[ChanhKien.org]
Bốn bí ẩn về trải nghiệm cận tử
Giáo sư Ngoại thần kinh: Trí tuệ nhân tạo (AI) không thể kích hoạt linh hồn
(Ảnh: Shutterstock)
Năm mới đã bắt đầu. Có lẽ rất nhiều người đang tự hỏi: “Năm mới này mình sẽ làm gì đây?” Tuy nhiên xin chờ một chút, có một giáo sư cho rằng, đó chưa chắc là ý muốn thật sự của “bạn”, mà chỉ là não bộ của bạn xử lý một “dục vọng”, báo cho bạn biết thông tin đó, bạn hoàn toàn có thể tự do chọn “Tôi không muốn thế”.
Vị giáo sư ấy chính là Bác sĩ Michael Egnor – Giáo sư Ngoại thần kinh và Nhi khoa của trường Đại học Stony Brook, đồng thời cũng là tác giả của cuốn The Immortal Mind (Tâm Trí Bất Tử). Gần đây, ông đã tham gia buổi phỏng vấn của ông Jan Jekielek trên chương trình American Thought Leaders (Những Lãnh tụ Tư tưởng Mỹ).
Giáo sư Egnor cho biết: Não bộ chỉ là một cơ quan của cơ thể, có khả năng xử lý các tín hiệu thần kinh, tuy nhiên rất nhiều thí nghiệm khoa học đã chứng minh rằng não bộ không sinh ra “lý trí và ý chí tự do”. Linh hồn mới là chủ thể thực sự chi phối con người chân chính của chúng ta.
Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ não bộ nhưng không thể kích hoạt “lý trí và ý chí tự do”
Mặc dù “lý trí và ý chí tự do” không bắt nguồn từ não bộ, nhưng Giáo sư Egnor cho biết có sáu loại chức năng chắc chắn đến từ não. Thứ nhất là cân bằng nội môi (homeostasis) bao gồm tất cả các chức năng điều chỉnh sinh lý của cơ thể như nhịp tim và nhịp thở, nếu não bộ không hoạt động bình thường, bạn sẽ bị khó thở. Thứ hai là chức năng duy trì sự tỉnh táo, giúp chúng ta tỉnh táo, cảnh giác và tập trung. Ngoài ra, thông qua các nghiên cứu về động kinh và kích thích não, người ta còn xác định thêm bốn chức năng quan trọng khác gồm: Điều khiển vận động (Movement), cảm nhận (Perception), ghi nhớ (Memory) và cảm xúc (Emotion).
Đối với các thiết bị giả thần kinh và công nghệ giao diện não-máy tính của công ty Neuralink do Elon Musk sáng lập, Giáo sư Egnor nhấn mạnh rằng: không có thiết bị điện tử nào cấy vào não có thể kích hoạt “lý trí và ý chí tự do” cho con người. Tuy nhiên, những thiết bị này có thể hỗ trợ cải thiện các chức năng khác nhau của não, từ đó giúp con người thực hiện được “lý trí và ý chí tự do”. Ví dụ, có những thiết bị có thể giúp người khuyết tật khắc phục được một số chứng liệt cơ, từ đó họ có thể viết phương trình toán học hoặc học tập dễ dàng hơn.
Cuộc đấu tranh giữa hai loại ham muốn: cảm tính của não và lý tính của tâm trí
Vậy rốt cuộc “lý trí và ý chí tự do” của con người là gì? Giáo sư Egnor lấy ví dụ: Triết gia Aristotle từng nói rằng con người có hai loại ham muốn: ham muốn cảm tính và ham muốn lý tính. Ham muốn cảm tính là khi bạn nhìn thấy một miếng bánh, bạn liền nghĩ: “Trời ơi, tôi đói quá, tôi muốn ăn miếng bánh đó!” Còn ham muốn lý tính thì sẽ nghĩ: “Tôi muốn tuân theo kế hoạch ăn kiêng. Tôi không muốn ăn quá 2.000 calo hôm nay, nên tôi sẽ không ăn miếng bánh đó.”
Giáo sư Egnor cho rằng, xét ở một mức độ nào đó, cuộc sống của con người chính là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa hai loại ham muốn này. Nói cách khác, cuộc đấu tranh ấy cũng chính là sự giằng co giữa bộ não và tâm trí.
Ông đặc biệt nhắc tới Benjamin Libet, một nhà khoa học thần kinh người Mỹ sống vào giữa thế kỷ 20. Ông Libet đã nêu ra một vấn đề nổi tiếng gọi là “thời gian của tâm trí”. Libet rất muốn biết: ngay đúng khoảnh khắc một người nảy ra một ý nghĩ, thì trong não họ đang diễn ra điều gì. Vì muốn đo được chính xác tới từng mili giây (tức một phần nghìn giây), Libet đã thiết kế những thí nghiệm rất khéo léo để nghiên cứu vấn đề này.
Thí nghiệm của Libet rất nổi tiếng. Ông phát hiện rằng: khi bạn nảy ra ý định muốn làm một việc gì, thì khoảng 0,5 giây trước khi bạn tự ý thức được mong muốn đó, trong não đã xuất hiện một tín hiệu sóng não rồi. Nói đơn giản là: trước hết não đã phát tín hiệu “muốn ăn bánh”, rồi sau đó bạn mới ý thức được “mình muốn ăn bánh”. Điều này khiến người ta nghĩ rằng: con người thật ra không có “tự do ý chí”, mọi việc chúng ta làm đều do bộ não điều khiển.
Nhưng Libet rất thông minh, ngay sau đó ông yêu cầu người tham gia thí nghiệm thêm vào một bước nữa gọi là bước “tự do ý chí”, tức là khi đã có ý định “làm”, thì lại tự phủ nhận ý định đó “không, tôi sẽ không làm.” Kết quả cho thấy: việc từ chối không làm này không làm thay đổi sóng não. Vì vậy Libet kết luận: cái ý chí “phủ quyết” này dường như không xuất phát từ não bộ. Do đó, ông tin rằng con người thực sự có “tự do ý chí” (free will), nhưng ông cho rằng “tự do” này chủ yếu thể hiện ở quyền nói “không”, ông gọi nó là “free won’t” (tự do phủ quyết).
Libet đã dùng một hình ảnh giống như khái niệm “cõi dục” trong Phật giáo, ông mô tả bộ não dường như bày ra trước mặt chúng ta một biển cám dỗ, trong đó các cám dỗ liên tục trào lên như sóng biển. Chúng xuất hiện trước cả khi chúng ta kịp ý thức. Vì thế, chúng ta thường chỉ cảm thấy như mình bị thúc ép phải làm một việc gì đó. Mặc dù vậy, con người vẫn giữ được quyền tự do lựa chọn: hoặc chấp nhận làm, hoặc từ chối. Giáo sư Egnor nói rằng: đó mới chính là “tự do ý chí” và nó giống “tự do phủ quyết” hơn.
Làm rõ một nhầm lẫn: Não bộ chỉ là một khối thịt, nó không biết suy nghĩ
Vậy thì “lý trí và ý chí tự do” đến từ đâu? Giáo sư Egnor cho biết, “lý trí và ý chí tự do” là thứ phi vật chất, là một loại năng lực mà con người sở hữu. Nguồn gốc của chúng không nằm ở bộ não, mà ở linh hồn. Não chỉ là một khối thịt, không thể suy nghĩ. Con người dùng não để suy nghĩ nhưng bộ não tự thân thì không biết suy nghĩ.
Ông chỉ ra, sở dĩ rất nhiều người nghĩ rằng não đang suy nghĩ, là vì trong giới thần kinh học lâu nay vẫn tồn tại một vấn đề rất nghiêm trọng (trong khái niệm), gọi là “Ngụy biện Bộ phận – Toàn thể” (Mereological Fallacy) tức là dùng đặc điểm của một bộ phận để gán lên toàn bộ chỉnh thể. Ví dụ, người ta thường nói: “Chân tôi đang đi” nhưng cách nói chính xác phải là: “Tôi dùng chân để đi”. Việc “đang đi” là hành vi của toàn bộ con người, còn cái chân chỉ là một bộ phận trong hành vi ấy.
Ông nói rằng, là một nhà khoa học thì việc diễn đạt phải cực kỳ chính xác, vì nếu không phân biệt rõ mối quan hệ giữa “bộ phận” và “toàn thể”, thì việc nghiên cứu sẽ dựa trên một sai lầm, sẽ tự đưa mình vào đủ thứ vấn đề vô lý.
Sai lầm của chủ nghĩa duy vật đã tạo ra rất nhiều vấn đề vô lý như vậy. Ông nói: “Chủ nghĩa duy vật là một cái hộp, một cái hộp khá nhỏ. Nếu là người theo chủ nghĩa duy vật, bạn sẽ cố gắng nhét toàn bộ thực tại vào trong đó. Nhưng trên thực tế, nó không vừa. Có rất nhiều điều trong thực tế không thể nhét vào cái hộp duy vật ấy.”
Ông giải thích thêm, từ thời của Descartes, triết học cơ giới đã bắt đầu phát triển. Đến thời Cách mạng Công nghiệp, con người có động cơ hơi nước, có máy in, v.v. Từ đó người ta bắt đầu nhìn con người như một cỗ máy, hoặc nhìn tự nhiên như một cái máy khổng lồ. Đến thế kỷ 19, triết học cơ giới đã âm thầm thay đổi cách con người suy nghĩ về mọi thứ.
“Tư tưởng triết học cơ giới có mặt khắp nơi. Nhưng chúng ta không phải là cái máy, và tự nhiên cũng không phải là một cái máy. Bạn có thể so sánh, nói rằng ở một vài phương diện chúng ta giống những cỗ máy, như thế cũng được, nhưng chúng ta không phải là máy móc.” Ông nói.
Ông chỉ ra sự khác biệt giữa những thứ do tự nhiên tạo ra và những thứ do con người chế tạo, rồi dẫn ra một ví dụ nổi tiếng của Aristotle gọi là “trồng giường thì mọc cây”: Con người trồng một cái cây, rồi dùng cây này đóng thành một cái giường. Nếu bạn đem chôn một mảnh của cái giường ấy xuống đất, thì thứ mọc lên (nếu có) sẽ vẫn là một cái cây, chứ tuyệt đối không thể là một cái giường.
Trải nghiệm cận tử: Bốn đặc điểm lớn mà khoa học không thể giải thích
Nếu như bộ não chỉ là một cơ quan, tư duy thật sự của con người đến từ linh hồn. Vậy linh hồn rốt cuộc là gì? Giáo sư Egnor cho biết trong rất nhiều tài liệu về trải nghiệm cận tử, ông đã tìm thấy những biểu hiện của “linh hồn”.
Ông cho biết, người ta ước tính hiện nay có khoảng 20 triệu người Mỹ đã từng trải qua hoặc sẽ trải qua trải nghiệm cận tử vào một thời điểm nào đó trong đời. Một học giả văn học, bà Carol Zaleski, đã viết một cuốn sách rất hay tên là “Hành trình sang thế giới bên kia” (Otherworld Journeys), trong đó kể lại những câu chuyện về trải nghiệm cận tử và việc linh hồn rời khỏi thể xác trong suốt chiều dài lịch sử ở nhiều nền văn hóa khác nhau. Những ghi chép như vậy có thể truy ngược lại hàng ngàn năm trước. Trong vài thập kỷ qua, ở phương Tây đã tiến hành khá nhiều nghiên cứu khoa học về trải nghiệm cận tử.
Giáo sư Egnor kể lại trải nghiệm cận tử của bà Pam Reynolds. Năm 1991 khi hơn 30 tuổi, bà Reynolds được phát hiện mắc chứng phình động mạch ở một mạch máu lớn trong não. Thời điểm đó, bệnh này không thể phẫu thuật bằng phương pháp thông thường và bà có nguy cơ sẽ chết sớm vì vỡ phình động mạch. Bà tìm đến bác sĩ phẫu thuật thần kinh Robert Spetzler, một chuyên gia hàng đầu thế giới về phình động mạch, người có thể thực hiện cái gọi là “phẫu thuật khi cơ thể ở trạng thái ngừng hoạt động” (standstill procedure).
Trong loại phẫu thuật này, trước tiên các bác sĩ sẽ gây mê bệnh nhân, sau đó mở hộp sọ làm lộ ra vùng phình động mạch, rồi làm lạnh cơ thể họ xuống khoảng 60 độ F (khoảng 15 độ C), nối với máy tim phổi nhân tạo, cho ngừng tim, nâng đầu giường lên và rút hết máu ra khỏi não. Trong quá trình phẫu thuật, bệnh nhân gần như đã chết. Bác sĩ chỉ có khoảng 30 phút để chỉnh sửa lại động mạch. Sau khi chỉnh sửa xong, bác sĩ sẽ cho tim đập lại và làm ấm cơ thể bệnh nhân.
Trong suốt ca mổ, bà Reynolds được theo dõi cực kỳ chặt chẽ vì bác sĩ phải chắc chắn rằng não của bà đã “chết”, như vậy mới có thể bảo vệ não khỏi bị tổn thương. Ca mổ của bà Reynolds rất thành công, bà hồi phục tốt, chứng phình động mạch được khắc phục. Tuy nhiên sau đó bà chia sẻ rằng bà đã nhìn thấy toàn bộ quá trình phẫu thuật. Bác sĩ nói điều đó là không thể, bà đã chết não, và mắt bà cũng đã bị che kín bằng khăn mổ.
Thế là bà Reynolds kể lại chi tiết những gì đã thấy trong ca mổ. Bà kể khi tim ngừng đập, bà nghe thấy một tiếng “bíp”, rồi đột nhiên cảm thấy “bụp” một cái, như thể mình bật ra khỏi cơ thể và bay lên gần trần nhà. Từ trên đó, bà nói rằng đã nhìn thấy tất cả mọi người trong phòng mổ, bao gồm Bác sĩ Spetzler, các dụng cụ phẫu thuật và còn nghe thấy tiếng nhạc đang mở trong phòng. Bà còn nói ra nhiều chi tiết mà một người bình thường không thể biết, trừ khi là bác sĩ phẫu thuật. Bà cũng kể lại cuộc trò chuyện giữa các bác sĩ và những vấn đề phát sinh trong lúc mổ.
Sau đó bà thấy một đường hầm, bà thấy mình bị hút vào trong đó, khi đó bà có một cảm giác rất dễ chịu. Bà nhìn thấy một thế giới tuyệt đẹp bên kia đường hầm và thấy người ông đã qua đời của mình. Ông đã nói với bà rằng bây giờ chưa đến lúc, bà còn phải nuôi con, hãy quay trở lại. Thế là sau đó bà quay trở lại đường hầm và trở về với cơ thể.
Trải nghiệm cận tử của bà Reynolds được xem là một trong những trường hợp được ghi chép đầy đủ nhất trong lịch sử y học, gần như giống một thí nghiệm. Vì thế bà trở nên rất nổi tiếng. Bác sĩ Spetzler khi được phỏng vấn đã nói ông không thể giải thích được chuyện này, bởi vì bà Reynolds có thể kể lại chính xác những gì ông đã nói trong lúc mổ, điều này khiến ông vô cùng bối rối.
Giáo sư Egnor đưa ra một quan điểm gọi là “Thách thức Reynolds”. Bởi vì tuy rằng một số trải nghiệm cận tử có thể đến từ ảo giác hoặc các cơn động kinh, nhưng nó có bốn đặc điểm mà nếu giải thích bằng chủ nghĩa duy vật rằng “chỉ là phản ứng hóa học của não” hay “chỉ là ảo giác” thì không thể giải thích được:
1. Những trải nghiệm này thường rất rõ ràng, mạch lạc và rất chi tiết.
2. Trong những trải nghiệm “linh hồn rời khỏi thể xác”, có người nhìn thấy những việc xảy ra ở một địa điểm rất xa. Sau khi kiểm chứng có thể xác minh điều họ nhìn thấy là đúng.
3. Họ thường xuyên qua một đường hầm, và ở đầu bên kia đường hầm, họ không thấy người đang sống, mà luôn nhìn thấy những người đã chết.
4. Những trải nghiệm này làm thay đổi cả con người: người từng trải qua cận tử sẽ trở nên khác đi, và không còn sợ cái chết nữa.
Ông cho rằng: trải nghiệm cận tử đã chạm tới câu hỏi về nguồn gốc của sự sống, hay nói cách khác là vật chất cốt lõi nhất của thực tại rốt cuộc là gì. Ông nói: “Có một điều gọi là “hạt nhân của thực tại” (core of reality) trong trải nghiệm cận tử. Có thể không phải mọi trải nghiệm cận tử đều là sự sống thực sự sau khi chết, nhưng tất cả chúng đều chứa đựng một “hạt nhân của thực tại.”
Linh hồn dùng “ánh sáng thần thánh” để cảm nhận và ghi nhớ. Giáo sư: Linh hồn là bất tử
Trong quá trình nghiên cứu về trải nghiệm cận tử, Giáo sư Egnor phát hiện rằng: tại một thời không khác của “hạt nhân của thực tại”, “linh hồn” không cần sử dụng bộ não mà trực tiếp cảm thụ. Ông cũng tin rằng điều thú vị nhất của trải nghiệm cận tử không phải là vấn đề của khoa học mà là vấn đề thuộc về thần học và triết học.
Ông nói: “Bởi vì những gì con người nhìn thấy ở thế giới bên kia không phải lúc nào cũng giống với những gì chúng ta hình dung theo các tôn giáo truyền thống. Đây là một vấn đề vô cùng thú vị.”
Trong trải nghiệm cận tử, con người trong thế giới này thật sự đã chết, mắt, tai, não và các cơ quan khác đều đã ngừng hoạt động. Nhưng họ vẫn nhìn thấy, vẫn nghe thấy, vẫn cảm nhận được.
“Hầu như những ai đã trải qua trải nghiệm cận tử đều nói: “Tôi sẽ kể cho bạn nghe chuyện đã xảy ra, nhưng những gì tôi kể ra không phải là sự việc thật sự, vì chuyện đó không thể diễn tả bằng lời. Đây chỉ là cách gần đúng nhất mà tôi có thể nói ra được mà thôi.”
Thomas Aquinas (Thánh Thomas Aquinas), một học giả và nhà thần học vĩ đại thời Trung cổ, từng được hỏi: “Làm sao ông có thể nhìn thấy khi không có mắt?” Ông trả lời: “Sau khi chết, chúng ta thông qua “ánh sáng thần thánh” để cảm nhận. Có những cách nhìn không cần mắt.”
Giáo sư Egnor nhận ra: “Những gì mà người trải qua cận tử “nhìn thấy” và “ghi nhớ” là nhờ vào một năng lực vượt xa người thường.”
Trải nghiệm thần kỳ của Giáo sư Egnor
Giáo sư Egnor là một nhà khoa học, trong một cuộc phỏng vấn khác, ông đã nói mình từng “nghe được” giọng nói của Thượng Đế. Sau khi đứa con thứ tư của ông Egnor chào đời, ông và vợ phát hiện đứa trẻ có vẻ bị tự kỷ, suốt năm tháng không tương tác với cha mẹ, dường như không cảm nhận được tình thương của họ.
Trong một lần đưa con đi khám bệnh, vì quá tuyệt vọng, Giáo sư Egnor đã bước vào nhà nguyện trong khuôn viên bệnh viện để cầu xin Thượng Đế. Ông nói: “Lạy Chúa, con không biết Ngài có thật hay không, con cũng không thường cầu nguyện. Nhưng nếu Ngài thật sự tồn tại, xin đừng để con trai con mắc căn bệnh này. Con không thể chịu nổi việc con trai mình hoàn toàn không nhận ra mình.” Nói xong, ông nghe thấy một âm thanh trả lời lại: “Nhưng con cũng đối xử với Ta như vậy mà.”
Giáo sư Egnor vô cùng chấn động. Ông hứa sẽ không còn “làm ngơ” với “Thượng Đế” nữa. Không lâu sau, đứa con của ông đã hoàn toàn trở lại bình thường.
Giờ đây, Giáo sư Egnor vẫn hết lòng phục vụ cho khoa học. Đồng thời, ông cũng tin vào Thượng Đế. Ông thông qua khoa học để chứng minh sự tồn tại của “linh hồn”. Ông nói rằng dù là người tin Chúa, không tin Chúa, hay còn hoài nghi chăng nữa, thì sự tồn tại của linh hồn vẫn hoàn toàn phù hợp với khoa học thần kinh tiên tiến nhất hiện nay. Khoa học không phải là kẻ thù của chúng ta.
Ông nói: “Nếu chúng ta nhìn nhận khoa học một cách khách quan và xem xét những bằng chứng chân thực thì sẽ phát hiện ra rằng: chúng ta có linh hồn, linh hồn của chúng ta có sức mạnh phi vật chất, linh hồn của chúng ta có “lý trí và ý chí tự do”, và linh hồn của chúng ta là bất tử.”
(Theo NTD)
Dịch từ:
