Tác giả: Hoàng Phủ Dung
[ChanhKien.org]
Bức họa mô tả binh sĩ Thái Bình Thiên Quốc hành quân. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Vào cuối thời nhà Thanh, ngay trước khi Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai nổ ra, trên vùng đất Thần Châu xuất hiện một đội quân thiện chiến và dũng mãnh — Thái Bình quân. Thái Bình quân do Hồng Tú Toàn thành lập vào năm 1850. Đội quân này không chỉ có quân kỷ nghiêm minh, chiến đấu dũng mãnh, mà còn lập được nhiều chiến công ít được biết đến, song đã bị cố tình xuyên tạc và chôn vùi trong dòng chảy lịch sử.
Lịch sử chiến tranh Thái Bình Thiên Quốc — Tôn Văn viết lời tựa
Thuở nhỏ, Tôn Trung Sơn thường nghe những lão anh hùng của Thái Bình Thiên Quốc kể về Hồng Tú Toàn. Tôn Trung Sơn cũng tự xưng mình là “Hồng Tú Toàn thứ hai”.
40 năm sau khi Thái Bình Thiên Quốc diệt vong, Tôn Trung Sơn nói với Lưu Thành Ngu đang cư trú tại Tokyo, Nhật Bản: “Một triều Thái Bình Thiên Quốc là một trang sử huy hoàng của cuộc đại cách mạng dân tộc nước ta, chỉ tiếc rằng những sử liệu có thể khảo chứng chỉ còn trong sách vở chính thức của triều Thanh, khó tìm thấy ở văn hiến khác.” Ông đề nghị Lưu Thành Ngu sưu tập, biên soạn sử liệu về Thái Bình Thiên Quốc thành sách, nhằm làm sáng tỏ những sử liệu bị giới học thuật ngụy tạo.
Sau khi hoàn thành biên soạn cuốn “Lịch sử chiến tranh Thái Bình Thiên Quốc”, năm 1904, Tôn Trung Sơn viết lời tựa cho cuốn sách. Ông nói rằng Chu Nguyên Chương và Hồng Tú Toàn đều xuất thân từ tầng lớp áo vải, khởi nghiệp từ dân thường, dẫn quân chinh phạt, dựng nghiệp, lập nước. Chu Nguyên Chương kế thừa vùng đất quê hương của nhà Hán, truyền nối được cơ nghiệp qua mấy trăm năm; còn Hồng Tú Toàn chỉ duy trì hơn 10 năm rồi thất bại qua đời. Một số kẻ thiếu hiểu biết lại chuyên rêu rao đủ loại luận điệu sai lầm, cho rằng Chu Nguyên Chương đúng còn Hồng Tú Toàn sai, chỉ lấy đúng sai, thành bại làm tiêu chuẩn để bình phẩm hào kiệt.
Nhà Nguyên kế tục thống trị không quá một trăm năm, nhưng chế độ y phục và lễ nghi quan lại vẫn tiếp tục sử dụng những quy chế của các triều đại ở vùng đất Hán. Hơn nữa, khi đó có rất nhiều đại thần người Hán hiền minh phò tá Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Người Mông Cổ tuy chưa thể hoàn toàn Hán hóa, nhưng vẫn bảo tồn được rất nhiều văn minh Hán. Vì vậy, Chu Nguyên Chương diệt nhà Nguyên, so sánh mà nói thì là một việc tương đối dễ dàng.
Nhà Thanh thống trị Trung Quốc hơn 200 năm, những phong thái và di sản văn hóa tao nhã còn sót lại của những lão nhân nhà Minh trốn chạy từ lâu đã không còn tồn tại; các thế gia hào tộc và sĩ đại phu ở các địa phương lại trải qua một thời gian dài dưới sự cai trị của triều Thanh, khiến nhiều phong tục của người Hán dần bị lãng quên hoàn toàn. La Trạch Nam, Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đường và Quách Tung Đào không hiểu đại nghĩa Xuân Thu, hằng ngày chìm đắm trong những mưu kế lấy người Hán đánh người Hán, khiến Thái Bình Thiên Quốc cuối cùng bị tiêu diệt hoàn toàn.
Tôn Trung Sơn suy đoán rằng, có lẽ ông Trời vẫn chưa chán ghét vận nước Đại Thanh; hoặc cũng có thể con cháu người Hán không xứng đáng; hoặc giả chiến lược khi ấy không phù hợp. Vì những nguyên nhân đó mà Hồng triều cuối cùng đi đến diệt vong.
Sau khi Hồng triều diệt vong, những điển chương và công tích vĩ đại một thời cũng đều bị thiêu hủy. Con em Hồng Môn vì bị triều đình nhà Thanh truy sát, những người còn sống sót rất ít, nên hiểu biết về Thiên Vương Hồng Tú Toàn cũng vô cùng ít ỏi. Điều này để lại một nỗi tiếc nuối sâu sắc.
Lưu Thành Ngu sưu tập những thư tịch còn sót lại của Thái Bình Thiên Quốc, chỉnh lý và biên soạn thành sách, nhằm lưu lại bộ chính sử về 13 năm tồn tại của Hồng triều. Tuy nhiên, vào cuối thời nhà Thanh, quan phủ triều Thanh cố ý cho khắc in những sách giả, hoặc phỉ báng, hoặc cố tình che giấu những công tích vĩ đại của Thái Bình Thiên Quốc. Tôn Trung Sơn cho rằng cuốn “Lịch sử chiến tranh Thái Bình Thiên Quốc” có thể làm sáng tỏ những hành vi gian tà của quan phủ triều Thanh, giúp ích cho độc giả, đồng thời cũng có thể làm tư liệu để các sử quan tra cứu.
Ngọc tỷ của Hồng Tú Toàn, Thiên Vương Thái Bình Thiên Quốc, nguyên bản có cạnh dài 19,6cm; mặt bên được chạm khắc hoa văn “Song phụng triều dương” (Hai chim phượng hướng về mặt trời). Về tính xác thực của ngọc tỷ cũng như cách đọc những chữ khắc trên đó, giới học thuật từ trước đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Tai họa thuốc phiện, những điều ước làm nhục quốc gia
Thuốc phiện được chiết xuất từ cây anh túc. Vào thời kỳ đầu, thuốc phiện được người Ả Rập (có thuyết nói là người Thổ Nhĩ Kỳ) truyền vào Trung Quốc dưới dạng dược phẩm và cống phẩm. Sau năm 1620, hút thuốc phiện dần trở thành một thú thời thượng trong tầng lớp trung lưu. Năm 1729, Hoàng đế Ung Chính nhận thấy thuốc phiện gây hại cho con người nên ra lệnh cấm. Hoàng đế Gia Khánh cũng ban lệnh rõ ràng cấm nhập khẩu và trồng thuốc phiện.
Để thu lợi nhuận khổng lồ, từ năm 1800, Anh bắt đầu đưa một lượng lớn thuốc phiện vào Trung Quốc. Hậu quả là tai họa thuốc phiện lan tràn khắp thiên hạ, từ vương công quý tộc cho đến những người bán hàng rong, và dân lao động đều đua nhau hút thuốc phiện, khiến thuốc phiện lan rộng thành tai họa. Việc hút thuốc phiện khiến sức khỏe nhanh chóng suy kiệt, trở thành những phế nhân, có hơi thở mà không còn sức lực. Một lượng lớn bạc trắng chảy ra nước ngoài, đồng thời khiến nhà Thanh rơi vào tình trạng khan hiếm bạc nghiêm trọng, nền kinh tế đứng trước khủng hoảng.
Năm 1839, Lâm Tắc Từ phụng chỉ tiêu hủy thuốc phiện tại Hổ Môn. Hoàng đế Đạo Quang hạ chỉ vĩnh viễn cắt đứt giao thương với Anh. Nhằm mở cửa thị trường thương mại Trung Quốc, Anh phát động Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất. Năm 1842, triều đình nhà Thanh đại bại, hai nước Trung-Anh ký kết điều ước bất bình đẳng “Điều ước Nam Kinh”. Một trong những điều khoản của điều ước là triều đình nhà Thanh phải bồi thường cho thương nhân Anh các khoản tổn thất, chi phí quân sự và nợ của thương nhân, tổng cộng 21 triệu ngân nguyên bạc, thanh toán trong vòng bốn năm. Nếu không thể trả đủ đúng hạn, cứ mỗi 100 ngân nguyên bạc sẽ phải trả thêm năm ngân nguyên tiền lãi mỗi năm.
Anh và nhà Thanh ký kết “Điều ước Nam Kinh”. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Phẩm chất của Thái Bình quân
Năm 1866, một nhà xuất bản ở London xuất bản cuốn “Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc” do cựu sĩ quan Hải quân Anh Lâm Lý biên soạn. Trong hồi ký, ông kể rằng Hồng Tú Toàn sáng lập Bái Thượng Đế Hội; tất cả tín đồ tham gia đều phải tuân thủ những quy định về tu dưỡng đạo đức do Thiên Vương đề ra. Khi đó, hút thuốc phiện lan tràn thành tai họa khắp Trung Quốc. Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn sáng lập cấm tín đồ hút thuốc phiện, thậm chí thuốc lá thông thường và rượu cũng nằm trong danh sách bị cấm, người hít thuốc phiện sẽ bị xử tử.
Đại tá Lâm Lý người Anh từng tham dự một buổi lễ bái do Thái Bình quân tổ chức tại Tô Châu. Người phiên dịch đi cùng đã dịch cho ông tất cả các bước trong nghi lễ. Các nghi thức tôn giáo của Thái Bình quân rất nghiêm cẩn, thậm chí còn hơn cả các tín đồ Cơ Đốc giáo; đồng thời, các tín đồ của Hồng Tú Toàn đối xử với mọi người vô cùng thân thiện. Thái Bình quân lấy thứ Bảy làm ngày nghỉ Sabbath, chứ không phải Chủ Nhật, điểm này cũng khác với người châu Âu. Sự thành kính và nhiệt tâm của Thái Bình quân đối với con người không chỉ được Đại tá Lâm Lý cảm nhận trong quân đội Thái Bình Thiên Quốc; ngay cả khi đi trên đường phố, ông cũng có thể cảm nhận được niềm tin, sự văn minh và lòng hào phóng của Thái Bình quân trong cách họ đối đãi với mọi người. (Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, trang 54).
Có người cho rằng việc Thái Bình quân thân thiện với người nước ngoài là một kế hoạch nhằm tranh thủ để các nước châu Âu không can thiệp vào sự nghiệp xua đuổi người Mãn Châu của họ. Tuy nhiên, qua quan sát trực tiếp ở khoảng cách gần của một sĩ quan người Anh, phẩm chất mà Thái Bình quân thể hiện không mang toan tính lợi ích, cũng không xuất phát từ bất kỳ động cơ nào, mà là sự thành kính chân thành từ tận đáy lòng, cùng tình yêu và sự bảo hộ đối với non sông Trung Quốc.
Vị sĩ quan người Anh này hoàn toàn bị thuyết phục trước khí tiết của Thái Bình quân, khiến ông tin chắc rằng: “Trên thế gian này, không còn sự nghiệp nào công chính và Thần thánh hơn sự nghiệp của họ.” Vì vậy, ông quyết định dốc hết khả năng của mình giúp đỡ họ. (Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, trang 56). Ông tự nguyện hỗ trợ Thái Bình Thiên Quốc tuyển mộ quân tình nguyện nước ngoài, mua sắm vũ khí, cung cấp lương thực, tiến hành tuyên truyền, đồng thời tổ chức quân đội tham gia chiến đấu.
Mỗi ngày, vị đại tá người Anh này đều dành một khoảng thời gian để huấn luyện Thái Bình quân sử dụng pháo binh, hoặc diễn tập các trận pháp kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Người Trung Quốc rất giỏi bắt chước; do Thái Bình quân có môi trường tự do, tư tưởng không bị gò bó, họ nhanh chóng học được tiếng Anh cũng như nhiều kỹ năng khác, tiến bộ trong học tập rất nhanh chóng.
Bích họa Thái Bình Thiên Quốc “Đồ song lộc linh chi”. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Sự khoan dung đáng kinh ngạc
Về sau, sau khi người thân của Thái Bình quân bị người Anh tàn sát, hoặc bị giao cho quân Thanh tra tấn rồi xử tử, vợ và con gái của họ lại bị quân Thanh cưỡng hiếp và làm nhục, thái độ thân thiện của những Thái Bình quân này đối với người Anh và những người nước ngoài khác vẫn không hề thay đổi. Mỗi lần hồi tưởng lại chuyện này, vị đại tá người Anh thường có cảm giác như đang ở trong một giấc mộng, vô cùng kinh ngạc trước sự khoan dung và nhẫn nại mà họ thể hiện. Hàng vạn người trong số này về sau đã bị sát hại; “Quốc gia tiêu diệt họ chính là quốc gia mà họ hết sức muốn noi theo về tôn giáo và chế độ văn minh” (ám chỉ nước Anh). (Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, trang 54).
Trong ba năm từ năm 1862 đến năm 1864, nước Anh đã giao cho nhà Thanh một số lượng lớn tù binh Thái Bình quân, cuối cùng họ đều bị hành quyết bằng những hình thức tra tấn tàn khốc như lăng trì. Theo luật báo thù của các quốc gia văn minh, những Thái Bình quân này là những người có đầy đủ tư cách nhất, cũng có nhiều cớ và lý do nhất để giết bất kỳ người Anh nào mà họ gặp. (Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, trang 280). Nhưng họ đã không làm vậy; đức tin đã giúp họ giữ được lòng khoan dung vô cùng to lớn.
(Còn tiếp)
Biên tập bản tiếng Trung: Tô Tiểu Ý



