Tác giả: Vương Xá Vi
[ChanhKien.org]
[Nguyên văn]
Trích từ “Trang Tử – Thiên thứ 33: Thiên hạ”:
Không rời cái gốc của Đạo, gọi là Thiên nhân; không rời cái tinh túy của Đạo, gọi là Thần nhân; không rời cái chân thật của Đạo, gọi là Chí nhân. Lấy Trời làm tôn chủ, lấy Đức làm căn bản, lấy Đạo làm đường lối, từ đó tiên đoán được biến hóa của sự vật, đó gọi là Thánh nhân. Dùng nhân bố thí ân huệ, dùng nghĩa phân rõ sự lý, dùng lễ quy phạm hành vi, dùng nhạc điều chỉnh tính tình, ôn hòa nhân từ, đó gọi là Quân tử. Lấy pháp để quyết định chức phận, lấy danh để thiết lập tiêu chuẩn, lấy kiểm tra đối chiếu để nghiệm chứng, dựa vào tra cứu tính toán để đưa ra nhận định, phân biệt những điều đó rõ ràng giống như đếm một hai ba bốn, các quan lại dựa vào những điều này mà sắp đặt thứ bậc, bách tính coi việc canh, cửi, công, thương là chuyện thường ngày, coi ăn mặc là chủ yếu, chú ý đến việc sinh sôi nảy nở và tích cóp dự trữ, để tâm chăm sóc người già yếu, cô nhi, quả phụ, khiến ai cũng được nuôi dưỡng, đó là quy tắc trị lý nhân dân. ……
Vì vậy Đạo nội Thánh ngoại Vương u ám mờ tối, bị đè nén không hiển lộ ra được, người thiên hạ đều vì ham muốn của mình mà coi thiên kiến của bản thân là phương thuật riêng. Buồn thay! Học phái bách gia đều phân tán càng lúc càng xa mà không thể quay về chính Đạo, tất nhiên càng không thể hòa hợp với chân lý Đại Đạo được! Khiến cho học giả đời sau bất hạnh không thấy được sự thuần chân của trời đất, không thể thấy được bức tranh hoàn chỉnh của đạo thuật cổ nhân, đạo thuật sẽ bị học phái bách gia xé nhỏ và phá hoại.
[Bình chú]
“Đạo nội Thánh ngoại Vương” bắt nguồn từ thiên “Thiên hạ” trong sách “Trang Tử”, mặc dù không phải do Nho gia sáng tạo ra, nhưng sau này đã được Nho gia sử dụng. Bởi vì “Nội Thánh ngoại Vương” đã thể hiện được tư tưởng cốt lõi và nhân cách lý tưởng của Nho gia: nội Thánh nghĩa là bên trong thành tựu được đức hạnh của Thánh hiền; ngoại Vương nghĩa là bên ngoài xúc tiến được Vương đạo chính trị nhân đức. Nội hàm tư tưởng của nó được tập trung thể hiện trong “tam cương bát mục” của sách “Đại học” (một trong Tứ thư của Nho gia): Đạo lý của Đại học là ở “minh minh đức” (tự mình tu dưỡng đức tính thiên phú quang minh thuần khiết), ở “thân dân” (gần gũi với nhân dân, lấy đạo đức nhân nghĩa để cảm hóa nhân dân, cải biến phong tục), ở “chỉ ư chí thiện” (khiến bản thân và người khác quy về bản tính tốt đẹp hoàn hảo)”; “Cách vật (truy cứu quy luật của sự vật), trí tri (đạt được trí huệ), thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, năm điều trước là “nội Thánh” và ba điều sau là “ngoại Vương”.
Thiên “Thiên hạ” trong sách “Trang Tử” đề xuất bảy loại người: Thiên nhân (không rời cái gốc của Đạo), Thần nhân (không rời cái tinh túy của Đạo), Chí nhân (không rời cái chân thật của Đạo), Thánh nhân, Quân tử, dưới đó là bách quan và bách tính. Trong đó đặc điểm của Thiên nhân, Thần nhân và Chí nhân là hợp nhất với Trời, vượt ra ngoài muôn vật. Thánh nhân xếp sau họ, cảnh giới thấp hơn ba vị đầu. Nhưng Thánh nhân cũng là người hiểu Đạo, đã tìm hiểu thấu đáo những huyền áo của vạn vật và thấu hiểu quy luật biến hóa, nắm việc quy hoạch quản lý thiên hạ, giữ vị trí nòng cốt trong việc tiếp thụ đạo lý từ bên trên và truyền đạt dẫn dắt bên dưới, trên thông với Thiên nhân, Thần nhân, Chí nhân, dưới thông với Quân tử cũng như bách quan, lại còn coi sóc dân chúng.
Trong văn hóa Trung Quốc thời thượng cổ, ý nghĩa ban đầu của “Thánh” (聖) là chỉ một loại năng lực kết nối với Thần linh. Theo sách “Thuyết văn” của Hứa Thận: “Thánh 聖 cũng là thông 通, là từ tai (nhĩ 耳) mà hiện lộ ra (trình 呈) tiếng (thanh 聲) (chữ Thánh và chữ thanh 聲 phát âm gần giống nhau).” Trong “Thuyết văn giải tự chú” của Đoàn Ngọc Tài: “Thánh từ tai, gọi là thuận theo tai… nghe tiếng biết sự tình.” “Thánh” nhân tức là người có thể kết nối với Thần. Thuật ngữ “Thánh Vương” lần đầu tiên xuất hiện trong sách “Tả Truyện – Hoàn Công lục niên”: “Dân là chủ của Thần (Chủ Thần), là tính của Quỷ thần (Thần tính), dựa vào dân mà làm. Thánh Vương trước tiên phải thành toàn cho dân, sau đó mới dốc lòng phụng sự Thần.”
Trong quá trình phát triển của lịch sử, tùy theo sự phát triển biến đổi và dung nhập của tư tưởng Nho gia, Đạo “nội Thánh ngoại Vương” từ Đạo của Thánh Vương giáng hạ xuống thành Đạo của Nhân quân (Quân vương trị quốc bằng lòng nhân từ), “Nội Thánh ngoại Vương” mất đi những nội hàm như “lấy hư vô làm gốc, thuận theo tự nhiên mà hành”, “lấy Trời làm tông chủ”. Đồng thời, “Nội Thánh ngoại Vương” đã trở thành phẩm cách con người lý tưởng được các quân tử, quan lại và nho sĩ theo đuổi, cũng bị lấy làm cái khung để cai trị đất nước. Đạo “Nội Thánh ngoại Vương” từ mối quan hệ bản chất và công năng như gốc và ngọn thời đầu, dần dần đi tới chia cách, tách biệt rồi sau lại phát triển thành việc lấy thành tựu của “ngoại Vương” làm mục tiêu và tiêu chuẩn đo lường.
[Bình giải]
“Ứng Đế vương” là thiên cuối cùng trong phần Nội thiên của sách “Trang Tử”, thể hiện tư tưởng cai trị thiên hạ của Trang Tử. “Nhữ du tâm ư đạm, hợp khí ư mạc, thuận vật tự nhiên nhi vô dung tư yên, nhi thiên hạ trị hỹ”. Ý nói, trong lòng phải điềm đạm hư vô, thanh tĩnh vô vi, thuận theo bản tính của tự nhiên vạn vật, không chút thiên vị ham muốn cá nhân, như vậy thiên hạ đã có thể thái bình thịnh vượng rồi. Nhận thức của Trang Tử về vạn vật vũ trụ là dựa trên Đạo, Tự nhiên là ngọn nguồn của mọi sự biến đổi nơi thế gian, còn nỗ lực của con người là nhân tố bên ngoài, phụ thêm mà thôi.
Dựa trên điều này, nội hàm của đạo “Nội Thánh ngoại Vương” của Trang Tử là thuận theo Đạo Trời, thuận theo bản tính tự nhiên của vạn vật, không cai trị mà là cai trị, vô vi mà trị. Điểm quan trọng nhất trong đó là “không giữ cái tư”, nhưng nội hàm phát triển về sau này của “Nội Thánh ngoại Vương” lại không tách rời khỏi “cái tư” này. Đạo đức của xã hội nhân loại tuột dốc trong quá trình biến đổi của lịch sử, dần dần ngày càng rời xa Thần, càng ngày càng coi trọng nhân tố nỗ lực của con người, không nhận ra rằng sự phát triển và biến đổi của lịch sử nhân loại đều có những quy luật nội tại của nó, không phải là điều mà năng lực của con người có thể kiểm soát.
“Nội Thánh ngoại Vương” là giá trị tư tưởng cốt lõi của thể hệ tư tưởng Nho gia. Sự hợp nhất “nội Thánh” và “ngoại Vương” chính là sự kết hợp giữa đạo đức và thành tích sự nghiệp trong ý nghĩa của “tu kỷ an nhân” (tu dưỡng bản thân khiến bách tính an lạc), là sự kết hợp giữa thế giới nội tại và thế giới bên ngoài, là sự kết hợp giữa siêu việt bên trong và siêu việt bên ngoài. Tư tưởng “Nội Thánh ngoại Vương” được trình bày trong sách “Đại Học”, thì nội Thánh làm căn bản, nội Thánh là bản chất, còn ngoại Vương là công dụng xuất ra từ căn bản đó, đạt được “chỉ ư chí thiện”, khiến bản thân và mọi người đều trở thành tốt đẹp, chính là truy cầu cao nhất của tư tưởng “nội Thánh ngoại Vương”. “Từ Thiên tử cho đến thường dân, ai cũng lấy tu thân làm gốc, gốc đó mà loạn thì chữa ngọn cũng bằng không vậy.”
Tư tưởng Nho gia lại lấy “nhập thế” làm nền tảng, lấy việc dùng sức lực tự thân của con người để giải quyết các vấn đề bản thân gặp phải làm xuất phát điểm. Do đó, từ trước đến nay, Nho gia vẫn luôn lấy tam bất hủ “lập đức, lập công, lập ngôn” để thể hiện giá trị tư tưởng. So với Lão Tử coi trọng Đạo của Trời thì Khổng Tử lại coi trọng Đạo của người hơn. Mặc dù Khổng Tử nói: “Không biết mệnh thì không thể làm người quân tử” (Luận ngữ, Nghiêu viết), “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên” (Luận ngữ, Nhan Uyên), nhưng ông không coi “mệnh” là ý Trời thần bí, mà coi đó là điều dĩ nhiên vốn không thể cưỡng lại của đời người. Khổng Tử cho rằng, bản thân người ta phải thông qua phương thức tự xét chính mình “tu kỷ dĩ kính”, tức là thông qua tự tu dưỡng tự xét bản thân mà có được thái độ cung kính cẩn trọng đối với sự vật, từ đó khiến bản thân đạt thành “nội Thánh”, đạt được đức “Nhân”, được xem là đức tính cao thượng vĩ đại ở cõi người. Mạnh Tử cho rằng: “Biết hết cái tâm của mình, là biết cái tính của mình vậy. Biết cái tính của mình là biết trời vậy” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng). Ông lấy phương hướng của phẩm cách con người mà trực chỉ tới Thiên lý, đã tăng thêm tính chủ động chủ quan của cá thể, càng chú trọng hơn đến việc phát huy sức mạnh tinh thần của con người để đạt được sự hòa hợp thống nhất giữa trời và người. Quá trình tự tu dưỡng để làm người của con người không còn là “vô vi mà hành” dựa trên việc ngộ được Thiên Đạo, mà trở thành “hữu tri mà hành” nhờ vào việc nhận thức và thực hành thiên tính tự nhiên trời phú. Hơn nữa, mục đích của “tri” (biết) rất rõ ràng, là “tri” để mà “hành”.
Kết quả là, Nho gia thậm chí càng coi trọng việc tu thân “siêu phàm nhập Thánh” và công lao sự nghiệp ngoại Vương dựa trên cơ điểm nỗ lực của con người, không còn là nội Thánh ngoại Vương của “không làm gì nhưng không gì không làm”. Điều này cũng đánh dấu sự khởi đầu của việc phân ranh giới giữa “nội Thánh” và “ngoại Vương”. Bởi vì thế gian con người là ở trong phản lý và trong mê, đạo đức suy thoái sẽ càng khiến những ham muốn ích kỷ của con người bộc lộ rõ ràng hơn, đã thế càng khó nhận thức được rằng mọi phát triển của nhân loại đều là do Thần an bài. Điều con người có thể làm chỉ là nội tu bản thân, nếu mọi việc trên đời đều thuận theo Thiên Đạo (chính lý), thì thiên hạ tự nhiên sẽ bình an ổn định. Bị thúc đẩy bởi tư tưởng “kẻ mạnh làm vua” của bá nghiệp Quân vương kiến lập thành tích sự nghiệp ngoại Vương, từ “tu kỷ dĩ an bách tính” (tu sửa bản thân để an định bách tính), phát triển thành biến bách tính thành công cụ cày ruộng và chiến đấu, trói buộc vào chiến xa tranh đoạt thiên hạ. Trong đa số trường hợp, giang sơn và nghiệp bá đã vượt quá truy cầu quan trọng nhất của nội Thánh, dẫn đến tranh chấp không dừng.
Thuận theo sự phát triển của văn minh vật chất và khoa học kỹ thuật phương Tây, cùng sự hình thành của chủ nghĩa nhân bản, có học giả đã đề xuất đưa dân chủ và khoa học vào nội hàm của ngoại Vương, đồng thời tách biệt đạo đức với chính trị, để nội Thánh quy về nội Thánh, ngoại Vương quy về ngoại Vương. Thực chất, xuất hiện loại nhận thức này là do lẫn lộn giữa đạo lý nội Thánh ngoại Vương và cơ cấu cai trị đất nước, là do trộn lẫn giữa đường lối chính trị dựa trên đạo làm vua “hư quân” và dựa trên thể chế chính trị quốc gia. Toàn bộ những điều này xuất hiện chứng minh rằng nội hàm của “nội Thánh ngoại Vương” đã phát sinh thay đổi trong quá trình phát triển của lịch sử, nhưng sự phát triển của nhân loại bắt nguồn từ Đạo, cần phải thuận theo Tự nhiên. “Luật rừng” xa rời Đạo chỉ càng đẩy nhanh sự suy đồi đạo đức của nhân loại, cuối cùng đi đến mạt Pháp mạt kiếp. Sự quay về bản tính chân thật và hồi thăng nhân tâm của nhân loại đều không thể tách rời sự cứu độ của Phật Pháp, Chân Pháp sẽ thực hiện tại thế gian.