Tác giả: Hoàng Phủ Dung
[ChanhKien.org]
Từ nhỏ, Hồng Tú Toàn đã đọc thuộc Tứ Thư Ngũ Kinh, ôm chí lớn và hoài bão phi thường. Hình ảnh được trích từ Hồng Tú Toàn toàn truyện. (Tư liệu công cộng)
“Tòng lai phúc đại tắc lượng đại,… Thị dĩ Thái Sơn bất từ thổ nhưỡng, cố năng thành kì cao; hà hải bất trạch tế lưu, cố năng tựu kì thâm; vương giả bất khước chúng thứ, cố năng thành kì đức. Phàm thử giai lượng vi chi dã” — Hồng Tú Toàn, “Nguyên Đạo Tỉnh Thế Huấn”.
Tạm dịch là:
Xưa nay, phúc lớn thì độ lượng cũng lớn, … Núi Thái Sơn không chê đất nên mới cao được như vậy; sông biển không chê dòng suối nhỏ mới sâu được như vậy; bậc vương giả không ruồng bỏ chúng dân nên mới vun đắp được đức lớn như vậy. Hết thảy những điều ấy đều do độ lượng mà tạo nên.
Tỉnh Thế Huấn lại viết:
“Đại Đạo sướng hành, thiên hạ vi công. Duy nguyện thiên hạ tuân tuần Thượng Đế chân đạo, bỉnh thiên uy, tuân thiên giới, chính kỷ chính nhân thì, tác thế gian trung lưu chỉ trụ, vu bại lạc chi thì nhật lực vãn cuồng lan. Biến ‘Quai li kiêu bạc chi thế’ vi ‘Công bình chính trực chi thế’, sử thiên hạ nhất gia, cộng hưởng thái bình.” — Hồng Tú Toàn, Nguyên Đạo Tỉnh Thế Huấn.
Tạm dịch là: Đại Đạo được thực hành rộng khắp, thiên hạ là của chung. Chỉ mong thiên hạ tuân theo chân Đạo của Thượng Đế, kính giữ uy trời, tuân theo thiên giới; khi sửa mình và sửa người, hãy trở thành trụ cột giữa dòng đời, lúc thời cuộc suy bại thì dốc sức xoay chuyển cơn sóng dữ. Biến “thế gian xa rời đạo lý, bạc bẽo suy đồi” thành “thế gian công bằng, chính trực”, khiến thiên hạ là một nhà, cùng hưởng thái bình.
(Chú thích: “Thượng Đế” ở đây không chỉ khái niệm tôn giáo phương Tây, mà chỉ vị Thần tối cao chủ quản vũ trụ, thống lĩnh chính pháp và chính đạo trong thiên hạ.)
Vào cuối thời nhà Thanh, trong lịch sử Trung Hoa xuất hiện một triều đại ngắn ngủi — Thái Bình Thiên Quốc, tức “Hồng triều” mà Tôn Trung Sơn hay gọi.
Người sáng lập là Hồng Tú Toàn (1814–1864), tên ban đầu là Hồng Hỏa Tú, người huyện Hoa, tỉnh Quảng Đông. Tổ tiên của ông là Hồng Hạo, một danh thần thời Nam Tống, cùng thời với anh hùng kháng Kim Nhạc Phi, đều là những trung thần có công bảo vệ đất nước. Về sau, gia tộc họ Hồng di cư xuống phía Nam, đến định cư tại huyện Hoa, Quảng Châu. Từ nhỏ, Hồng Tú Toàn đã đọc thuộc Tứ Thư Ngũ Kinh, ôm chí lớn và mang hoài bão phi thường.
Thuở thiếu niên, ông từng cùng người đồng hương Lạc Bỉnh Chương ra ao tắm vào một đêm trăng. Nhìn những vì sao trải khắp bầu trời, Hồng Tú Toàn cảm khái nói: “Đêm tắm ở ao cá, lay động khắp trời sao”, chí lớn phi thường đã bộc lộ rõ qua lời nói.
Lạc Bỉnh Chương liền hưởng ứng, nói với ông: “Mong ông sớm được ghi danh nơi Lân Các, xoay chuyển càn khôn Tam Đại”.
Hồng Tú Toàn quay sang than rằng: “Càn khôn nay đã chẳng còn như thời Tam Đại, Lân Các cũng đã sớm thuộc về người khác. Có lên đó cũng chẳng cần, có xoay chuyển cũng chỉ thêm chuyện”. Lạc Bỉnh Chương cười, nói rằng sau này ông nhất định sẽ trở thành một bậc hào hùng.
Chân dung Hồng Tú Toàn (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Bài thơ “Trảm tà lưu chính”
Tư tưởng sáng lập Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn đã bộc lộ trong bài thơ “Trảm tà lưu chính” ông viết năm 1837, thể hiện chí hướng trảm trừ tà ác, giải trừ mối họa cho dân chúng.
Bài thơ viết:
“Thủ ác kiền khôn sát phạt quyền, trảm tà lưu chính giải dân huyền.
Nhãn thông Tây Bắc giang sơn ngoại, thanh chấn Đông Nam nhật nguyệt biên.
Tỉ kiếm quang vinh tồn đế tứ, thi chương bằng cứ tụng da tiền,
Thái Bình nhất thống quang thế giới, uy phong khoái nhạc vạn thiên niên.”
Tạm dịch:
Tay nắm quyền sát phạt xoay chuyển càn khôn, trảm tà giữ chính, giải mối lo cho dân.
Mắt nhìn thấu cõi giang sơn Tây Bắc, tiếng vang động đến tận nơi nhật nguyệt phía Đông Nam.
Ấn kiếm rạng rỡ, vẫn lưu giữ ân vua ban; lấy thơ chương làm chứng, xướng tụng trước Đấng Thiên Phụ.
Thái Bình thống nhất soi sáng thế gian, uy phong và niềm vui kéo dài muôn nghìn năm.
Theo “Thái Bình Thiên Nhật” (một trong những sách do Thái Bình Thiên Quốc khắc in), vào ngày 1/3/1837, Hồng Tú Toàn lâm trọng bệnh suốt 40 ngày, khi đang cận kề cái chết, ông đã nhìn thấy đủ loại dị tượng về việc lên trời trong cơn bạo bệnh. Đây chính là “Giấc mộng dị thường năm Đinh Dậu” nổi tiếng.
Trong giấc mộng, Hồng Tú Toàn nhìn thấy vô số thiên sứ từ trên trời giáng xuống, cung kính nghênh đón ông lên trời. Ông lại nhìn thấy rất nhiều em bé mặc áo vàng đang nhảy múa vui vẻ phía trước, các thiên sứ dìu Hồng Tú Toàn ngồi vào kiệu. Hồng Tú Toàn cảm thấy vô cùng áy náy, đến trước cổng trời, hai bên có vô số tiên nữ đang chờ đón ông. Hồng Tú Toàn giữ mình chính trực, không hề liếc mắt trước sắc đẹp trước mắt.
Sau khi tiến vào Thiên quốc, nơi đây rực rỡ huy hoàng, thế giới Thiên quốc quả nhiên khác hẳn cõi phàm trần. Ông nhìn thấy vô số thiên thần mặc long bào, đội mũ có sừng đến làm lễ bái ông. Sau khi tắm rửa thanh tẩy thân thể tại sông Thiên Hà, Hồng Tú Toàn được Thiên Mẫu đưa đi yết kiến Thiên Đế.
Trong giấc mộng, Hồng Tú Toàn nhìn thấy Thiên Đế mặc áo bào trắng, đích thân ban cho ông bảo đao và ngọc tỷ, lệnh ông xuống trần gian trừ yêu diệt ma. Thiên Đế nói rằng tên của ông phải được kiêng kị, nhất định phải dùng chữ “Toàn” (全); chữ “Toàn” khi tách ra thành “Nhân Vương” (人王), mang ý nghĩa quân vương.
Thiên Đế nói rằng, phàm nhân trên thế gian đều do thiên thần sinh dưỡng, nhưng nay họ chỉ biết hưởng phúc nơi trần thế, lại quên mất mục đích ban đầu khi xuống trần, không còn chút lòng kính sợ thiên thần. Người trên mặt đất bị yêu ma mê hoặc, tiêu hao phúc đức mà Thần đã ban cho, đem những phúc đức ấy phụng thờ yêu ma, như thể chính yêu ma đã sinh dưỡng họ. Nào hay biết rằng đó chính là yêu ma đang hãm hại, trói buộc và bắt giữ họ, vậy mà họ lại không biết tỉnh ngộ. Thiên thần chứng kiến cảnh tượng ấy đều vô cùng căm ghét, nhưng cũng hết sức thương xót những con người này.
Thiên Đế ban cho ông kim tỷ và một thanh bảo kiếm Vân Trung Tuyết, lệnh cho các thiên sứ đi theo ông xuống trần để trừ yêu. Khi Hồng Tú Toàn đại chiến với quần ma, Thiên Đế đứng phía sau ông, còn Chúa Giê-su tay cầm kim tỷ soi yêu, cũng đứng phía sau hỗ trợ ông chiến đấu.
Nguyên Đạo Cứu Thế Ca
Hồng Tú Toàn nhân danh Cơ Đốc giáo, sáng lập “Bái Thượng Đế Hội”. Ông nói: “Bởi lòng người quá đỗi bại hoại, triều chính nhà Thanh hủ bại, thiên hạ ắt sẽ xảy ra đại tai đại họa; chỉ có tin thờ Thượng Đế mới có thể tránh được tai họa. Phàm những người tin theo, bất kể nam nữ hay sang hèn, đều bình đẳng; nam gọi là huynh đệ, nữ gọi là tỷ muội.”
Vì vậy, Hồng Tú Toàn đề ra cho tín chúng 10 điều giới luật, bao gồm tôn sùng Hoàng Thượng Đế, không thờ tà pháp tà thần, không sát hại người đời, không gian tà dâm loạn, không trộm cắp, phải kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ, trưởng bối, v.v.
Ngọc tỷ của Hồng Tú Toàn Thái Bình Thiên Quốc, nguyên ấn có cạnh dài 19,6 cm, mặt bên chạm hoa văn song phượng chầu mặt trời. Về tính chân thực của ngọc tỷ cũng như cách đọc các chữ khắc trên đó, giới học thuật từ trước đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Trong “Nguyên Đạo Cứu Thế Ca”, Hồng Tú Toàn chỉ ra rằng căn nguyên của thế đạo rối ren, lòng người suy đồi đều là vì chữ “tư” (私). Ông chủ trương con người phải từ bỏ những vọng niệm của bản thân, không để thế tục ràng buộc, mới có thể khôi phục bản tính thuần phác vốn có của con người. Theo quan niệm của ông, từng sợi tơ, từng sợi chỉ, mỗi miếng ăn, ngụm nước uống trên thế gian đều do Trời ban; con người nên giữ lòng tin kiên định với Trời và thành kính lễ bái nhiều hơn.
Ông nói: “Từ xưa, vua và thầy không khác nhau về trách nhiệm, chỉ dùng chính đạo để thức tỉnh dân chúng. Từ xưa, người thiện và người chính không khác nhau về đức hạnh, chỉ dùng chính đạo để tu dưỡng bản thân”. Chỉ có thực hành chính đạo mới có thể khiến dân chúng thức tỉnh; chỉ có đi theo chính đạo mới có thể tu thiện bản thân.
Trong “Cứu Thế Ca”, Hồng Tú Toàn cũng chỉ ra những hành vi không chính đáng trong xã hội, bao gồm tà dâm, bất hiếu với cha mẹ, giết hại, trộm cắp, hút thuốc phiện và cờ bạc, v.v. Trước những thói phong tục suy đồi trong xã hội ấy, Hồng Tú Toàn khuyên con người phải sống ngay chính, từ bỏ những hành vi bất chính này. Ông nói: “Điều bất chính là thứ mà Trời căm ghét, người biết sống ngay chính là người được Trời yêu mến”. Phàm là người sống hiên ngang giữa trời đất, đều nên sớm trở về với bản tính chất phác, chân thật.
Trong những câu chuyện của Kinh Thánh, Thượng Đế từng dùng đại hồng thủy để hủy diệt thế giới, cũng từng hủy diệt thành Sodom vì suy đồi đạo đức, đồng thời đề cập đến những sự việc như đại thẩm phán ngày tận thế. Các tướng lĩnh Thái Bình Thiên Quốc từng tự hỏi liệu những tai họa như vậy có còn giáng xuống hay không? Đối với những câu chuyện được đề cập trong Kinh Thánh, Hồng Tú Toàn đều giữ thái độ thận trọng; mỗi lần trò chuyện với người khác, giọng điệu và thái độ của ông đều vô cùng chân thành, thành khẩn. (“Dị mộng của Hồng Tú Toàn”, trích dẫn từ “Tư liệu về Thái Bình Thiên Quốc” (VI), trang 849)
Quân sư Tiền Giang
Quân sư của Hồng Tú Toàn là Tiền Giang. Người này tinh thông chư tử bách gia, Lục Thao, Ngũ Lược, đối với thiên văn, địa lý, binh pháp, hình luật, tiền lương đều không gì không biết. Khi nạn thuốc phiện tràn lan ở Trung Quốc, độc hại lan rộng khắp nơi, Tiền Giang từng bàn luận với mọi người tại Quảng Đông về việc cấm thuốc phiện và chống lại người Anh. Ông cho rằng việc buôn bán thuốc phiện không chỉ đầu độc hàng triệu người Trung Quốc, mà còn khiến hàng chục triệu lượng vàng bạc chảy sang nước khác.
Tháng 1 năm Đạo Quang thứ 20 đời Thanh (năm 1840), Tiền Giang ủng hộ Tổng đốc Lưỡng Quảng Lâm Tắc Từ cấm thuốc phiện và tiến hành tiêu hủy thuốc phiện tại Hổ Môn. Trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất, quân Thanh đại bại, Trung Quốc và Anh ký kết “Hiệp ước Nam Kinh” bất bình đẳng. Tin tức truyền đến Quảng Châu, quần chúng vô cùng phẫn nộ. Tiền Giang cùng Hà Đại Canh và Biện Giang Ân soạn thảo “Công hịch của nghĩa sĩ, nghĩa dân toàn Quảng Đông”, dán tại Minh Luân Đường, giận dữ lên án những tội ác của quân Anh như “cướp đất đai của ta, sát hại quan văn võ của ta, làm nhục phụ nữ của ta, cướp đoạt tài sản của ta”, đồng thời phản đối triều đình nhà Thanh “không màng đến mối thù mất nước, nỗi oán của nhân dân, vội vàng cắt đất, nộp vàng”. Việc nhượng Hồng Kông và mở cửa các cảng như Quảng Châu chẳng khác nào “mở cửa nghênh đạo tặc, mở cửa nhà mời sói vào”. Bản công hịch này đã khơi dậy tinh thần bảo vệ đất nước của người dân Quảng Châu, khiến mọi người lần lượt hưởng ứng.
Sau khi Tiền Giang bị tri huyện Lương Tinh Nguyên bắt giữ, khâm sai đại thần nhà Thanh là Y Lý Bố hạ lệnh đày ông đến Tân Cương. Về sau, ông được đại xá và trở về. Tại Chiết Giang từng lưu truyền một bài đồng dao:
“Ba mươi vạn quân động tám phương,
Trời kêu đất khóc, chẳng chốn nào ẩn náu;
Sắp đặt ngựa trắng đón dê đỏ,
Mười hai anh hùng, thế không ai địch nổi.”
Tiền Giang suy đoán rằng câu “Ba mươi vạn quân động tám phương” chính là ứng vào năm Đạo Quang thứ 30, khi đó binh đao sẽ nổi lên dữ dội, thanh thế can qua sẽ vô cùng lớn. Ban đêm, Tiền Giang quan sát thiên tượng, nhận thấy khí thế thịnh vượng ở phương Nam đang lên cao, các sao võ tướng tụ hội tại Quế Lâm, từ đó suy đoán rằng sau này vùng Quảng Tây nhất định sẽ xuất hiện đông đảo hào kiệt.
Đúng như lời ông nói, vào năm Đạo Quang thứ 30, Hồng Tú Toàn lãnh đạo quân Thái Bình khởi nghĩa tại Quảng Tây. Đến tháng 3 năm Hàm Phong thứ 3 (năm 1853), quân Thái Bình chiếm được Kim Lăng, lấy đây làm kinh đô của Thái Bình Thiên Quốc và đổi tên thành “Thiên Kinh”.
(Còn tiếp)
Biên tập bản tiếng Trung: Tô Tiểu Ý


