thành thuộc quốc của nhà Hán. Hán Vũ Đế rất vui mừng, cho đặt hơn 10 huyện, đều thuộc quyền quản lý của quận Thục. Nhưng về sau nhà Hán bận đánh Hung Nô phía bắc nên Hán Vũ Đế tạm buông tiến trình tây nam Di, dừng các công trình đường xá, bỏ các huyện vừa thiết lập. Nước Dạ Lang cũng dần dần ngả về Nam Việt, các bộ lạc Cung, Tạc cũng bắt đầu nổi loạn.

Năm Nguyên Thú thứ ba (năm 120 TCN), việc đánh Hung Nô phía bắc kết thúc, Hán Vũ Đế cho khôi phục lại việc khai phá tây nam Di. Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu (năm 111 TCN), Nam Việt đã hoàn toàn nằm trong bản đồ nhà Hán, Dạ Lang Hầu cũng thần phục Hán Vũ Đế, được phong làm “Dạ Lang Vương”, nhà Hán đã khống chế toàn bộ vùng Dạ Lang.

Sau đó, nhà Hán chuẩn bị bình định các bộ lạc Cung, Tạc. Các bộ lạc đó rất sợ hãi, đều biểu thị thần phục, đồng thời thỉnh cầu nhà Hán cho đặt chức lại. Hán Vũ Đế cho đặt 4 quận, lấy kinh đô của xứ Cung là quận Việt Tây, kinh đô của xứ Tạc là quận Trầm Lê, Nhiễm, Mang là quận Văn Sơn, Quảng Hán Tây Bạch Mã là quận Vũ Đô.

Đồng thời, Hán Vũ Đế muốn chiêu hàng Điền Vương, nhưng lại bị các bộ tộc liên minh là Lao Thâm, Ma Mạc phản đối. Năm Nguyên Phong thứ hai (109 TCN), nhà Hán cất quân thảo phạt Lao Thâm, Ma Mạc, Điền Vương lúc này mới hoàn toàn thần phục, thỉnh cầu triều đình đặt chức lại. Hán Vũ Đế đặt nước Điền làm quận Ích Châu (trụ sở ở nay là huyện Phổ Ninh, Vân Nam), ban ấn tín cho Điền Vương, để ông ta tiếp tục quản lý dân chúng địa phương.

Tới lúc này, về cơ bản là địa khu tây nam Di đã nhập vào phạm vi thống trị của nhà Hán, biên giới Hán triều mở rộng ra tới vùng nay là núi Cao Lê Cống Vân Nam và núi Ai Lao. Bình định cả lưỡng Việt và tây nam Di, cùng với việc mở rộng biên cương, đồng thời cũng xúc tiến giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Hoa Hạ và các vùng này, thêm một bước dung hợp các dân tộc.

Bình định Triều Tiên ở phía Đông

Triều Tiên là thuộc địa của Trung Quốc thời Chiến Quốc. Đến năm đầu Tây Hán, triều đình cho là Triều Tiên xa xôi khó phòng vệ, nên cho nhập vào khu vực quản lý của nước Yên. Sau này Yên Vương Lư Oản phản loạn, chạy tới đất của Hung Nô, người Yên tên là Vệ Mãn tụ tập hơn nghìn người, tiến vào bán đảo Triều Tiên. Vệ Mãn được Triều Tiên Vương Cơ Chuẩn đãi ngộ, không những phong làm Tiến sĩ, ban Ngọc Khuê (dụng cụ bằng ngọc dùng trong nghi lễ của vua chúa thời xưa, trên nhọn dưới vuông), mà còn phong đất ở phía tây Triều Tiên rộng hàng trăm dặm. Mục đích của Cơ Chuẩn là hy vọng Vệ Mãn giúp mình trấn thủ phía Tây, đối phó nhà Hán ở biên giới.

Năm 195 TCN, bán đảo Triều Tiên trước thời Vệ Mãn (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tuy nhiên, Vệ Mãn có dã tâm chính trị, lợi dụng địa hình, không ngừng chiêu nạp người Hán, tích tụ lực lượng chính trị, kinh tế, khi đủ lông đủ cánh liền đánh chiếm vương đô, tự lập làm Vương, quốc hiệu vẫn gọi là “Triều Tiên”, sử gọi là “Vệ Thị Triều Tiên”. Lúc này Vệ Thị khống chế phía bắc bán đảo Triều Tiên, cạnh nước Yên Tây Hán.

Lúc ấy nhà Hán mới lập, chọn chính sách nghỉ ngơi dưỡng sức, vô vi mà trị. Thái thú Liêu Đông từng chủ động ký cam kết với Vệ Mãn: Vệ Mãn là chư hầu của nhà Hán, bảo vệ cho biên cương nhà Hán khỏi bị xâm phạm, không được can nhiễu việc thông thương của các nước với nhà Hán, cùng việc các thủ lĩnh bộ tộc tới bái kiến Thiên Tử. Nhà Hán còn cung cấp thêm cho binh lực, vật tư chi viện.

Có ước định như vậy rồi, Vệ Mãn bắt đầu khuếch trương thế lực, không ngừng thu phục các nước nhỏ lân cận, lãnh thổ lên tới vài nghìn dặm.

Khi vương vị Vệ Mãn truyền đến đời cháu là Vệ Hữu Cừ, thực lực Triều Tiên cũng ngày càng hùng hậu, nên không tôn trọng nhà Hán nữa. Hữu Cừ không chỉ không thông thương triều cống, mà còn cản trở ngoại giao của các nước nhỏ với nhà Hán. Nhưng ý tưởng của Hữu Cừ không thành, vì khi ấy Hán Vũ Đế không thực thi chính sách của Hoàng Lão mà bắt đầu tiến trình đại thống nhất thiên hạ, cũng là kết thúc vận mệnh của Hữu Cừ.

Năm Nguyên Phong thứ hai (năm 109 TCN), Hán Vũ Đế muốn tăng cường quan hệ với chư hầu Vệ Thị Triều Tiên, phái sứ giả Thiệp Hà đi sứ Triều Tiên, khuyên dụ Hữu Cừ thay đổi chính sách đối đầu nhà Hán nhưng không thành. Thiệp Hà tức giận, trên đường về đã sát hại tướng Triều Tiên hộ tống là Tỳ Vương Trưởng, đồng thời cấp báo tình hình cho Hán Vũ Đế. Thế là, Hán Vũ Đế bổ nhiệm Thiệp Hà làm Đô úy quận Liêu Đông. Hữu Cừ bất mãn với sự an bài đó, phát binh tập kích Liêu Đông, giết Thiệp Hà, châm ngòi cho việc Hán Vũ Đế dấy binh chinh phạt Triều Tiên.

Cùng năm ấy, Hán Vũ Đế phái Lâu Thuyền tướng quân Dương Bộc dẫn 5 vạn binh mã, cưỡi chiến thuyền qua biển Bột Hải đánh Triều Tiên, Tả tướng quân Tuân Trệ dân quân đi đường bộ qua Liêu Đông, liên hiệp đánh Triều Tiên. Vệ Hữu Cừ lập tức điều binh khiển tướng, trấn giữ nơi hiểm yếu. Thủy quân Dương Bộc đến Triều Tiên Liệt Khẩu (nay là phụ cận sông Đại Đồng), không đợi lục quân của Tuân Trệ, Dương Bộc tấn công ngay thành Vương Hiểm (Đô thành cổ của Triều Tiên), kết quả bại trận. Đồng thời, bộ binh Tuân Trệ gặp đại quân Triều Tiên ở phía tây cũng không giành được thắng lợi.

Hai lộ đại quân đều bất lợi, Hán Vũ Đế phái sứ thần Vệ Sơn đi khuyên nhủ Vệ Hữu Cừ. Dưới áp lực lớn, Vệ Hữu Cừ nguyện ý hàng phục, phái Thái tử đến triều đình nhà Hán tạ ân, đồng thời hiến cống lượng lớn lương thực, ngựa xe. Nhưng khi Thái tử dẫn theo cả vạn binh sĩ sang Hán triều, sứ thần Vệ Sơn và tướng quân Tuân Trệ nghi ngờ Thái tử có âm mưu, nên yêu cầu quân đội Thái tử không mang theo vũ khí, Thái tử lại nghi ngờ sứ thần và tướng quân mưu hại, nên kéo quân quay về thành Vương Hiểm.

Hán Vũ Đế giận lắm, hạ lệnh cho hai đạo quân ở Triều Tiên tiếp tục đánh thành Vương Hiểm. Dưới áp lực quân Hán, nội bộ Triều Tiên phát sinh chia rẽ, Vệ Hữu Cừ bị phe chủ hòa sát hại, thành Vương Hiểm bị vây hãm, dòng tộc Vệ Thị diệt vong từ đây.

Sau này, Hán Vũ Đế cho đặt 4 quận ở Triều Tiên là Huyền Thố, Nhạc Lãng, Lâm Đồn, Chân Phiên, địa bàn quản lý kéo dài về phía nam lưu vực sông Hán Giang ngày nay.

Thời kỳ Hán Vũ Đế, bắc kích Hung Nô, đông chiếm Triều Tiên, nam diệt Bách Việt, tây bắc vượt Thông Lĩnh, tây nam thông Vân Quý, chinh phục Đại Uyên, đặt định bản đồ biên cương Trung Hoa. Hán Vũ Đế đã khai sáng ra một triều đại Tây Hán cường thịnh phồn vinh nhất, lịch sử gọi “Tần Hoàng Hán Vũ” chính là minh chứng cho công tích vĩ đại đó của ông. Đế quốc Tây Hán phồn thịnh chưa từng có tới nay vẫn khiến người khác phải say mê thán phục.

(Còn tiếp)

Dịch và chỉnh lý từ:

https://www.epochtimes.com/gb/19/8/12/n11448760.htm

https://minhchantuong.com/anh-hung-thien-co/han-vu-de-chuong-8-thong-nhat-hoa-ha-uy-chan-tu-di/