Tác giả: Tiêu Phong
[Chanhkien.org]
Nguồn gốc của “Niên”
Khái niệm “Niên” (年, tức là năm), sớm nhất đến từ nông nghiệp, người xưa gọi chu kỳ sinh trưởng của cây lương thực là “Niên”. Cách viết chữ “Niên” trong chữ Giáp cốt gồm phần trên là chữ “Hòa” (禾, tức là cây lúa), phần dưới là chữ “Nhân” (人, tức là người). Chữ “Niên” trong chữ Kim cũng tương tự như trong chữ Giáp cốt, cũng từ chữ Hòa, chữ Nhân. Tiểu triện viết “Niên” thành “trên Hòa (禾) dưới Thiên (千, tức một nghìn)”, “Thuyết Văn giải tự – Bộ Hòa” viết: “Niên, cốc thục dã (Năm tức là lương thực chín). Tòng Hòa, tòng Thiên thanh (Từ chữ Hòa, cùng thanh của chữ Thiên). Tiểu Triện đã đem chữ “Nhân” đổi sai thành chữ “Thiên” rồi, vậy nên Hứa Thuận đã lấy đó để thuyết giải, mà chữ “Thiên” vốn để chỉ người đeo đồ trang sức, giải thích như vậy cũng không mâu thuẫn. Chúng ta biết rằng, thời thượng cổ, con người mới đầu chủ yếu dựa vào bắt cá săn thú, hái lượm quả dại để sinh tồn, sau này tiến đến thời kỳ trồng trọt nông nghiệp và chăn nuôi gia súc. “Hòa” là cách gọi chung của cây lương thực, thu hoạch trong một năm được mất thế nào, chủ yếu được quyết định bởi sự sinh trưởng và tình trạng thu hoạch của cây lương thực này, mà hiện nay đã khai quật được chữ “Hòa” trong chữ Giáp cốt, hầu hết đều trông như cái lưng bị uốn cong do gánh nặng ép xuống, có thể thấy nó tượng trưng cho việc sản xuất lương thực được mùa bội thu. Phần chữ “Nhân” phía dưới chữ “Niên” thì giải thích thế nào? Nhìn từ chữ Giáp cốt, chữ “Niên” giống như hình ảnh trên đầu người đội hạt lương thực nặng. Nét phẩy chúi xuống trên đỉnh chữ “Hòa” ở phần phía trên chữ “Niên” chính là nét phẩy trên đỉnh chữ “Hòa” hiện nay, đại biểu cho bông lúa trĩu nặng; phần phía dưới là một chữ “Nhân”. “Hòa” chồng lên “Nhân”, giống như một người vác nông sản thu hoạch, một cảnh tượng thu hoạch điển hình. Vậy nên, nghĩa ban đầu của chữ “Niên” là bội thu lương lực, cũng chính là chúc mừng một năm bội thu lương thực.
Sự phát triển của “Niên”
Năm mới theo Âm lịch (người Trung Quốc xưa gọi là hoàng lịch) là một lễ hội truyền thống náo nhiệt nhất, long trọng nhất của người dân Trung Quốc. Xưa gọi ngày đầu tiên của tháng Giêng (Chính Nguyệt) là Nguyên Nhật, Nguyên Thần, Nguyên Chính, Nguyên Sóc, Nguyên Đán, v.v. “Nguyên” (元) chỉ “bắt đầu”, “Đán” (旦) chỉ “sáng sớm”, “Nguyên Đán” tức là buổi sáng sớm đầu tiên của một năm. Sách “Nhĩ Nhã” chú giải “Niên” là: “Hạ viết Tuế, thương viết Tự, chu viết Niên” (Nhà Hạ gọi năm là Tuế (歲), nhà Thương gọi là Tự (祀), nhà Chu gọi là Niên (年)). Bắt đầu từ thời Ân Thương, lấy một lần trăng tròn khuyết làm một tháng, ngày đầu tiên của tháng gọi là sóc (朔), ngày mười lăm gọi là vọng (望). Bắt đầu mỗi năm được tính từ nửa đêm ngày đầu tiên (ngày sóc) của tháng Giêng, gọi là “Nguyên Đán” hoặc “Nguyên Nhật”. Đến thời Hán Vũ Đế, do kinh nghiệm “quan sát thiên tượng xác định thời gian” càng ngày càng phong phú, Tư Mã Thiên đã sáng tạo ra “Thái Sơ lịch”, cố định tháng bắt đầu của năm (Nguyên Nguyệt) là tháng Giêng, tháng Giêng là Đầu năm, ngày đầu tiên của tháng Giêng gọi là Nguyên Đán, cũng chính là Tân niên. Từ đó, phong tục đón Tết âm lịch vẫn luôn được lưu truyền tiếp tục cho đến tận những năm cuối triều đại nhà Thanh.
Phong tục truyền thống đón năm mới
Theo ghi chép trong “Kinh Thi”, mỗi khi đến Năm mới âm lịch, nông dân sẽ uống “rượu”, chúc “đổi năm”, hết sức vui vẻ, chúc mừng một năm bội thu. Tới triều đại nhà Tấn, còn thêm tiết mục đốt pháo trúc, tức đốt từng đống lửa lớn, bỏ trúc vào trong lửa đốt, pháo trúc phát ra tiếng lách tách lách tách khiến không khí lễ hội thêm nồng nhiệt. Đến triều đại nhà Thanh, các hoạt động đốt pháo trúc, treo đèn kết hoa, tống cựu nghinh tân càng náo nhiệt hơn. Phan Vinh Thăng đời Thanh ghi chép trong “Đế Kinh Tuế thời Ký thắng” rằng: “Đến đêm cuối cùng của năm âm lịch, đêm mới giao thừa, ngoài cửa đèn nến tranh nhau chiếu rọi, xe ngựa nạm ngọc tranh nhau vang tiếng……. Nghe tiếng pháo trúc như sóng đánh sấm động, khắp mọi miền trong nước, cả đêm không ngừng”.
Năm mới Nông lịch bắt đầu từ Tiểu niên (tức Tết ông Táo vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp) và kết thúc vào Tết Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng). Đây là một lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm, việc đón lễ hội này như thế nào thì trong quá trình phát triển hàng ngàn năm của lịch sử đã hình thành một số phong tục tập quán tương đối ổn định.
Tiểu niên quét bụi (cũng là quét đi cái cũ, trong tiếng Hán chữ “塵” – bụi, đồng âm với “陳” – cũ) và cúng tế Táo quân, đó là bắt đầu của hết thảy các hoạt động mừng năm mới. Ở miền Bắc Trung Quốc, Tiểu niên là vào ngày 23 tháng Chạp, còn ở miền Nam là vào ngày 24.
Dán câu đối tết, nhà nhà đều dán, góp phần làm tăng thêm không khí rộn ràng. Phong tục này bắt đầu từ thời nhà Tống, trở nên thịnh hành vào thời nhà Minh, đến thời nhà Thanh thì nội dung và tính nghệ thuật của các câu đối tết càng thành thục hơn.
Dán giấy cắt hoa và chữ “Phúc” ngược (“Phúc ngược” (福倒 – fú dǎo) đồng âm với “Phúc đến” (福到 – fú dào)) cũng là một hoạt động mừng năm mới. Cắt giấy hoa trang trí là hoạt động dân gian phổ biến nhất, kết hợp giữa niềm vui trang trí và tính thực dụng, khắc họa bầu không khí vui mừng của lễ hội. Nội dung thể hiện từ các loài động thực vật đến các giai thoại, chẳng hạn như “Chim khách đậu cành mai”, “Sư tử lăn tú cầu”, “Ba dê khai mở thái bình thịnh vượng”, “Hai rồng vờn ngọc quý”, “Lưu Hải đấu Kim Thiềm”, và nhiều câu chuyện trong các vở hý kịch khác.
Tranh tết là một hình thức văn hóa nghệ thuật dân gian phổ biến nhất, cũng là phương tiện truyền tải văn hóa dân tộc quan trọng. Năm mới mua vài bức tranh dán lên cửa, hoặc dán lên tường trong nhà hoặc phòng khách, vừa để trang trí vừa là dấu hiệu đặc trưng của năm mới. Tranh tết có lịch sử hơn nghìn năm, phản ánh lịch sử, cuộc sống, tín ngưỡng và phong tục. Chủ đề của tranh tết vô cùng đa dạng, từ hình tượng nhân vật, hoa cỏ, phong cảnh, các câu chuyện lịch sử đến tiểu thuyết kinh điển đều có thể dùng làm đề tài.
Cúng tổ thực hiện vào đêm ba mươi giao thừa, cúng tế tổ tiên và Thần minh, cảm tạ Thần minh và tổ tiên đã che chở một năm qua, đồng thời cầu xin một năm mới mọi điều thuận lợi. Nghi lễ cúng tế tổ tiên này được gọi là “Từ niên” hoặc “Từ tuế”, tức là từ biệt năm cũ.
Thức cả đêm đón giao thừa là một trong những tập tục quan trọng nhất trong dịp năm mới. “Một đêm nối hai năm, canh năm chia hai năm”. Vào đêm giao thừa, cả gia đình quây quần bên nhau, ăn bữa cơm tất niên, ngồi quanh bếp lò trò chuyện, chờ đợi thời khắc tạm biệt năm cũ chào đón năm mới.
Đốt pháo trúc để tiễn năm cũ đón năm mới. Đốt pháo trúc vào dịp năm mới đến là một hoạt động vui chơi lễ hội quan trọng, tạo ra bầu không khí vui tươi náo nhiệt, có thể mang lại niềm vui và may mắn cho mọi người.
Tập tục chúc mừng năm mới diễn ra vào ngày mùng một Tết, mọi người đều thức dậy sớm, mặc quần áo đẹp nhất, trang điểm chỉnh tề, đi thăm hỏi họ hàng bạn bè, chúc mừng lẫn nhau, chúc năm tới đại cát đại lợi. Trẻ em chúc tết người lớn được cho tiền lì xì, nghe nói rằng tiền lì xì có thể ngăn chặn tà ma (tiền lì xì gọi là áp tuế tiền hay áp túy tiền, chữ “tuế” (năm, 歲) và “túy” (祟) đồng âm, tức tiền để trấn áp con yêu tên Túy chuyên làm hại trẻ em).
Phong tục ẩm thực gồm có hấp bánh tổ, gói sủi cảo, và bữa tiệc đầy đủ các món rau thịt vào đêm ba mươi.
Các hoạt động chúc mừng trong dân gian muôn màu muôn vẻ, bao gồm miếu hội, biểu diễn ca kịch (các nơi có các loại ca kịch địa phương khác nhau), hát rối da lừa (nghệ thuật rối bóng truyền thống Trung Quốc, con rối thường làm từ da lừa đã xử lý mỏng và nhuộm màu) và nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác như múa lân sư rồng, tạp kỹ võ thuật, các loại xiếc, ca hát đánh đàn, đi cà kheo, v.v. Toàn bộ hoạt động chúc mừng năm mới thực chất là hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian hoành tráng đa dạng, nơi quần anh hội tụ, đẹp không tả xiết.
Tết Nguyên Tiêu là một lễ hội lớn trong các lễ hội truyền thống Trung Quốc, còn được gọi là “Tết Thượng Nguyên”. Tên gọi Tết Nguyên Tiêu là vì các hoạt động lễ hội của nó được thực hiện vào đêm rằm (Tiêu) của tháng âm lịch đầu tiên (Nguyên). Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là “Tết Đăng” (Lễ hội Đèn lồng) hay “Đăng Tịch” (Đêm Hoa đăng), vì hoạt động chủ yếu của tết này là thả đèn lồng hoặc bắn pháo hoa vào ban đêm. Các loại đèn lồng đủ màu, muôn hình muôn trạng tranh nhau khoe sắc, lại kết hợp thêm các loại câu đố đèn, càng tăng thêm nhã hứng, khiến đây trở thành hoạt động sang hèn cùng hưởng, mọi người vui vẻ. Trong quá khứ, Tết Nguyên Tiêu cũng thường là dịp lễ mà hoàng đế và dân chúng cùng nhau ăn mừng. Liên quan đến nguồn gốc của Tết Nguyên Tiêu có nhiều giải thích, nhưng phổ biến cho rằng nó bắt đầu hình thành vào thời nhà Hán. Sử chép vào thời Hán Vũ Đế, triều đình nhà Hán cúng thờ một vị Thần minh gọi là “Thái Nhất”, vào đêm rằm tháng Giêng đốt đèn trong cung để cúng tế. Nghe nói Thái Nhất là vị Thần uy danh hiển hách thời đó, vị trí của ông ở trên Ngũ Đế, cũng có ân với Hoàng đế, do đó được cúng tế rất long trọng. Tương truyền Hán Văn Đế cũng có liên quan đến Tết Nguyên Tiêu. Ông lên ngôi xưng đế sau khi đại tướng quân Chu Bột san bằng “Loạn chư Lữ”. Ngày dẹp yên phản loạn chính là mười lăm tháng Giêng, từ đó về sau, mỗi lần đến đêm rằm tháng Giêng, Hán Văn Đế sẽ xuất cung du ngoạn, vui cùng dân chúng, bên cạnh đó cũng cố định ngày này làm Tết Nguyên Tiêu.