Tác giả: Hoa Phượng Minh, Trương Vân Hiệp

[ChanhKien.org]

Trò lừa của thuyết tiến hóa: Những loài này hàng trăm triệu năm vẫn không tiến hóa. (Ảnh tổng hợp từ website)

Trong ba phần trước (“Trò lừa tiến hóa (1): Người Piltdown”, “Trò lừa tiến hóa (2): Sự ra đời, lộ tẩy và cố chống đỡ của “người vượn” Java, “Trò lừa tiến hóa (3): Định luật tái diễn phôi thai là giả”), chúng ta đã nói về ba bằng chứng đầu tiên mà “giả thuyết tiến hóa” đã nỗ lực tìm kiếm.

“Người Java” (Java Man) được ghép từ “một hộp sọ vượn + một xương đùi người” nằm cách nhau 45 feet; người phát hiện sau đó đã rút lại kết luận, nhưng vẫn bị những người ủng hộ thuyết tiến hóa cố chống đỡ.

“Người Piltdown” (Piltdown Man) là sự ghép nối giữa hộp sọ người và hàm dưới của vượn, đã lừa dối công chúng suốt 41 năm. Còn “Định luật tái diễn” trong phát triển phôi thai là những bức vẽ bị làm giả.

Thuyết tiến hóa mặc dù không thể chứng minh được, nó vẫn liên tục gom góp thêm các hóa thạch mới, rồi suy đoán (chứ không phải là chứng minh) sự tồn tại của “người vượn”.

35. “Người vượn” Java II và “Người vượn” Bắc Kinh

Tượng phục dựng tưởng tượng tại nhà tưởng niệm “Người vượn” Java. (Ảnh: hình do tác giả dựng)

Năm 1929, tại Trung Quốc đã khai quật được một hóa thạch khác được cho là tổ tiên của loài người – “Người vượn” Bắc Kinh. Tính khoa học của phát hiện này khá yếu ớt và đã gây ra tranh cãi rất lớn; phần sau sẽ nói chi tiết, trước hết hãy tập trung vào Java.

Chẳng lẽ thuyết tiến hóa không thể tìm ra một bằng chứng nào ra hồn sao? Một người đầy nhiệt huyết với thuyết tiến hóa khác là G. H. R. Von Koenigswald, ông mơ ước tạo nên bước đột phá lớn từ hóa thạch người vượn. Năm 1930, ông được cử đến Java với tư cách nhân viên của cơ quan phát triển địa chất Đông Ấn Hà Lan. Ông hy vọng có thể khai quật được hóa thạch người vượn mới tại Java để vượt qua “người vượn” Bắc Kinh.

Trong cuốn Meeting Prehistoric Man (Tiếp cận con người tiền sử), ông viết: “Dù đã phát hiện ra người vượn Bắc Kinh, chúng ta vẫn cần tìm thêm một số hóa thạch người đứng thẳng để xác lập những đặc điểm giống người của loại hóa thạch này, và giải quyết những tranh cãi hiện nay”.

36. Sa cơ gặp “quý nhân”, kẻ lừa đảo xuất hiện

Sau năm năm theo đuổi giấc mộng tại nơi phát hiện “người vượn” Java, dù G. H. R. Von Koenigswald đã thuê người địa phương nhặt được không ít hóa thạch vụn, nhưng đều không có giá trị gì. Đến năm 1935, giữa thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế thế giới, nhiệm kỳ của ông tại Cục Địa chất cũng kết thúc, ông buộc phải rời đi. Nhưng ông không muốn từ bỏ, nên đã dựa vào sự hỗ trợ tài chính của vợ và đồng nghiệp để tiếp tục thuê người tìm hóa thạch.

Năm 1936, công nhân do Koenigswald thuê tại địa phương đã tìm thấy nửa hàm trên bên phải của một “người vượn” Java trưởng thành (thực chất là một loài vượn). Phát hiện này không có quá trình khai quật, không có ghi chép địa tầng, điều này đối với giới chuyên môn mà nói hoàn toàn vô nghĩa, không thể xác định niên đại của hóa thạch. Nhưng Koenigswald không bận tâm đến những điều này, ông tuyên bố đây là một “phát hiện trọng đại” – thuyết tiến hóa lại một lần nữa gây chấn động thế giới!

“Phát hiện trọng đại” này đã thu hút nhà cổ nhân học nổi tiếng P. T. de Chardin đến thăm. Trong phần đầu chúng ta đã nói rằng, Tiến sĩ Chardin là một trong những người đặt nền móng quan trọng cho vụ đại lừa đảo “Người vượn” Piltdown. Ông không chỉ là người đầu tiên cùng với Charles Dawson – người phát hiện Piltdown và chuyên gia hàng đầu Arthur Smith Woodward – người đưa ra dự đoán lý thuyết về “người vượn”, đến hiện trường đào bới, mà còn tự mình đào được chiếc răng nanh của “người vượn” đó, đó là một hóa thạch được gia công và mài giũa tinh xảo để mang đặc điểm trung gian giữa vượn và người, hoàn toàn phù hợp với dự đoán của Woodward rằng “nhất định sẽ tìm thấy răng nanh”. Từ đó ông nhanh chóng nổi tiếng và chen chân vào hàng ngũ các nhà nhân học hàng đầu thế giới. Vào năm 1936, khi Chardin đến thăm Koenigswald, vụ lừa đảo “Người vượn” Piltdown vẫn chưa bị vạch trần.

Lúc bấy giờ, P. T. de Chardin không chỉ tỏa sáng với vai trò là thành viên quan trọng trong nhóm phát hiện “người vượn” Java, mà ông còn tham gia vào việc phát hiện “người vượn” Bắc Kinh nổi tiếng (phần sau sẽ vạch trần vụ lừa đảo “người vượn” Bắc Kinh), khiến danh tiếng của ông càng rực rỡ hơn nữa!

Trong chuyến thăm của vị chuyên gia hàng đầu Chardin, G. H. R. Von Koenigswald vừa mừng vừa lo, hết sức cung kính lắng nghe. Sau khi tìm hiểu toàn bộ quá trình về “người vượn” Java mới, Chardin đã đưa ra một kế sách “xoay chuyển cục diện”: khuyên Koenigswald liên hệ với Chủ tịch của Viện khoa học Carnegie (Carnegie Institution for Science) là John Campbell Merriam.

Vậy Merriam là người như thế nào?

37. Mê muội thuyết tiến hóa, cướp Vườn Địa Đàng

Quỹ tư nhân Carnegie do ông vua thép Andrew Carnegie thành lập tại Washington (Mỹ) năm 1902. Mối quan tâm tài trợ của họ đã chuyển từ từ thiện truyền thống, y tế sang khoa học hiện đại, đặc biệt là “thuyết tiến hóa”, thứ được xem là đại biểu cho tiến bộ của nhân loại. Trước đó không lâu, “Người vượn” Bắc Kinh được tài trợ bởi Quỹ Rockefeller đã gây chấn động thế giới. So ra thì Quỹ Carnegie trở nên tụt hậu.

John Campbell Merriam, khi ấy là Chủ tịch của Viện Carnegie đồng thời là một nhà cổ sinh vật học, đã phát biểu trong cuộc họp hội đồng quản trị năm 1925: “Nghiên cứu khoa học là một phương tiện để nắm bắt xu hướng tiến hóa của nhân loại… Theo truyền thuyết cổ xưa, loài người bị trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng để tránh việc họ học được quá nhiều và có thể làm chủ vận mệnh của mình. Một thanh gươm lửa treo trên cổng phía Đông buộc con người phải lao động trên mặt đất… Nhân loại đang học cách vận dụng các quy luật tự nhiên để tạo dựng vận mệnh của chính mình. Trong tương lai, sách vở sẽ viết tiếp rằng: ‘Cuối cùng nhân loại đã bước đến giai đoạn này, trở lại Vườn Địa Đàng, đoạt lấy thanh gươm lửa treo trên cao, và dùng quyền trượng này soi sáng cây sự sống của mình.’”

Muốn đoạt lấy thanh gươm lửa của Thượng Đế, đứng ngang hàng với Thượng Đế? Để thực hiện tham vọng lớn lao này, theo ông, con đường duy nhất là phá bỏ tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời phát triển thuyết tiến hóa thành một dạng tín ngưỡng kiểu tôn giáo để lấp vào khoảng trống niềm tin.

Vì sao Merriam muốn biến thuyết tiến hóa thành một dạng tín ngưỡng tôn giáo?

38. Thực chất thuyết tiến hóa không phải là khoa học, mà là một tín ngưỡng khoác áo khoa học

Bảng 1: Bảng so sánh giữa thuyết tiến hóa, khoa học và tôn giáo

Đặc điểm chính: Tôn giáo/tu hành. Khoa học/“Khoa học” thuyết tiến hóa

1. Trình tự niềm tin: Tôn giáo – Tin trước rồi chứng thực, sau đó trong thực hành cảm nhận được Thần, nhìn thấy và tiếp cận Thần. Khoa học: Chứng thực một phần trước rồi mới tin hoàn toàn, về sau dù chưa chứng thực cũng vẫn tin. Không có chứng cứ, tin trước rồi đi tìm chứng cứ (không tìm được thì làm giả).

2. Giáo chủ: Tôn giáo: Lãnh tụ khai sáng tôn giáo. Khoa học: Những người khai sáng các ngành khoa học Charles Darwin (Alfred Russel Wallace bị gạt bỏ).

3. Giáo lý: Tôn giáo: Các kinh điển tôn giáo. Khoa học: Các nguyên lý, định luật khoa học, các giả thuyết của thuyết tiến hóa.

4. Yêu cầu cơ bản: Tôn giáo: Chính giáo yêu cầu thành tín, không lừa dối. Khoa học: Phải có khả năng lặp lại và được kiểm chứng. Chỉ cần giả thuyết, không cần quan tâm tính lặp lại.

5. Giáo quy: Tôn giáo: Giới luật do giáo chủ đặt ra. Khoa học: Các nguyên lý và định lý khoa học hiện có, ai trái với giáo điều tiến hóa sẽ bị xem là khác biệt.

6. Phạm vi bao quát: Tôn giáo: Chính giáo tìm hiểu quy luật không gian đa chiều, không phá vỡ quy luật không gian ba chiều. Khoa học: Chỉ giới hạn trong không gian ba chiều, liên quan đến bốn chiều là siêu thường. Tự nhận bao trùm mọi sinh mệnh, nhưng nhận thức thực tế rất hạn chế, liên tục phạm sai lầm.

7. Thực hành: Tôn giáo: Chính giáo duy trì đạo đức, thực hành giúp thân tâm lợi ích, ổn định xã hội. Khoa học: Chỉ giải quyết vấn đề trong thế giới ba chiều, bỏ qua nhân quả đạo đức. Sai so với thực tiễn, chỉ giới hạn trong tưởng tượng, coi người là thú, phủ nhận đạo đức.

8. Niềm tin chuyên nhất: Tôn giáo: Tin một tôn giáo, loại trừ tôn giáo khác. Khoa học: Vừa tin khoa học vừa tin Thần sẽ bị xem là dị biệt (như Isaac Newton). Thuyết tiến hóa đối lập với thuyết Thần Sáng Thế, tin tiến hóa thì bóp méo Thần.

9. Giáo đường: Tôn giáo: Các tổ chức tôn giáo, nơi hành lễ. Khoa học: Viện hàn lâm, hiệp hội khoa học, bảo tàng, trường học, giảng đường, kênh truyền thông chính thống. Các bảo tàng, đại học, giảng đường, kênh truyền thông tuyên truyền thuyết tiến hóa

10. Giáo sĩ: Tôn giáo: Nhân viên tôn giáo các cấp. Khoa học: Hệ thống tổ chức, chức danh rõ ràng. Giáo viên, giáo sư, chuyên gia tin thuyết tiến hóa

11. Truyền giáo: Tôn giáo: Giảng dạy giáo lý gắn với đời sống. Khoa học: Giảng dạy khoa học gắn với đời sống. Tuyên truyền, thẩm thấu vào mọi tư tưởng.

12. Tổ chức: Tôn giáo: Hệ thống tôn giáo. Khoa học: Viện khoa học, trường học, đoàn thể. Cơ quan “nghiên cứu” tiến hóa.

13. Trừng phạt: Tôn giáo: Vi phạm giới luật sẽ bị xử phạt, thậm chí bị khai trừ. Khoa học: Người vi phạm quy tắc sẽ mất tương lai học thuật, bị sa thải, thất nghiệp, bị chế giễu

Nhìn vào bảng này, có thể hiểu rằng thực chất thuyết tiến hóa không phải là khoa học. Khoa học luôn có bằng chứng thực nghiệm đi trước, còn thuyết tiến hóa thì không, nó không có chứng cứ, nó là tin trước, rồi sau đó tìm bằng chứng cho niềm tin, tín ngưỡng ấy. Đó là khuôn mẫu của tôn giáo. Nói cách khác, thuyết tiến hóa thực chất là một tôn giáo khoác áo khoa học.

Có người sẽ nói: thuyết tiến hóa ban đầu là một giả thuyết, khoa học cho phép đưa ra những suy đoán táo bạo, nêu ra giả thuyết, đợi sau khi có chứng cứ thì sẽ trở thành khoa học — đây là sự “suy đoán thiện ý” của người ngoài ngành. Thực ra, các chứng cứ của thuyết tiến hóa đều là giả thuyết, không ngừng dùng giả thuyết để chứng minh giả thuyết, không có bất kỳ giả thuyết nào từng được xác thực. Qua những phần bóc trần sau này, mọi người sẽ thấy rằng những “chứng cứ” đó còn giả hơn cả “người vượn Java”.

Từ đó có thể thấy, chủ tịch Viện Carnegie là John Campbell Merriam đã nắm rất chuẩn bản chất của thuyết tiến hóa, bởi vì thuyết tiến hóa chỉ có thể là một dạng tín ngưỡng kiểu tôn giáo.

Đương nhiên, nhà đại bịp – chuyên gia tiến hóa học hàng đầu Pierre Teilhard de Chardin khi để G. H. R. von Koenigswald liên hệ với chủ tịch Viện Carnegie là Merriam, cũng đã nắm rất rõ con người Merriam.

39. Ngược dòng trong nghèo khó, cấp thiết cần thành tích

G. H. R. von Koenigswald lập tức viết thư cho John Campbell Merriam, báo cáo rằng ông đã tiến rất gần đến một “phát hiện” quan trọng – “người vượn Java” mới. Merriam hồi âm đưa ra sự khẳng định, đồng thời mời ông tham dự “Hội thảo chuyên đề về người cổ đại và nguồn gốc loài người” (symposium on early man and the origins of the human race) do Viện Carnegie tổ chức tại Philadelphia vào tháng 03 năm 1937. Tại hội nghị đó, Koenigswald, khi ấy không một xu dính túi, không những gia nhập hàng ngũ những người dẫn đầu trong nghiên cứu tiến hóa loài người, mà còn nhận được một khoản ngân sách nghiên cứu rất lớn.

Dĩ nhiên, tiền không phải nhận miễn phí, ông phải tìm ra một “người vượn” đủ sức thuyết phục, phải tìm được “chứng cứ” cho thuyết tiến hóa mới được.

40. Hóa thạch dùng mưu kế, gom góp khắp nơi

Như đã nói trước đó, hộp sọ và xương đùi của “Người vượn Java” không được khai quật cùng lúc, cùng địa điểm hay cùng tầng địa chất, mà cách nhau 10 tháng, xuất phát từ hai nơi cách nhau 45 feet. Hơn nữa, ghi chép về tầng địa chất lại mơ hồ, nên luôn bị giới học thuật nghi vấn. Cuối cùng, ngay cả người phát hiện là Eugène Dubois cũng phủ nhận “Người vượn Java”, cho rằng đó là hai loài khác nhau – chỉ là giới tiến hóa luận đã không thể thua, nên không thừa nhận sự thẳng thắn của Dubois, mà tiếp tục chối cãi và cố chống đỡ.

Được Quỹ Carnegie hậu thuẫn, G. H. R. von Koenigswald quay lại Java vào tháng 06 năm 1937. Vừa đến nơi, ông đã thuê hàng trăm dân làng đi tìm hóa thạch, và lần này thu hoạch rất lớn. Khi ghi lại trải nghiệm đó, ông viết: “Người địa phương rất vui mừng, mang các hóa thạch thu thập được bán cho chúng tôi, ngay cả phụ nữ và các bé gái cũng tham gia… Chúng tôi huy động tất cả mọi người, cho họ xem mảnh xương thái dương của loài linh trưởng đó, treo thưởng cao để tìm các mảnh còn lại của hộp sọ, mỗi mảnh được thưởng 1 hào! Đây là mức giá rất cao, vì một chiếc răng bình thường chỉ được trả nửa xu hoặc 1 xu… Được một đám thổ dân phấn khích vây quanh, chúng tôi leo lên đồi, thu thập từng mảnh xương. Họ thậm chí còn đập vỡ những hóa thạch lớn sau lưng tôi, rồi bán theo từng mảnh để kiếm tiền!… Chúng tôi đã thu thập khoảng 40 mảnh hóa thạch, trong đó 30 mảnh liên quan đến hộp sọ, ghép lại thành một hộp sọ ‘vượn người đứng thẳng’ gần như hoàn chỉnh — cuối cùng tôi đã tìm thấy nó!”

Hóa thạch “người vượn” mà Koenigswald tự dự đoán và mong đợi đã được tìm thấy theo cách như vậy – gom góp từ những phát hiện rải rác trên bề mặt khắp nơi! Hoàn toàn không có bất kỳ tính nghiêm ngặt khoa học nào.

Đó chính là toàn bộ quá trình ra đời của “Người vượn đứng thẳng Java II”.

Cần lưu ý: tất cả các hóa thạch “người vượn” của Koenigswald đều không có ghi chép khai quật theo tầng địa chất. Những hóa thạch như vậy, đối với giới chuyên môn, vì không thể xác định niên đại nên không có bất kỳ ý nghĩa nào, chẳng khác gì làm giả trực tiếp.

41. Nội chiến công kích tiền bối, nhưng vẫn phải dựa vào tiền bối

Chiếc hộp sọ được gom góp từ khắp nơi này (bất kỳ ai cũng có thể dùng kỹ thuật ghép các mảnh sọ của những cá thể khác nhau thành hình dạng mong muốn, bởi vì nó bị vỡ vụn, không cần quá liền mạch), hoàn chỉnh hơn nhiều so với hộp sọ “Người vượn Java I” mà Eugène Dubois phát hiện. Ông đã gửi cho Dubois một bản báo cáo ban đầu.

G. H. R. von Koenigswald cho rằng “Người vượn Java” do Dubois phát hiện có trán quá thấp, quá nguyên thủy (quá giống vượn, không có chút giống người nào), còn phát hiện của mình mới gần với mắt xích trung gian trong tiến hóa.

Ông phủ định “phát hiện” của bậc tiền bối theo cách này, tự giành lấy vương miện “người phát hiện mắt xích trung gian của tiến hóa”, nhưng lại quên mất một mắt xích then chốt: Đầu vượn làm sao có thể biến thành “người vượn đứng thẳng”?! Dubois đã sai lầm khi ghép thêm xương đùi người được tìm thấy cách đó 45 feet, nhờ vậy “đầu vượn Java” mới biến thành “người vượn đứng thẳng”, và sau này Dubois đã thừa nhận sai lầm. Còn Koenigswald, chỉ dựa vào một “hộp sọ linh trưởng” được gom góp từ khắp nơi, dựa vào đâu nói rằng nó có thể đi đứng thẳng? Không hề có bất kỳ hóa thạch chi dưới nào!

Tuy nhiên, các “chuyên gia” sẽ đưa ra một “lý do” khác: “Định vị hình thái học”. “Người vượn Piltdown” trước đây cũng như vậy — chỉ với một hộp sọ ghép lại, đã khẳng định chắc nịch rằng đó là một “người vượn đứng thẳng”!

42. Sai lầm của “định vị hình thái học”, xuyên suốt toàn bộ tiến hóa

Thế nào gọi là “định vị hình thái học”? Chính là:

(1) Căn cứ vào hình thái của hóa thạch, dựa trên một “bảng thời gian tiến hóa được tưởng tượng và chưa được chứng minh” để xác định niên đại của nó, từ đó chứng minh bảng thời gian tiến hóa;

(2) Dùng một phần, thậm chí chỉ một mẩu xương, dựa trên thuyết tiến hóa chưa được chứng minh, để phục dựng toàn bộ diện mạo của một loài chưa biết và mang tính tưởng tượng, từ đó chứng minh thuyết tiến hóa.

Đây là một sai lầm logic điển hình! Nói nghiêm túc, đó là ngụy biện logic, là sự đánh lừa.

Bảng 2: Bảng so sánh tương tự về sai lầm logic của định vị hình thái

Logic chứng minh của thuyết tiến hóa/ Ví dụ tương tự

1. Điều cần chứng minh: Thuyết tiến hóa là chân lý phổ quát / Bạn là một kẻ ngốc toàn diện

2. Giả định trước: Giả định tiến hóa hoàn toàn đúng / Giả định bạn là một kẻ ngốc toàn diện

3. Suy luận nhỏ: Mắt xích trung gian của tiến hóa sẽ nằm giữa hai loài / Bạn nhất định sẽ phạm sai lầm

4. Tìm chứng cứ: Phát hiện một mẩu xương có thể nằm giữa hai loài (Koenigswald gom góp từ khắp nơi một hộp sọ không hoàn chỉnh, ghép thành mắt xích trung gian giữa vượn và người) / Vì phát hiện bạn có thể phạm một sai lầm

5. Kết luận: Do đó thuyết tiến hóa hoàn toàn đúng / Do đó bạn đúng là một kẻ ngốc toàn diện

6. Lặp lại: “Người vượn” mới của Koenigswald cũng đúng / “Sai lầm có thể có” của bạn vì thế được xác nhận!

Giả định tiến hóa là đúng → vì vậy tiến hóa là đúng. Điều này trong logic gọi là: lập luận vòng tròn, lặp lại đồng nghĩa, tự nói tự chứng, đảo lộn nguyên nhân – kết quả, v.v.

Nếu bạn viết một bài luận văn không liên quan đến tiến hóa mà dùng phương pháp lập luận vòng tròn rồi còn pha trộn giả tạo, người hướng dẫn chắc chắn sẽ cho bạn 0 điểm! Và sẽ lấy bạn làm ví dụ điển hình để phê bình. Nhưng nếu bạn viết luận văn về tiến hóa theo cách này, dùng logic đó, sẽ không ai nói gì bạn, bởi vì các lập luận của thuyết tiến hóa đều như vậy. Sau hơn 100 năm bị “tẩy não” bởi tiến hóa luận, giới học thuật đã quen với điều này. Nếu không ngụy biện như vậy, số ít chứng cứ đáng thương của cái gọi là “chân lý phổ quát” tiến hóa sẽ trở về con số 0!

“Người vượn đứng thẳng Java II” của Koenigswald, logic ngầm của nó là: Vì hộp sọ ghép lại nằm giữa đầu vượn và đầu người (nhưng không thể chứng minh các mảnh xương vỡ đó thuộc cùng một cá thể), nên đó là “người vượn” (thực ra “người vượn” chưa từng được chứng thực; cái tên này cũng quá lộ liễu nên hiện nay giới học thuật hiếm khi nhắc tới, chỉ nói mơ hồ là người hoặc vượn); Vì là “người vượn”, nên nó nhất định có thể đi đứng thẳng, không cần có xương chi dưới vẫn có thể chứng minh nó đi thẳng, tức là “người vượn”! Một kiểu đánh lừa logic điển hình.

43. Tiền bối phủ nhận, hậu bối không nghe, giới học thuật cố chấp chống đỡ

“Koenigswald đang dựng nên một vụ lừa đảo!” — người phát hiện ra “người vượn Java” là Dubois đã công khai viết bài tuyên bố như vậy. Lúc đó, Dubois già đã thừa nhận rằng “người vượn Java” do mình tạo ra khi còn trẻ chỉ là một sự ghép nối sai lầm, hộp sọ thực chất chỉ là của một loài vượn. Tuy nhiên sau đó, Dubois cũng nể mặt Koenigswald mà nói thêm: “Koenigswald có thể không cố ý.”

Nhưng Koenigswald không để ý đến điều đó. Lúc này, ông mới là “ngôi sao” của giới tiến hóa luận, được các tập đoàn tài chính lớn hậu thuẫn, là niềm hy vọng của thuyết tiến hóa! Còn Dubois, vì quá thẳng thắn, đã bị giới tiến hóa xem là lão già lẩm cẩm.

Hóa thạch “người vượn Java mới” của Koenigswald nhận được sự ủng hộ của Weidenreich (F. Weidenreich). Weidenreich là người phụ trách khai quật “người vượn Bắc Kinh”. Họ liên kết với Koenigswald để cùng chống lại những nghi vấn. Bởi vì nếu phân tích một cách chặt chẽ, những “người vượn” đầy tranh cãi của họ đều sẽ bị khoa học lật đổ.

Một số bậc tiền bối khác, trong đó có chuyên gia người Anh Oakley (Edward Oakley), người từng vạch trần vụ giả mạo “người vượn Piltdown” cũng chỉ ra: “Khối hóa thạch ‘người vượn’ được phát hiện năm 1936 là do một công nhân của Koenigswald phát hiện được trên bề mặt đất ở miền Trung Java; không có ghi chép địa tầng, hoàn toàn không thể xác định niên đại!”

Giới học thuật đã đối xử thế nào với nghi vấn của Oakley? Họ thể hiện thái độ hai mặt: Một mặt, công nhận sự nghiêm túc trong nghiên cứu của Oakley, nhất trí tán thành việc ông vạch trần vụ giả mạo “người vượn Piltdown”. Mặt khác, đối với việc ông phơi bày “người vượn Java mới”, họ làm ngơ, giả điếc, tập thể im lặng. Giới học thuật chủ lưu thậm chí không dám nhắc đến, càng không dám chụp mũ cho ông, dù sao Oakley cũng là chuyên gia trong ngành. Tránh né ông và tiếp tục cố chấp bảo vệ Java, e rằng đây là phương án tốt nhất đối với giới tiến hóa luận.

44. Những “người vượn” Java về sau, tiếp tục lừa gạt ai?

Sau đó tại Java lại phát hiện thêm một số hóa thạch “người vượn”, tất cả đều là thuê người đi khắp nơi thu gom, mua đi bán lại các hóa thạch trên bề mặt, không có ghi chép địa tầng xác thực, đều không thể xác định niên đại; nhưng vẫn được xếp vào các phát hiện quan trọng, dùng để chứng minh lẫn nhau theo kiểu vòng lặp, ám chỉ tính đúng đắn của các “người vượn” khác.

Năm 1973, Teuku Jacob đã ghi chép thú vị về tất cả các hóa thạch “người vượn đứng thẳng” thời kỳ sau ở Java: “Các di chỉ bề ngoài có vẻ sản sinh phong phú hoá thạch, nhưng thực tế có những uẩn khúc đặc biệt… Chủ yếu vì các vị trí khai quật đã bị người địa phương che giấu. Người địa phương đều là những người thu thập hóa thạch, ai cũng biết hóa thạch quan trọng có thể bán được giá cao. Những người lão luyện luôn lấy hóa thạch từ tay người mới, hơn nữa, để không mất nguồn thu nhập, người ta không báo cáo vị trí chôn vùi, đôi khi cũng không bán hết một lần, mà giữ lại một ít để sau này bán giá cao hơn.”

Đây là nghiên cứu khoa học sao? Những thủ đoạn mang tính buôn bán này lại có thể trở thành bằng chứng hiếm có của thuyết tiến hóa, có thể công bố bài báo, tạo ra thành quả, thậm chí còn xin được kinh phí nghiên cứu. Họ đang lừa gạt ai đây?

(Còn tiếp)

Tài liệu tham khảo:

1. Von Koenigswald G., Weidenreich F.,Discovery of an Additional Pithecanthropus Skull. Nature, 142:715, 15 Oct 1938, doi:10.1038/142715a0

2. Von Koenigswald G., et. al., The Relationship between Pithecanthropus and Sinanthropus. Nature 144, 926-929, 2 Dec. 1939. doi:10.1038/144926a0

3. Von Koenigswald G., Dating Early Man. Nature 207, 796-797, 21 Aug 1965. doi:10.1038/207796b0

4. Michael A. Cremo, Richard L. Thompson, The Hidden History of the Human Race:The Condensed Edition of Forbidden Archeology, Bhaktivedanta Book Trust, Edition 2nd. ISBN-13 978-0892133253, 15 May 1999.

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/26/1/2/n14667911.htm/amp