Tác giả: Leo Salvatore

[ChanhKien.org]

Phù điêu ‘Yến tiệc của Ashurbanipal’ từ thành cổ Nineveh, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Anh. (Ảnh: London Mharrsch/CC BY 4.0)

Khi nghĩ về Hy Lạp, La Mã, hay những nền văn minh khác, chúng ta thường hình dung đến đền đài, lăng mộ, và các bức tượng làm bằng cẩm thạch. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ về thư viện chưa?

Sau khi chữ viết được phát minh, các thư viện trở thành nhịp đập trái tim của các nền văn minh nhân loại. Chúng lưu trữ các văn bản pháp luật, giữ gìn các tác phẩm văn học có tầm vóc định hình thế giới, và đóng vai trò là các trung tâm học tập phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng.

Văn khố của Vương quốc Hittite

Các nhà sử học đầu tiên trên thế giới đã nhắc đến Hittite — thứ ngôn ngữ hình nêm được chứng thực sớm nhất.

Đến từ phía Bắc Hắc Hải, dân tộc Hittite định cư ở trung tâm của Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay) vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Họ thành thạo kỹ nghệ rèn sắt và sử dụng xe ngựa phục vụ chiến tranh với một hệ thống pháp luật phức tạp được ghi chép bằng rất nhiều văn bản.

Vương quốc Hittite được đặt tên theo thủ đô Hattusa. Vào đầu những năm 1900, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật thành cổ này. Tại đó, họ tìm thấy những ngôi đền lộ thiên, những cổng đá đồ sộ, và những di tích đáng chú ý khác. Trong số các khám phá đáng ghi nhớ nhất có văn khố hoàng gia của thành phố Hattusa. Hiện nay nó được gọi là “Văn khố Bogazkoy”. Bộ sưu tập này đánh số hơn 25.000 bản ghi chữ hình nêm bằng tám ngôn ngữ, trong đó có cả ký tự Akkadian, loại ngôn ngữ chung của các nền văn minh ở phía Đông vùng lòng chảo Địa Trung Hải.

Hiệp ước Kadesh chỉ là một trong hàng ngàn bản ghi được tìm thấy trong Văn khố Bogozoy. (Ảnh: Marcus Cyron/CC BY 3.0)

Văn khố này chứa các biên niên sử, các ghi chép pháp luật, thư từ ngoại giao giữa kinh đô Hattusa và các tỉnh xung quanh, những lời cầu nguyện phổ biến, ghi chép về lễ hội dân gian, và các phiên bản cô đọng về thần thoại đa Thần — tất cả những nguồn tài liệu quý giá này giúp hiểu tường tận mọi khía cạnh của một nền văn minh đã mất từ lâu vốn luôn chú trọng vào việc giữ gìn phong tục của mình.

Hattusa cũng lưu trữ các bản hiệp ước hòa bình quốc tế còn tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử. Văn kiện đó được gọi là “Hiệp ước Vĩnh viễn” tuyên bố Hittite và Ai Cập đình chiến mãi mãi. Lúc đó hai quốc gia này đã tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt trong suốt hai thế kỷ ở vùng đất mà hiện nay thuộc Syria, Li Băng, và các vùng lân cận. Được viết bằng ngôn ngữ Akkadian, hiệp ước gợi lên sự hữu nghị và sự hòa hợp giữa Pharaon Ramesses II của Ai Cập và Hoàng đế Hattusa. Hai vị này được mô tả như huynh đệ, gắn bó với nhau bằng mối quan hệ vô cùng bền vững.

Một trong những bức thư hòa giải trước hiệp ước giữa Pharaon Ramesses II và Hoàng hậu Puduhepa của Hittite là bước đệm cho việc đình chiến theo ngôn ngữ tôn giáo. Vị Pharaon này đã nói rằng: “Thần Mặt Trời và Thần Sấm sẽ trao cho chúng ta tình huynh đệ và hòa bình, trong mối giao hảo này, nơi mà chúng ta sẽ gắng kết mãi mãi. Và những người đưa thư của chúng ta sẽ du hành không ngừng nghỉ giữa chúng ta mãi mãi, vun đắp cho tình huynh đệ và hòa bình”.

Bộ sưu tập hoàng gia của Vua Ashurbanipal

Một bộ sưu tập tương tự gồm các phiến đất sét đã được tìm thấy trong thành cổ Nineveh King đô của Assyria cổ đại, ở vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), vào giữa thế kỷ XIX.

Đến thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, các bộ lạc tham chiến đã tiến vào các vùng lãnh thổ của đế chế Assyria. Tình huống địa chính trị hiểm nghèo này có lẽ đã thúc đẩy Ashurbanipal — vị vua vĩ đại cuối cùng của Assyria (khoảng năm 669–631 trước Công nguyên) khao khát sưu tập thư tịch cổ.

Cũng giống như văn khố của Hittite, hơn 30.000 bản ghi bằng đất sét từ cung điện hoàng gia của Vua Ashurbanipal gồm có các lĩnh vực pháp luật, các vụ xử án, thư từ với các đại sứ quán ngoại quốc, và sổ sách tài chính. Văn khố này cũng bao gồm một số lượng lớn bất thường các văn bản về bói toán. Đây là thông lệ cổ xưa về nhận biết các dấu hiệu để kiến giải tương lai. Các thầy tu và nhà vua phụ thuộc nhiều vào bói toán trong những thời kỳ đầy biến động.

Phù điêu ‘Yến tiệc của Ashurbanipal’ từ thành cổ Nineveh, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Anh. (Ảnh: London Mharrsch/CC BY 4.0)

Vua Ashurbanipal đã gửi đi các chỉ dụ trên khắp vùng Lưỡng Hà, yêu cầu các thành phố gửi cho ngài những bản sao văn kiện địa phương của họ. Là người làm bản sao được dạy nghề, nhà vua cũng thuê những người sao chép văn kiện để làm ra thêm bản sao của các tấm đất sét khắc chữ hình nêm mà ông sở hữu ở Nineveh. Cũng giống như sự quan tâm của nhà vua đối với thuật bói toán, mong ước mãnh liệt trong việc thu thập và lưu giữ những bằng chứng viết tay về luật lệ và phong tục của vùng Lưỡng Hà có thể giải thích phần nào qua niềm tin của Vua Ashurbanipal trong việc lưu tồn kiến thức cho hậu thế. Ông muốn các thế hệ tương lai nhận thức được sự vĩ đại đã trao truyền cho họ, ở Assyria và cả những nơi khác.

H.G. Wells—một tiểu thuyết gia người Anh rất quan tâm đến lịch sử— gọi văn khố của Ashurbanipal là “nguồn tài liệu lịch sử quý giá nhất trên thế giới”.

Trong số những món đồ của kho tàng này có một phiên bản của tác phẩm “Sử thi Gilgamesh”, một huyền thoại sáng lập có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Tác phẩm sử thi này kể lại những chuyến phiêu lưu của Gilgamesh và Enkidu, hai kẻ thù sau đó đã trở thành bạn. Họ đã chế ngự được những sinh vật siêu nhiên được đề cập trong kinh thánh để chứng minh cho sự dũng cảm và sức mạnh của họ. Thấy hai người bạn này quá tự phụ, những vị Thần đã trừng phạt khiến cho Enkidu mắc bệnh nan y. Việc Enkidu sắp chết khiến Gilgamesh dấn thân vào một hành trình đầy chông gai để tìm kiếm bí mật trường sinh.

Sử thi này có lẽ đã mãi mãi bị thất lạc nếu không nhờ một vị vua lo xa đã nhiệt tình bảo tồn thế giới đang suy tàn của mình.

Thư viện Alexandria

Có lẽ ngày nay sẽ chẳng có người nào biết Homer là ai nếu các học giả cần cù không dành vô số thời gian khám phá những cuộn giấy cói trong thư viện Alexandria nổi tiếng của Ai Cập.

Thư viện Alexandria không đồ sộ như các văn khố của Hittite và Assyria. Nó được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, có lẽ theo ý chỉ Vua Ptolemy Đệ Nhị — vị vua của Ai Cập và của hầu hết những vùng đất mà người Hittite cùng người Ai Cập từng tranh giành. Khi Alexander Đại đế băng hà năm 323 trước Công nguyên, đế chế của Vua Ptolemy trở thành một trong những vương triều quyền lực nhất Địa Trung Hải.

Để phô trương sự huy hoàng của vương quốc, Vua Ptolemy Đệ Nhị đã đầu tư dồi dào vào các công trình tri thức. Thư viện này thuộc về “Mouseion”, một hiệp hội học thuật tinh hoa đã tài trợ những học bổng tốt nhất lúc bấy giờ. Truyền thuyết kể lại rằng trong số các thành viên của hiệp hội này có kỹ sư cổ đại Archimedes. Có lẽ ông là người phát minh ra chiếc máy bơm nước mang tính cách mạng trong khi đang nghiên cứu tài liệu ở Alexandria.

Thư viện này giống với một khuôn viên đại học hiện đại. Nó gồm có một phòng ăn chung, các phòng đọc sách và hội họp, những khu vườn và các hội trường thuyết giảng nơi mà thầy trò có thể thảo luận các ý tưởng hoặc tra cứu một sưu tập lớn các cuộn giấy cói.

“Đại Thư viện Alexandria” tranh minh họa của O. Von Corven thế kỷ 19, trong tập “Ký ức Loài người”. (Ảnh: Oak Knoll Press. PD-US)

Vào năm 48 trước Công nguyên, đội quân của Julius Caesar đã phóng hỏa hàng chục tàu thuyền ở cảng Alexandria. Biện pháp mạo hiểm này là nhằm ngăn chặn Vua Ptolemy 14 sắp lên ngôi chiếm lấy các con tàu và nguồn cung cấp quan trọng của họ. Sự táo bạo của Caesar đã mang lại kết quả, nhưng lửa đã lan rộng qua những khu vực gần biển của thành phố, phá hủy một số kho chứa của thư viện. Các nguồn tài liệu cổ đại cho rằng tai nạn này đã thiêu rụi 40.000 cuộn giấy cói. Nhưng đây là một con số tương đối nhỏ đối với một cơ sở có thể lưu trữ lên đến 400.000 văn bản.

Trong số những tài sản quý giá của thư viện có một vài bản chép tay cổ xưa nhất của sử thi Homer. Các học giả của Alexandria đã tìm cách đặt những tập thơ này thành tiêu chuẩn bằng cách tạo ra những bản hiệu đính chuẩn dựa trên sự tương đồng và khác biệt giữa rất nhiều bản chép trong thư viện.

Thư viện đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ. Nó suy tàn từng bước một; chiến tranh, chính trị, và sự bỏ bê đều góp phần như nhau vào sự sụp đổ này. Tòa nhà chính của thư viện có lẽ đã bị phá hủy vào khoảng năm 300 Công nguyên. Cho đến ngày nay, thư viện không còn sót lại cuộn sách nào. Tuy nhiên, những học giả từng đến nghiên cứu tại thư viện đã đặt nền móng cho các tác phẩm văn học kinh điển của phương Tây, mà tầm ảnh hưởng của chúng vượt ra ngoài thành phố này.

Thành cổ Pergamum và giấy da

Khoảng năm 300 trước Công nguyên, những người khai hoang Hy Lạp đã đến định cư tại phía Tây vùng duyên hải Anatolia. Tại đây họ xây dựng thành phố Pergamum. Trong vòng chưa tới một thế kỷ, thành phố này đã trở thành một trung tâm văn hóa. Sự nổi tiếng của họ đã lên đến tột đỉnh khi Vua Eumenes Đệ Nhị của Pergamum quyết định cho xây một thư viện tráng lệ, phần nào cho thấy thành phố này còn tuyệt hảo hơn cả Alexandria.

Pergamum hẳn là chưa bao giờ đạt đến tầm vóc các bộ sưu tập như của thư viện Alexandria. Nhưng tính cạnh tranh của thư viện này đã giúp tạo nên sự đột phá trong kỹ nghệ làm sách dẫn đến sự kết nối giữa thế giới cổ đại và hiện đại.

Khu thành trên đồi cao của Pergamum tại Khu bảo tồn Asclepius, tại Hy Lạp. (Ảnh: Imehling/CC BY-SA 3.0)

Loại giấy cói được dùng ở thư viện Alexandria rẻ tiền và dễ sử dụng hơn so với các bản ghi bằng đất sét dễ vỡ. Nhưng giấy cói bị phân hủy trong chưa đầy 300 năm, trong trường hợp nó có thể được bảo vệ khỏi tất cả các yếu tố [gây hại]. Các cuộn giấy cói cũng khó đọc — không có cách nào tra cứu những chương khác nhau trên cùng một cuộn — và cũng khó vận chuyển hơn.

Để khắc phục những điểm yếu này, các thủ thư của thư viện Pergamum đã bắt đầu thử nghiệm “vellum”, tức là giấy da bê. Những bộ da tươi được xử lý, có lúc lấy từ cừu hoặc dê, được gọi là “parchment” (giấy da). Chữ này có nguồn gốc từ tên thành phố Pergamum trong tiếng La-tinh (pergamenum) và tiếng Pháp (parchemin). Cuối cùng, giấy da đã dẫn đến sự chuyển đổi từ các cuộn giấy dễ hỏng sang các sách chép tay (codex) bền hơn (các tập giấy được đóng gáy ở một đầu). Mặc dù chữ “codex” hiện nay được dùng để chỉ các bản thảo thời Trung cổ, nhưng mọi cuốn sách hiện đại đều theo định dạng codex này. Hầu như toàn bộ văn học cổ đại mà chúng ta biết đều được truyền lại qua các bản viết trên giấy da từ thời Trung Cổ.

Lịch sử của thư viện công cộng đầu tiên

Vào năm 39 trước Công nguyên, chính trị gia Gaius Asinius Pollio đã tu sửa lại một thư viện cũ nát nằm ngay trung tâm La Mã – thành phố bị chiến tranh tàn phá. Công trình được xây dựng từ chiến lợi phẩm của Pollio, tọa lạc tại “atrium libertatis” (sảnh tự do), một khu liên hợp công cộng rộng lớn gồm các tòa nhà hành chính và một khu vườn tượng tuyệt đẹp.

Thư viện này mở cửa cho công chúng mà không có một hạn chế nào, và đây cũng là khu vườn liền kề với phòng trưng bày nghệ thuật. Chắc chắn rằng chỉ những người La Mã biết chữ và biết cách sử dụng các tài nguyên của thư viện thì mới lui tới nơi này. Nhưng về nguyên tắc thì ai cũng có thể đến.

Những bức tượng được đặt ngoài trời trên đường đến thư viện tạo nên bầu không khí thanh cao, được hữu ý thiết kế để tạo cảm hứng cho khách qua đường. Như sử gia La Mã Pliny Già (khoảng năm 23-79 Công nguyên) từng đúc kết, những bức tượng này thôi thúc khách ghé thăm suy ngẫm về cuộc sống và tác phẩm của “những người mà linh hồn bất tử của họ vẫn đang trò chuyện cùng chúng ta”.

Pliny đã ca ngợi Pollio vì đã “sáng lập một thư viện, nơi tạo ra những tác phẩm xuất sắc, là tài sản cho cộng đồng”. Bộ sưu tập của thư viện không chỉ cung cấp cho những thường dân La Mã , mà Pollio còn khuyến khích công dân tham gia bằng các buổi ngâm thơ và các hoạt động tương giao khác.

Là người bảo trợ cho một số những nghệ sĩ đầy triển vọng thời đó, Pollio có lẽ đã tài trợ cho những buổi ngâm thơ của Virgil, một thi hào đã sáng tác cuốn sử thi Aeneid. Hoạt động ngâm thơ đã làm cho thính giả say mê, gồm cả những nhân vật xuất chúng. Sự ủng hộ của họ đã tạo tiền đề cho sự nghiệp rực rỡ của một trong những nhà thơ vĩ đại nhất lịch sử.

Giữ gìn quá khứ

Nếu các văn khố của Hittite và Assyria được biên soạn để ghi chép lại những quy chuẩn xã hội, cung cấp tài liệu cho hệ thống pháp luật phức tạp, hay bảo vệ tài sản của một quốc vương qua những thời điểm loạn lạc, thì những thư viện của Alexandria và Pergamum tích cực hướng đến các trải nghiệm trí tuệ hơn, điều đã giúp tạo ra những phát minh hữu ích và những ý tưởng vượt thời gian. Với khu liên hợp công cộng của Pollio, thư viện cuối cùng đã đảm đương một chức năng mà cho tới nay nó vẫn còn thực hiện: Nó trở thành nơi mà những thường dân được tự do đến đọc những tác phẩm văn học vĩ đại, để thưởng lãm nghệ thuật, và để tu dưỡng tinh thần.

Năm địa điểm này đến cuối cùng đều bị phá hủy. Những tàn tích của chúng hiện chỉ là một phần nhỏ nhoi của những gì chúng từng lưu giữ một thời. Nhưng di tích của chúng báo trước một bài học quan trọng: Quá khứ có thể dễ vỡ như đất sét, mỏng manh như giấy cói, luôn đứng trước nguy cơ bị hủy hoại bởi những yếu tố tác động gây hư hại — thứ vốn luôn làm đau đầu những thủ thư yêu tri thức với sứ mệnh bảo tồn cao cả.

(Theo The Epoch Times)

Dịch từ:

https://www.theepochtimes.com/bright/5-ancient-libraries-that-changed-the-world-6018513