[ChanhKien.org]
Trung Quốc là một đất nước cổ xưa với nền văn minh 5000 năm, dân tộc Trung Hoa là một dân tộc cần cù và dũng cảm, người Trung Quốc là những người giàu trí huệ bậc nhất trên thế giới. Điều này gắn liền với truyền thống coi trọng giáo dục từ xưa đến nay của người Trung Quốc. Hệ thống giáo dục có thể được phân thành giáo dục trường học, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Sự kết hợp khăng khít của ba yếu tố này đã phát huy vai trò trọng yếu trong các phương diện như đào tạo nhân tài hữu ích, truyền bá tư tưởng văn hóa và nuôi dưỡng phong khí đạo đức cho quốc gia. Trong đó giáo dục gia đình là một bộ phận tổ thành quan trọng của toàn bộ hệ thống giáo dục. Chất lượng giáo dục gia đình tốt hay xấu không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự trưởng thành của con cái và sự thịnh suy của gia tộc, mà còn liên quan đến chuẩn mực trào lưu của xã hội và sự thành bại của sự nghiệp quốc gia.
Tư tưởng giáo dục gia đình của Trung Quốc bắt nguồn từ rất xa xưa, mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngày nay cũng không thể sánh kịp. Ngay từ thời Tiên Tần, người ta đã rất coi trọng giáo dục gia đình, bao gồm các phương diện như giáo dục đạo đức, trí huệ, thẩm mỹ cũng như thực hành lao động, từ đó đã đặt một nền móng ổn định về lý luận và tư tưởng cho giáo dục gia đình trong các triều đại sau này của Trung Quốc. Theo ghi chép trong cuốn “Tư trị thông giám”, Hoàng đế Đường Thái Tông rất coi trọng giáo dục gia đình, ông từng nói với con trai rằng: “Thuyền được ví như quân vương, nước được ví như nhân dân, nước có thể tải thuyền, nước cũng có thể lật thuyền”. Ông còn căn dặn rằng: “Làm vua cần cẩn trọng, trước hết phải lo nghĩ cho bách tính”. Nhà Đường vốn là triều đại thịnh vượng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc, điều này không thể tách rời những cống hiến của các bậc trung thần, hiền tướng vốn từng được thụ hưởng một nền giáo dục gia đình tốt đẹp, như Phòng Huyền Linh, Uất Trì Kính Đức, Trưởng Tôn Vô Kỵ, Địch Nhân Kiệt, Tiết Nhân Quý, Ngụy Nguyên Trung, Trương Giản Chi, Bùi Viêm, Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật, Trương Cửu Linh, Đỗ Hoàng Thường, Bùi Độ…
Vào thời Tống, có một câu chuyện nổi bật nhất về giáo dục gia đình là “Nhạc mẫu thích tự”, trong đó kể về người mẹ của Nhạc Phi – vị tướng yêu nước nổi tiếng của triều Tống, bà đã dạy con trai mình vào thời khắc dân tộc đang lâm nguy rằng hãy “tinh trung báo quốc”, xả hiếu để tận trung. Vào cuối triều Nam Tống, cha của vị anh hùng dân tộc Văn Thiên Tường trong lúc lâm chung cũng đã dặn con trai: “Cha chết rồi, con chỉ cần hết lòng báo đáp quốc gia”. Văn Thiên Tường trong bài thơ khóc mẹ có nhắc rằng: “Mẹ thường dạy con đức trung thành, con sẽ không làm trái ý mẹ”. Chí khí lẫm liệt của Văn Thiên Tường khi anh dũng giết địch, hy sinh thân mình vì đất nước chính là nhờ sự giáo dục tư tưởng trung quân ái quốc của cha mẹ ông. Từ những ví dụ trên, chúng ta đều có thể thấy được vai trò quan trọng của giáo dục gia đình.
Phương diện giáo dục gia đình của chúng ta ngày nay tuy rằng không thể sánh ngang với cổ nhân, nhưng cũng không thiếu đi những hệ tư tưởng như “dù xuất thân khiêm tốn cũng không dám quên bổn phận của mình với quốc gia”. Trẻ em chính là những đóa hoa của tổ quốc, là hy vọng của dân tộc, việc chúng ta bồi dưỡng trẻ nhỏ chính là hướng đến tương lai, và điều này bắt đầu từ gia đình. Giáo dục gia đình nếu muốn thành công, đầu tiên cần xây dựng một môi trường gia đình lành mạnh và có ích đối với sự phát triển khỏe mạnh và trưởng thành của trẻ nhỏ. Ngoài những nhân tố thường được nhắc đến như dân chủ, bình đẳng và hòa hợp, để có một hoàn cảnh gia đình lành mạnh, chúng ta còn cần chú trọng xây dựng hai phương diện: Một là kế thừa những truyền thống tốt đẹp của gia đình và hai là tuân thủ những quy tắc ứng xử trong gia đình, tức là điều mà mọi người thường gọi là “gia pháp”.
Người dân quê hương tôi rất chú trọng xây dựng nề nếp gia phong tốt đẹp. Nhà nào mà giáo dục gia đình không tốt, con cái không nên người thì sẽ bị mắng là “làm xấu mặt gia phong”. Gia phong nhà tôi có thể tóm gọn trong hai chữ, đó là “thiện” và “cần”.
Sau khi hai con tôi lần lượt thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng trên cả nước, có người đã nói với chúng tôi rằng: “Con cái anh chị thông minh như vậy, chắc chắn là nhờ di truyền rồi, Nhà nước nên có chính sách đặc biệt để anh chị sinh thêm vài cháu nữa”. Thực ra, việc hai con đỗ vào những trường đại học hàng đầu Trung Quốc là nhờ cả gia đình tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Chính Đại Pháp đã quy phạm ngôn hành và khai mở trí huệ cho các cháu, chứ hoàn toàn không liên quan gì đến yếu tố di truyền cả.
Cả hai bên gia đình vợ chồng chúng tôi từ đời này qua đời khác đều là những thế hệ nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Họ chưa từng được đi học, chưa từng đọc sách, cả đời chỉ quanh quẩn với cuốc xẻng và đòn gánh. Ở quê tôi từ xưa đã lưu truyền một phong tục, đó là xem “khai Thiên môn” (mở cổng Trời) vào đêm giao thừa. Tương truyền rằng xem “khai Thiên môn” vào đêm giao thừa có thể dự đoán được vận hạn của năm tới: Nếu thấy cổng Trời mở thì vận khí năm sau chắc chắn sẽ tốt; nếu thấy Thiên nhân rắc lương thực xuống thì mùa màng năm tới nhất định sẽ bội thu; nếu thấy Thiên nhân rắc vàng kim thì tài vận năm sau ắt sẽ hưng vượng; còn nếu không thấy cổng trời mở thì mọi việc trong năm tới đều sẽ không thuận lợi. Cha tôi kể rằng, trong tổ tiên đúng là từng có người đã nhìn thấy cổng Trời mở. Có một năm vào đêm giao thừa, ông nội tôi nửa đêm dậy xem “khai Thiên môn”, nhưng bầu trời lúc đó rất u ám, chẳng nhìn thấy gì. Lúc quay vào nhà, ông nhặt được một tờ giấy ở hành lang, tờ giấy màu đen và có viết chữ trên đó. Rốt cuộc nội dung là gì thì trong nhà không ai hiểu, hàng xóm cũng chẳng ai biết chữ, đành phải coi tờ giấy đó như “Thiên thư” mà cất đi, để lại cho con cháu đời sau biết chữ xem. Hàng xóm láng giềng của chúng tôi bảo rằng, chỉ có những nhà hành thiện mới đắc được Thiên thư như thế. Quê tôi vốn là vùng nông thôn hẻo lánh, giao thông rất khó khăn, chưa từng thấy qua “báu vật” nào như vậy, không biết nó từ đâu bay đến? Thật tiếc là tờ “Thiên thư” đó sau này không rõ cất giữ ở đâu mà cuối cùng bị thất lạc, nghĩ lại thật là đáng tiếc!
Thật trùng hợp, bà nội tôi cũng từng gặp chuyện tương tự. Cả đời bà nội tin Phật, năng làm việc thiện, bà là một cư sĩ tại gia, thường xuyên lễ bái Thần Phật vô cùng thành tâm. Có một năm vào dịp lễ hội Quan Âm, bà lên chùa dâng hương thì được một bà cụ lạ mặt tặng cho một cuốn sách. Bà nội trân quý như đắc được báu vật và mang cuốn sách về nhà. Thế nhưng, cũng lại vì không ai biết chữ, nên rốt cuộc đó là cuốn sách gì thì cho đến nay vẫn còn là một ẩn số. “Báu vật” này sau đó cũng không rõ đã thất lạc phương nào.
Khi còn nhỏ, tôi thường nghe cha nói mấy câu trong sách “Tăng Quảng Hiền Văn” rằng: “Kế hoạch một năm nằm ở mùa xuân, kế hoạch một ngày nằm ở giờ Dần, kế hoạch một nhà nằm ở sự hòa thuận, kế hoạch một đời nằm ở sự cần cù”. Đặc biệt là chữ “cần” cuối cùng này, cả đời cha tôi thật sự có thể nói là đã tự mình thực hành không ngừng nghỉ. Ông nội mất sớm, cha tôi mới 17 tuổi đã phải gánh vác trọng trách nuôi sống gia đình. Khi đó gia cảnh bần cùng, điều kiện kinh tế hết sức túng quẫn. Cha tôi là lao động nam giới duy nhất trong nhà, vì để cải thiện hoàn cảnh sinh hoạt gia đình, mỗi năm sau khi xong việc đồng áng, cha tôi lại đi làm kinh doanh nhỏ. Việc kinh doanh này không phải là kiểu công việc mà thế hệ chúng ta có thể đảm đương nổi: Cha tôi mua một gánh giấy nặng chừng 150-160 cân từ thị trấn quê nhà, quẩy đến một thành phố cách xa hơn hai trăm dặm để bán, sau đó lại mua một gánh muối ăn nặng chừng 170-180 cân quẩy về bán lại ở thị trấn quê tôi. Hơn hai trăm dặm đường ấy toàn là đường mòn, lúc thì leo núi, khi lại qua cầu, cứ đi rồi lại dừng, dừng rồi lại đi. Trên con đường nhỏ này chẳng biết đã lưu lại bao nhiêu dấu chân nặng trĩu, chẳng biết đã thấm đẫm bao nhiêu mồ hôi sầu khổ của cha tôi! Sự hy sinh gian khổ của cha đã đổi được việc gia cảnh dần dần khấm khá hơn. Đến năm 1949, gia đình tám miệng ăn đã có được hơn 20 mẫu bạc điền (mẫu ruộng xấu, nghèo dinh dưỡng). Thế nhưng, cũng chính vì hơn 20 mẫu ruộng được đổi bằng bao mồ hôi nước mắt ấy mà cha tôi bị xếp vào thành phần “phú nông”, từ đó mang đến tai họa khôn cùng cho cả gia đình, bị bức hại suốt hơn 30 năm ròng. Cha tôi từ một chàng trai trẻ tràn đầy sức sống đã trở thành một ông lão tiều tụy, héo hon.
Là con của gia đình bị xếp vào thành phần địa chủ và phú nông, đường học vấn của tôi vô cùng trắc trở. Khi tôi tốt nghiệp tiểu học, cũng chính là lúc cuộc “Cách mạng văn hóa” đang diễn ra rầm rộ. Bạn bè đồng trang lứa đều đeo băng đỏ trên tay, ôm cuốn “hồng bảo thư” nối tiếp nhau bước vào cổng trường trung học cơ sở của xã; thế nhưng, chỉ riêng tôi – đứa trẻ phải đeo chiếc “vòng kim cô” bị gắn mác xuất thân từ gia đình phú nông – là bị gạt ra ngoài cánh cổng ấy. Hai năm sau, vì để tôi có thể đi học, mẹ tôi đã phải chạy vạy khắp nơi, cầu khẩn hết người này đến người khác, cuối cùng mới nhận được một tờ “giấy báo nhập học” cấp trung học cơ sở cho tôi. Sau khi tốt nghiệp cấp hai, tôi chẳng còn dám mơ tưởng xa vời đến việc học lên cấp ba nữa, mà lẳng lặng quay về đội sản xuất lao động. Theo chân các bác nông dân, tôi học được cách cày bừa, cấy lúa, đập lúa, và thạo mọi công việc đồng áng. Đến năm 1977, chế độ thi cử vốn bị bãi bỏ trước đó đã được khôi phục. Thông qua kỳ thi thống nhất, tôi một lần nữa có được cơ hội bước chân vào trường học. Trên hành trình cuộc đời mình, tôi đã đi qua hết trạm dừng này đến trạm dừng khác; tôi không hề lưu luyến quá khứ, mà vẫn luôn miệt mài không nghỉ, cần mẫn đọc sách và khổ công học hỏi đến cùng.
Sau khi cả gia đình tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào năm 1996, nhiều căn bệnh trên người vợ tôi đã tự khỏi mà không cần chữa trị, đặc biệt là các con, dưới sự chỉ dẫn từ các Pháp lý của Đại Pháp, chúng đã trưởng thành khỏe mạnh và vững vàng. Vợ tôi vốn là người có tâm địa lương thiện, rất nhiều người quen biết đều gọi cô ấy là “Bồ Tát sống”. Khi làm việc cô ấy luôn nghĩ cho người khác trước tiên, trong các mối quan hệ giữa người với người vợ tôi luôn kiên trì nguyên tắc “điều gì mình không muốn thì đừng làm với người khác”. Cô ấy có tấm lòng rộng mở khoáng đạt, đối nhân xử thế khoan hồng độ lượng, sẵn lòng tha thứ cho người khác. Khi người khác gặp khó khăn cô ấy luôn vui vẻ giúp đỡ, khi hàng xóm có vấn đề vợ tôi liền chủ động giải quyết. Ngay cả ở trong nhà, cô ấy cũng hoàn toàn tôn trọng con cái, tuyệt đối không can thiệp một cách thô bạo vào những lựa chọn của chúng. Vợ tôi rất siêng năng chịu khó, không chỉ quét dọn nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, mà còn thường xuyên làm các việc vệ sinh công cộng tại khu vực chúng tôi sinh sống, do đó rất được lòng hàng xóm láng giềng. Cô ấy rất ủng hộ công việc của tôi, vợ tôi không những đảm nhận hết việc nhà mà còn rất ham học hỏi. Cả gia đình tôi không có ai đánh bạc hay chơi mạt chược, có thể nói là gia phong thuần chính. Các con chúng tôi dưới sự chỉ dẫn của Đại Pháp, được lớn lên trong môi trường như thế, mắt thấy tai nghe hằng ngày, được hun đúc và ảnh hưởng nên một cách tự nhiên đã hình thành thói quen ham học, chăm làm, kế thừa nề nếp gia phong tốt đẹp của gia đình.
Gia pháp và gia quy là những bộ phận cấu thành trọng yếu của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Hệ thống gia pháp và gia quy của Trung Quốc đã phát triển suốt hàng nghìn năm qua, điều đó cho thấy sự tồn tại của chúng xác thực mang ý nghĩa quan trọng đối với gia đình và xã hội. Mặc dù ngày nay có không ít người cho rằng gia pháp và gia quy có nhiều quy định áp chế sự tự do của các thành viên trong gia đình hay làm bóp méo bản tính con người, tuy nhiên về phương diện quản lý nội bộ gia đình, gia pháp và gia quy quả thực đã phát huy vai trò không thể thay thế. “Giới tử thư” của Trịnh Huyền thời Đông Hán, “Giới tử thư” của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, “Nhan thị gia huấn” của Nhan Chi Thôi thời Nam Bắc Triều, “Gia phạm” của Tư Mã Quang thời Bắc Tống, “Gia lễ” của Chu Hi thời Nam Tống, “Chu Tử gia huấn” của di thần nhà Minh là Chu Dụng Thuần… đều là những bộ quy phạm tự trị trong phạm vi gia tộc, đã phát huy tác dụng tích cực trên các phương diện như giáo dục hậu thế, luân lý gia đình, sự vụ gia tộc, tu dưỡng bản thân, cần cù tiết kiệm, đối nhân xử thế, hưng gia lập nghiệp và báo đáp quốc gia…
“Phù quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức. Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ chí viễn. Phù học, tất tĩnh dã; tài, tất học dã. Phi học vô dĩ quảng tài, phi chí vô dĩ thành học. Thao mạn tắc bất năng lệ tinh, hiểm táo tắc bất năng trị tính. Niên dữ thì trì, ý dữ nhật khứ, toại thành khô lạc, đa bất tiếp thế. Bi thủ cùng lư, tương phục hà cập”(Tạm dịch: Hạnh của người quân tử, lấy tĩnh để tu thân, lấy kiệm để dưỡng đức. Không đạm bạc thì không tỏ rõ chí hướng, không tĩnh lặng thì không thể tiến xa. Việc học cần phải tĩnh, có tài cần phải học. Không học thì không thể mở mang tài năng, không có chí thì không thể thành tựu việc học. Sống buông thả thì không thể phấn chấn tinh thần, nóng nảy thì không thể giữ vững tâm tính. Năm tháng trôi theo thời gian, ý chí buông theo ngày tháng, rồi sẽ trở nên héo tàn, chẳng giúp ích gì cho đời. Đến lúc buồn bã giữ lại căn lều nát, liệu hối hận có còn kịp chăng?). Mỗi khi đọc “Giới tử thư” của Gia Cát Lượng, trong lòng tôi lại trào dâng một cảm xúc khó tả. Trong đó, những câu danh ngôn được lưu truyền muôn thuở như “tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức” (lấy tĩnh để tu thân, lấy kiệm để dưỡng đức); “đạm bạc dĩ minh chí, ninh tĩnh dĩ trí viễn” (lấy đạm bạc để tỏ rõ chí hướng, lấy tĩnh lặng để tiến xa); “phù học tu tĩnh dã, tài tu học dã” (việc học cần phải tĩnh, có tài cần phải học); “phi học vô dĩ quảng tài, phi chí vô dĩ thành học” (không học thì không thể mở mang tài năng, không có chí thì không thể thành tựu việc học), tôi đã thuộc lòng từ nhỏ, hơn nữa còn rất chú tâm lĩnh hội chân lý nhân sinh chứa đựng trong ấy, từ đó khơi mở trong tôi những suy ngẫm triết lý về sinh mệnh, thời thời khích lệ bản thân không ngừng tiến bước.
Chúng ta ngày nay, dù không còn giống như những bậc hiền triết thuở xưa, có thể viết ra những câu danh ngôn lưu truyền muôn thuở hay cất lên những tuyệt tác để đời, nhưng chúng ta vẫn nên nỗ lực làm được điều gì đó có ích. Gia pháp đối với người hiện đại mà nói dường như có chút xa lạ, nhưng tôi cho rằng về phương diện giáo dục con cái, chúng ta cũng nên thiết lập một bộ gia pháp thấu tình đạt lý. Gia pháp không phải là để kìm hãm sự phát triển của trẻ, mà là để uốn nắn hành vi, giúp các con trưởng thành một cách lành mạnh. Con trẻ cũng giống như những mầm cây non nớt, cần chúng ta dùng nề nếp và quy phạm để nâng đỡ, định hướng. Nếu cứ để mặc các con phát triển tự do, rất có thể chúng sẽ đi chệch hướng, cuối cùng không thể trở thành nhân tài có ích cho xã hội. Ngược lại, nếu chúng ta thời thời để tâm đến lời ăn tiếng nói, rèn giũa hành vi, dạy bảo các con lễ tiết đối nhân xử thế và nâng cao phẩm chất đạo đức, thì các con sẽ có thể trưởng thành như những cây đại thụ cao vút, và sẽ mang lại những cống hiến xứng đáng cho xã hội và nhân loại.
Chúng tôi cũng đặt ra một số quy củ cho các con của mình, tạm gọi đó là “gia pháp”. Gia pháp của chúng tôi yêu cầu các con: “Dám nói lời thật, không được dối trá; sống lương thiện, cần có lòng từ ái; gặp chuyện biết nhẫn nhịn, không nên cưỡng cầu; đối đãi với người chân thành, coi trọng lễ nghĩa; giữ gìn chữ tín, tuyệt đối không lừa lọc; làm việc có chừng mực, không được quá đà”. Bộ “gia pháp” này đều chiếu theo pháp lý của Đại Pháp, trong đó xem trọng việc đặt ra yêu cầu đối với các con từ phương diện tu dưỡng bản thân và đối nhân xử thế; còn về những mặt như nuôi dưỡng thói quen, nếp sống sinh hoạt thì dựa vào sự nhắc nhở và giáo dục hằng ngày. Dù cho các con giờ đây đã khôn lớn trưởng thành, sống xa cha mẹ, mỗi người một phương, nhưng những lời dạy trong bộ gia pháp này các con sẽ không quên, và vẫn luôn khích lệ các con vững tiến về phía trước trên đường đời.
Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/72484