Tác giả: Lưu Hiểu
[ChanhKien.org]
Bức họa màu Ngô Đại Đế Tôn Quyền do người thời nhà Thanh vẽ. (Tư liệu công cộng)
Về đạo vua tôi, Mạnh Tử từng nói:
“Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm; quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân; quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu cừu”. Ý nghĩa của lời dạy này là: Vua đối đãi với bề tôi như anh em thì bề tôi sẽ đối đãi với vua như tâm phúc, lấy cái chết để báo đáp; vua coi bề tôi như súc sinh, bề tôi sẽ coi vua như một người bình thường chẳng liên quan gì mà đối đãi; vua coi bề tôi bùn đất cỏ rác, bề tôi sẽ coi vua như kẻ địch. Là vị vua có mưu lược kiệt xuất vùng Giang Đông, Tôn Quyền đã diễn dịch thành công ân nghĩa quân thần, có thể lấy Giang Đông Tứ Kiệt làm ví dụ.
Xem Chu Du như anh trai
Sau khi Tôn Sách bị ám sát qua đời, Chu Du với thân phận Trung hộ quân đã cùng Trưởng sử Trương Chiêu đồng lòng phò tá Tôn Quyền. Thời bấy giờ, Giang Đông truyền câu nói: “Việc trong nhà không quyết được thì hỏi Trương Chiêu, việc bên ngoài không quyết được thì hỏi Chu Du”. Nghĩa là Trương Chiêu chịu trách nhiệm việc triều chính nội bộ, còn Chu Du phụ trách dẫn quân bên ngoài, chống chọi ngoại địch, mở mang bờ cõi. Đối với Chu Du, Tôn Quyền cũng hết mực tôn kính, ban tặng ân lễ chu toàn và đối xử như anh trai ruột thịt. Chu Du nhờ vậy lại càng trung thành và tận tâm.
Khi đại quân của Tào Tháo áp sát biên giới, nội bộ Đông Ngô chia làm hai phe chủ hòa – chủ chiến với thế lực ngang nhau. Lúc này, Chu Du một mình gạt bỏ mọi ý kiến trái chiều, phân tích rõ thế mạnh của phe mình là “đất rộng hàng ngàn dặm, binh tinh nhuệ đủ dùng”, đồng thời chỉ ra điểm yếu của quân Tào: “Không giỏi thủy chiến, lại thêm mùa đông giá rét, ngựa không có cỏ ăn, binh sĩ đi đường xa xôi không hợp nước độc chắc chắn sẽ sinh bệnh”. Từ đó, ông kiên quyết chủ trương kháng Tào, khẳng định chỉ cần 5 vạn tinh binh là có thể đánh bại quân Tào. Quả nhiên, đúng như Chu Du dự đoán, trận Xích Bích đã khiến quân Tào tổn thất nặng nề nguyên khí, đặt nền móng vững chắc cho cục diện Tam Quốc chân vạc.
Hai năm sau đại chiến Xích Bích, Chu Du lâm bệnh qua đời. Tôn Quyền đã “mặc áo trắng chịu tang, khiến cho tả hữu xung quanh đều cảm động”. Cho đến tận khi xưng đế, ông vẫn bùi ngùi cảm thán rằng: “Ta nếu không có Chu Công Cẩn thì đã không thể làm Hoàng đế!”
Chính vì tình nghĩa quân thần sâu nặng như vậy, Tôn Quyền đối với gia quyến của Chu Du cũng hết lòng chăm sóc. Con trai trưởng của Chu Du là Chu Tuần làm quan đến chức Kỵ đô úy, cưới con gái của Tôn Quyền và Bộ phu nhân là Tôn Lỗ Ban; con trai thứ của Chu Du là Chu Dận làm quan đến chức Hưng Nghiệp đô úy, được phong Đô Hương hầu (sau vì phạm tội mà bị bãi chức), cưới con gái trong tông thất họ Tôn; còn con gái lớn của Chu Du thì gả cho con trai trưởng của Tôn Quyền là Thái tử Tôn Đăng. Có thể nói, với mối quan hệ thông gia gắn kết như thế này, nhà họ Tôn đã ban cho Chu Du một ân huệ hiếm có trên đời, và việc Chu Du đến chết vẫn báo quốc cũng xem như không phụ lại đoạn ân nghĩa ấy.
Bỏ qua sở đoản, trọng dụng sở trường của Lỗ Túc
Lỗ Túc xuất thân từ một gia đình sĩ tộc. Thuở nhỏ ông mồ côi cha, được bà nội nuôi dưỡng khôn lớn. Ông có vóc người cao lớn, tính tình hào sảng, ham đọc sách, giỏi cưỡi ngựa cung, lại trượng nghĩa khinh tài nên rất được dân trong vùng kính trọng. Khi ấy, Chu Du đang giữ chức Trưởng huyện Cư Sào, do thiếu lương thực nên đến cầu viện Lỗ Túc. Lỗ Túc hào hiệp tặng ngay cho Chu Du một kho lương 3000 hộc thóc. Từ đó hai người kết giao thân thiết, về sau Chu Du đã tiến cử Lỗ Túc với Tôn Quyền.
Tôn Quyền lập tức hẹn gặp Lỗ Túc, hai người đàm luận vô cùng tâm đầu ý hợp. Đến khi các quan khách có mặt tại đó đứng dậy lui ra, Lỗ Túc cũng cáo từ bước ra ngoài. Thế nhưng chỉ một lát sau, Lỗ Túc lại được Tôn Quyền âm thầm gọi quay trở lại, hai người cùng ngồi chung một sập (giường) đối ẩm. Tôn Quyền liền hỏi Lỗ Túc làm sao để thành tựu bá nghiệp. Lỗ Túc trả lời rằng: “Triều đình nhà Hán đã không thể chấn hưng được nữa, mà Tào Tháo cũng không thể một sớm một chiều mà trừ khử ngay. Tính kế cho tướng quân lúc này, chỉ có thể đứng vững ở Giang Đông thành thế chân vạc, để quan sát cục diện biến ảo của thiên hạ. Tình thế thiên hạ đã như vậy, cai quản một phương tự nhiên cũng không chuốc lấy sự ghen ghét, ngờ vực. Vì sao thế? Vì phương Bắc chính là lúc nhiều sự biến. Ngài vừa vặn có thể nhân lúc cục diện biến động này mà tiễu trừ Hoàng Tổ, tiến đánh Lưu Biểu, dốc sức chiếm trọn toàn bộ vùng đất phía nam Trường Giang, sau đó xưng đế lập hiệu để từ đó tiến lên mưu đoạt thiên hạ, điều này cũng giống như việc Hán Cao Tổ gây dựng nên đại nghiệp vậy!” Tôn Quyền nghe xong liền bày tỏ rằng bản thân “chỉ hy vọng phò tá Hán thất mà thôi, những lời ngươi nói nằm ngoài khả năng của ta”.
Mặc dù vậy, Trương Chiêu cùng nhiều người khác đều cho rằng Lỗ Túc “tuổi còn trẻ, tính tình qua loa, chưa thể trọng dụng”. Tôn Quyền lại có cách nhìn khác. Ông cho rằng Lỗ Túc có một điểm yếu nhưng hai điểm mạnh, và “một điểm yếu ấy không đủ làm lu mờ hai điểm mạnh; ta bỏ qua chỗ dở mà trọng dụng chỗ hay của ông ấy”. Từ đó, Tôn Quyền hết mực tín nhiệm và trọng dụng Lỗ Túc, ban thưởng hậu hĩnh, giúp gia sản họ Lỗ khôi phục lại sự giàu có như trước. Đáp lại sự tin cậy ấy, Lỗ Túc dốc lòng phò tá, mưu lược sâu xa, luôn đặt lợi ích của Tôn Quyền và Giang Đông lên trên hết. Đặc biệt, khi đại quân Tào Tháo áp sát, ông kiên quyết chủ trương kháng Tào, khiến Tôn Quyền phải thốt lên: “Trời cao đã ban khanh cho ta!”
Sau khi Chu Du qua đời, Lỗ Túc gánh vác trọng trách, lập nhiều công lao to lớn trong việc củng cố chính quyền Đông Ngô. Năm 217, ông lâm bệnh qua đời, hưởng dương 46 tuổi. Tôn Quyền đích thân lo liệu tang lễ và đến dự lễ an táng. Về sau, khi đăng đàn tế trời xưng đế, Tôn Quyền vẫn không quên vai trò quan trọng của Lỗ Túc trong sự nghiệp gây dựng và củng cố Đông Ngô, từng nói với các công khanh: “Xưa kia Lỗ Tử Kính đã từng nói như vậy, quả là người sáng suốt, hiểu rõ thời thế”.
Lỗ Túc qua đời, người con trai là Lỗ Thục sau khi trưởng thành đã trải qua nhiều chức vụ như: Chiêu Vũ tướng quân, Đô Đình hầu, Vũ Xương đốc, Giả tiết, Hạ Khẩu đốc. Ông cai quản quân đội vô cùng nghiêm chỉnh và là người tài giỏi. Sau khi ông lâm bệnh qua đời, con trai ông là Lỗ Mục đã thừa kế tước vị và tiếp quản việc thống lĩnh binh mã.
Lã Mông tận trung, vua lo khi bề tôi qua đời
Đại tướng Lã Mông tuy xuất thân hàn vi nhưng là người vừa có dũng vừa có mưu. Tôn Quyền hết sức coi trọng ông, từng khen rằng “mưu lược hơn người”. Suốt đời mình, Lã Mông tận tâm phò tá Tôn Quyền, nhiều lần lập đại công, như tiêu diệt kình địch Hoàng Tổ, chiếm đất Giang Hạ; cùng Chu Du và Trình Phổ đại phá quân Tào trong trận Xích Bích; dùng mưu thu phục ba quận; sau đó tiến quân Giang Lăng, phối hợp với Lục Tốn tập kích Kinh Châu, đánh bại Quan Vũ, góp phần mở rộng đáng kể lãnh thổ và thế lực của Đông Ngô.
Để nâng cao kiến thức cho Lã Mông, Tôn Quyền từng khuyên ông nên đọc nhiều sách, nhưng Lã Mông lại than phiền rằng quân vụ bận rộn, e là không có thời gian đọc. Tôn Quyền liền lấy gương Lưu Tú và Tào Tháo dù việc quân ngập đầu nhưng vẫn “tay không rời sách” để khích lệ ông. Đồng thời, Tôn Quyền còn chuẩn bị sẵn cho ông các cuốn như: Tôn Tử Binh Pháp, Lục Thao, Tả Truyện, Quốc Ngữ, Sử Ký, Hán Thư, Đông Quan Hán Kỷ… Lã Mông từ đó bắt đầu ra sức học tập, ngày qua tháng lại, đọc được rất nhiều sách, kiến thức cũng ngày một uyên bác hơn.
Sau khi Chu Du qua đời, Lỗ Túc tiếp quản việc trấn thủ Lục Khẩu để kiềm chế Quan Vũ ở Kinh Châu. Có một lần, Lỗ Túc đến thăm hỏi Lã Mông. Lã Mông mở tiệc chiêu đãi, lúc rượu đã ngấm, bầu không khí thân tình, Lã Mông liền hỏi Lỗ Túc: “Ngài gánh vác trọng trách quốc gia, lại làm láng giềng với Quan Vũ, đã có kế sách gì để phòng bất trắc chưa?” Lỗ Túc đáp: “Tùy cơ ứng biến thôi”. Lã Mông nghiêm nghị nói: “Hiện nay Ngô – Thục tuy cùng chung chiến tuyến, nhưng Quan Vũ là kẻ như hổ như gấu, đối phó với ông ta sao có thể không dự tính mưu kế từ trước?” Nói xong, Lã Mông liền trình bày liền năm phương lược để đối phó với Quan Vũ. Lỗ Túc nghe xong vô cùng kinh ngạc nói: “Ta vốn tưởng ngươi chỉ có võ biền, không ngờ kiến thức nay đã đạt đến mức này!” Tiếp đó liền tán dương: “Ngươi nay học vấn uyên bác, đã không còn là ‘A Mông của xứ Ngô’ năm xưa nữa rồi!” Kể từ đó, hai người kết thành hảo bằng hữu, đi lại với nhau rất mật thiết.
Trong trận Giang Lăng, Lã Mông lập công lớn. Vì vậy, Tôn Quyền bổ nhiệm ông làm Thái thú Nam Quận, phong tước Hầu đất Sàn Lăng, đồng thời ban thưởng mười vạn tiền và năm trăm cân vàng. Lã Mông nhiều lần từ chối nhận số vàng bạc ấy, nhưng Tôn Quyền nhất quyết không đồng ý. Khi sắc phong còn chưa kịp ban xuống, Lã Mông lâm bệnh nặng. Tôn Quyền đón ông vào cung để tiện chăm sóc, treo thưởng nghìn lạng vàng tìm danh y khắp thiên hạ chữa trị. Mỗi khi thầy thuốc châm cứu cho Lã Mông, Tôn Quyền muốn thường xuyên đến thăm nhưng lại sợ làm kinh động khiến ông không được nghỉ ngơi, nên cho khoét một lỗ nhỏ trên vách để lặng lẽ dõi theo. Thấy Lã Mông ăn được đôi chút, Tôn Quyền vui mừng khôn xiết; thấy ông không thể nuốt nổi một giọt nước, ông lại buồn bã lo âu. Khi bệnh tình của Lã Mông có phần thuyên giảm, Tôn Quyền còn đặc xá phạm nhân để bày tỏ niềm vui. Đến lúc bệnh trở nặng, ông luôn túc trực bên giường bệnh, lại sai đạo sĩ cầu phúc cho Lã Mông. Khi Lã Mông không may qua đời, Tôn Quyền đau đớn khôn nguôi.
Khi còn sống, Lã Mông đem toàn bộ vàng bạc, châu báu và mọi phần thưởng được ban đều gửi vào kho phủ cất giữ, đồng thời dặn người quản lý rằng sau khi ông qua đời, tất cả phải hoàn trả lại triều đình. Trong di ngôn, ông cũng căn dặn tang lễ phải tổ chức giản dị, tuyệt đối không được xa hoa, lãng phí.
Khi biết được những việc ấy, Tôn Quyền càng thêm đau xót. Về sau, ông cho con trai của Lã Mông là Lã Bá kế thừa tước vị, lại ban 300 hộ dân để trông coi phần mộ của họ Lã và cấp 50 khoảnh ruộng được miễn thuế để phụng dưỡng gia tộc. Ân nghĩa quân thần giữa Tôn Quyền và Lã Mông sâu nặng như vậy, khiến hậu thế không khỏi cảm khái.
Lục Tốn: Xuất tướng nhập tướng
Lục Tốn là một bậc lương đống của Đông Ngô bên cạnh Chu Du, Lỗ Túc và Lã Mông. Năm 203, ông vào làm việc trong mạc phủ của Tôn Quyền. Qua một số trận đánh, Lục Tốn bước đầu bộc lộ tài năng quân sự xuất chúng của mình, nhờ vậy rất được Tôn Quyền coi trọng. Kể từ đó, ông đã theo phò tá Tôn Quyền hơn 40 năm. Tôn Quyền đối với Lục Tốn luôn dùng “quân” để xưng hô, lại còn gả cháu gái của mình (con gái của Tôn Sách) cho Lục Tốn, đồng thời thường xuyên tìm ông để bàn bạc những đại sách trị quốc.
Tôn Quyền hết sức tin cậy Lục Tốn. Ông còn đặc biệt giao cho Lục Tốn giữ một chiếc ấn tín của mình. Mỗi khi có thư từ qua lại với Thục Hán, Tôn Quyền đều để Lục Tốn xem trước; nếu thấy điều gì chưa thỏa đáng, Lục Tốn có thể tự sửa đổi rồi đóng ấn và gửi đi.
Năm 222, trong trận Di Lăng, Lục Tốn đại phá quân Thục Hán do Lưu Bị chỉ huy, từ đó danh chấn thiên hạ. Trận Di Lăng cũng trở thành một trong những điển hình nổi tiếng trong lịch sử quân sự về nghệ thuật phòng ngự tích cực.
Năm 228, khi Đại tư mã nước Ngụy là Tào Hưu đem đại quân Nam tiến, Lục Tốn thống lĩnh quân Ngô nghênh chiến. Tôn Quyền còn đích thân cầm roi đứng cạnh xe chỉ huy để tiễn và khích lệ ông xuất quân. Sau chiến thắng, Lục Tốn được phong làm Thượng Đại tướng quân, thống lĩnh cả quân sự lẫn chính sự của Đông Ngô trong hơn 10 năm.
Về sau, Tôn Quyền lại giao cho Lục Tốn phò tá Thái tử Tôn Đăng trấn giữ Vũ Xương, đồng thời trao cho ông chức Tổng đốc quân quốc cùng nhiều trọng trách khác. Có thể nói là ân sủng có thừa.
Năm 244, Tôn Quyền bổ nhiệm Lục Tốn giữ chức Thừa tướng. Trong chiếu thư, ông viết: “Trẫm là kẻ không có đức, vâng mệnh trời lên ngôi lớn. Nay thiên hạ vẫn chưa thống nhất, gian tà còn đầy rẫy, ngày đêm Trẫm luôn ưu tư, chẳng lúc nào được yên nghỉ. Chỉ có khanh bẩm sinh thông tuệ, đức hạnh sáng ngời, đảm đương trọng trách của bậc thượng tướng, tận lực phò tá triều đình, dẹp yên loạn lạc. Người lập công lao cái thế tất phải được ban vinh hiển xứng đáng; người văn võ kiêm toàn ắt phải gánh vác trọng trách xã tắc. Xưa kia có Y Doãn phò tá Thương Thang dựng nên cơ nghiệp nhà Thương, có Lã Vọng giúp nhà Chu hưng thịnh. Nay mọi việc lớn nhỏ trong ngoài triều đình đều trông cậy vào một mình khanh. Nay Trẫm bổ nhiệm khanh làm Thừa tướng, sai Thái thường Phó Thường cầm tiết đến trao ấn và dây thao. Khanh hãy phát huy đức hạnh cao đẹp, lập nên công nghiệp vẻ vang, kính cẩn vâng theo vương mệnh, an định và bình yên bốn phương”.
Sau khi đảm nhiệm chức Thừa tướng, Lục Tốn vẫn một lòng tận tụy với chức trách, trung thành tuyệt đối với Tôn Quyền. Những điều ông dự đoán hầu như đều ứng nghiệm.
Bấy giờ, Thái tử Tôn Hòa và Lỗ vương Tôn Bá tranh đoạt ngôi vị kế thừa, khiến triều đình hình thành hai phe đối lập. Phần lớn quan lại đều sai con em theo hầu một trong hai vị. Lục Tốn giữ thái độ trung lập, nhưng cuối cùng vẫn bị cuốn vào cuộc tranh chấp ngôi Thái tử và còn bị Tôn Quyền, do chưa hiểu rõ sự tình, nghiêm khắc quở trách. Lục Tốn tức giận khó nhẫn, lâm bệnh rồi qua đời vào tháng 2 năm 245, hưởng thọ 63 tuổi. Về sau, khi biết được chân tướng rằng Tôn Bá đã hãm hại Tôn Hòa và Lục Tốn thực sự bị oan, Tôn Quyền vô cùng hối hận. Ông nói với con trai của Lục Tốn là Lục Kháng: “Trẫm trước đây đã nghe theo lời gièm pha, đối xử trái đạo với phụ thân của khanh, thật có lỗi với khanh. Tất cả những tấu chương và tài liệu dùng để trách cứ phụ thân khanh, Trẫm đã tự tay đốt sạch, không để ai còn nhìn thấy nữa”. Về sau, Lục Tốn được truy tặng thụy hiệu Chiêu hầu.
Sơ kết
Khổng Tử nói: “Quân đối thần dĩ lễ tương đãi, thần vi quân tố sự tẫn trung”. Tạm dịch là vua đối xử với tôi bằng lễ, tôi phụng sự vua bằng lòng trung. Nền văn hóa Trung Hoa cũng có những câu cổ ngữ tương tự như: “Ném đào báo mận”, “Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ”, “Ơn giọt nước, trả dòng sông” v.v. Cuộc tương phùng giữa Tôn Quyền với Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông và Lục Tốn hơn 1000 năm trước, chính là để viết nên những minh chứng sống động trong dòng chảy lịch sử, và cũng là để lưu lại cho hậu thế bài học sâu sắc về ân nghĩa quân thần chân chính.
(Còn tiếp)
Dịch từ:
