Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]

Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (The Epoch Times chế tác)
II. Phất cờ nghĩa, diệt bạo loạn, bảo vệ ấu chúa
Năm Trung Bình thứ sáu (năm 189), Hán Linh Đế băng hà, hoàng tử Lưu Biện 14 tuổi lên ngôi, tức là Hán Thiếu Đế, tôn mẫu thân là Hà hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, Hà thái hậu lâm triều nhiếp chính. Lấy Hậu tướng quân Viên Ngôi làm Thái phó, cùng Đại tướng quân Hà Tiến quản lý công việc của Thượng thư. Hà Tiến cùng Viên Thiệu bí mật bày mưu tiêu diệt sạch phe hoạn quan, nhưng Thái hậu không nghe. Thiệu lại bày kế, khuyên triệu tập mãnh tướng và hào kiệt bốn phương dẫn binh về kinh thành để uy hiếp Thái hậu; Hà Tiến chấp thuận kế đó.
Tào Tháo nghe chuyện liền cười chê, cho là không đúng: “Hoạn giả chi quan, cổ kim nghi hữu, đãn thế chủ bất đương giả chi quyền sủng, sử chí vu thử. Ký trì kỳ tội, đương tru nguyên ác, nhất ngục lại túc hĩ, hà chí phân phân triệu ngoại binh hồ! Dục tẫn tru chi, sự tất tuyên lộ, ngô kiến kỳ bại dã.” (Tư trị thông giám – Quyển 59 – “Hán kỷ ngũ thập nhất”) Tạm dịch là, Hoạn quan là chức quan từ xưa đến nay đều có, chỉ là bậc chủ thượng không nên quá sủng tín để đến nông nỗi này. Nếu muốn trừng trị, chỉ cần giết kẻ cầm đầu là đủ, cần gì phải huy động ngoại binh! Nếu muốn một lưới bắt hết, ắt sẽ lộ phong thanh, ta thấy việc này nhất định thất bại. Tào Tháo khẳng định, kẻ làm loạn thiên hạ chắc chắn chính là Hà Tiến.
Hà Tiến triệu Đổng Trác vào kinh, nhưng Trác chưa đến nơi thì Hà Tiến đã bị bọn hoạn quan Trương Nhượng sát hại. Khi Đổng Trác đến, bèn phế Thiếu Đế Lưu Biện làm Hoằng Nông Vương và lập Trần Lưu Vương Lưu Hiệp lên ngôi, tức là Hán Hiến Đế. Kinh đô đại loạn, Thái hậu nghẹn ngào rơi lệ, quần thần ngậm ngùi đau xót mà không ai dám nói nửa lời. Sau đó, Đổng Trác lại hạ độc giết cả Thái hậu và Thiếu Đế. Tháng 11 năm Trung Bình thứ sáu (năm 189), Đổng Trác lên làm Tướng quốc, được hưởng đặc quyền: “Tán bái bất danh, nhập triều bất xu, đới kiếm thượng điện”. Theo lễ nghi cổ, khi vào triều phải báo tên, đi đứng phải cung kính nhanh nhẹn; ở đây Thiên tử cho phép Đổng Trác không cần báo tên và được thong thả tiến bước.
Đổng Trác dâng biểu cử Tào Tháo làm Kiêu kỵ hiệu úy. Tào Tháo nhận định Đổng Trác cuối cùng chắc chắn sẽ thất bại nên không phục tùng, bèn thay tên đổi họ, trốn khỏi Lạc Dương. Đổng Trác phái binh truy đuổi, ban lệnh truy nã khắp nơi. Khi Tào Tháo đi qua Trung Mâu (huyện Trung Mâu, tỉnh Hà Nam), ông bị nghi ngờ và bị bắt giam. Viên Công tào trong huyện thầm biết đó chính là Tào Tháo, bèn khuyên Huyện lệnh thả ông đi.
Tào Tháo đi về phía Đông đến Trần Lưu (thuộc địa giới Diễn Châu), người hiếu liêm ở Trần Lưu là Vệ Tư đã đem hết gia tài hỗ trợ Tào Tháo khởi binh. Để dấy nghĩa binh thảo phạt Đổng Trác, Tào Tháo dựng cờ chiêu mộ binh sĩ, trên mặt cờ viết hai chữ “Trung Nghĩa”, tập hợp được 5.000 binh mã. Nhạc Tiến, Lý Điển, anh em Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, cùng các em họ là Tào Hồng, Tào Nhân lúc này cũng tìm đến đầu quân cho Tào Tháo; về sau họ đều trở thành những đại tướng dưới trướng ông.
Tháng Giêng mùa xuân năm Sơ Bình thứ nhất (năm 190), các châu quận ở Quan Đông cũng đồng loạt dấy binh thảo phạt Đổng Trác để hưởng ứng Tào Tháo, bao gồm: Hậu tướng quân Viên Thuật, Ký Châu mục Hàn Phức, Dự Châu thứ sử Khổng Trụ, Diễn Châu thứ sử Lưu Đại, Hà Nội thái thú Vương Khuông, Bột Hải thái thú Viên Thiệu, Trần Lưu thái thú Trương Mạc, Đông Quận thái thú Kiều Mạo, Sơn Dương thái thú Viên Di, và Tế Bắc tướng Bào Tín.
Họ cùng suy tôn Bột Hải thái thú Viên Thiệu làm Minh chủ. Viên Thiệu tự xưng là Xa kỵ tướng quân, còn Tào Tháo giữ chức Phấn vũ tướng quân. Trong khi các hào kiệt đa phần đều hướng tâm về phía Viên Thiệu, thì duy nhất có Tế Bắc tướng Bào Tín nhận định Tào Tháo là bậc tài năng hiếm có, là người có thể dẹp loạn phò chính. Bào Tín nói: “Người có mưu lược xuất thế, có thể dẹp loạn phản chính, chỉ có ngài mà thôi. Nếu không phải ngài, dẫu mạnh cũng sẽ bại vong. Ngài chính là người được trời cao mở đường chăng!” Bào Tín hiểu sâu sắc rằng Tào Tháo chính là chân anh hùng đời nay, nên đã khuyên Tào Tháo hãy thuận theo nghĩa trời, gánh vác trọng trách dẹp loạn, đưa thiên hạ trở lại con đường chính đạo.
Tháng hai, Đổng Trác thấy quân của Minh chủ thế lực lớn mạnh, bèn cưỡng ép Thiên tử dời đô về Trường An, còn mình thì cùng quân ở lại trấn thủ Lạc Dương, phóng hỏa đốt sạch cung điện. Đám người Viên Thiệu vì e sợ quân Đổng Trác hùng mạnh nên không ai dám tiến quân. Tào Tháo khuyên rằng: “Dấy nghĩa binh để diệt trừ bạo loạn, nay đại quân đã hội tụ, chư vị còn nghi ngại chi? Chỉ một trận là thiên hạ định xong, cơ hội này không nên bỏ lỡ.” Nhưng các tướng đều không nghe theo. Tào Tháo một mình dẫn quân tiến về phía Tây, đến sông Biện thuộc Huỳnh Dương thì giao chiến với tướng dưới quyền Đổng Trác là Từ Vinh. Tào Tháo bị tên bay trúng người, con ngựa đang cưỡi cũng bị thương. Tào Hồng bèn nhường ngựa của mình cho Tào Tháo, nhưng Tháo không nhận. Hồng nói: “Thiên hạ có thể không có Hồng, nhưng không thể không có Ngài!”
Tào Tháo trở về Toan Tảo, thấy các đạo quân của Minh chủ hơn mười vạn người suốt ngày bày tiệc rượu hội họp, không lo tiến thủ. Tào Tháo lại hiến kế một lần nữa: “Chư vị hãy nghe kế của ta: để quân Bột Hải dẫn quân Hà Nội đến bến Mạnh Tân; các tướng ở Toan Tảo trấn thủ Thành Cao, chiếm lấy kho Ngao Thương, phong tỏa cửa Hoàn Viên, Thái Cốc, khống chế hoàn toàn những nơi hiểm yếu. Lại để Viên tướng quân (Viên Thuật) dẫn quân Nam Dương đóng tại Đan Thủy, Tích Thủy, tiến vào Vũ Quan, làm chấn động vùng Tam Phụ. Tất cả đều đắp lũy cao hào sâu, không cần giao chiến, chỉ cần phô trương thanh thế làm nghi binh, cho thiên hạ thấy rõ đại thế, lấy thuận diệt nghịch, thì định xong đại cuộc ngay. Nay dấy binh vì nghĩa lớn mà cứ chần chừ không tiến, làm mất lòng trông đợi của thiên hạ, ta trộm lấy làm hổ thẹn thay cho chư vị!” Vẫn không một ai nghe theo. Các tướng đối với việc đánh Đổng Trác thì khiếp nhược không tiến, nhưng lại vì lợi ích riêng mà tự tàn sát lẫn nhau. Viên Thiệu uy hiếp Hàn Phức phải nhường lại Ký Châu, rồi tự mình lĩnh chức Ký Châu mục.
Viên Thiệu và Hàn Phức muốn lập U Châu mục ở phương Bắc là Lưu Ngu làm vua. Viên Thiệu thậm chí còn bí mật khắc sẵn ngọc tỷ của hoàng đế, từng mang ra khoe với Tào Tháo ngay trong tiệc rượu. Lúc bấy giờ thiên hạ đại loạn, dân chúng lầm than, rơi vào cảnh màn trời chiếu đất. Tào Tháo đã làm bài thơ “Hao Lý Hành” để ghi lại cảnh tượng loạn lạc này.
Nguyên văn:
“Quan Đông hữu nghĩa sĩ, Hưng binh thảo quần hung.
Sơ kỳ hội Mạnh Tân, Nãi tâm tại Hàm Dương.
Quân hợp lực bất tề, Trù trừ nhi nhạn hàng.
Thế lợi sử nhân tranh, Tự hoàn tự tương tường.
Hoài Nam đệ xưng hiệu, Khắc tỷ ư bắc phương.
Khải giáp sinh kỷ sắt, Vạn tính dĩ tử vong.
Bạch cốt lộ ư dã, Thiên lý vô kê minh.
Sinh dân bách di nhất, Niệm chi nhân đoạn trường”.
Dịch nghĩa:
“Nghĩa sĩ ở Quan Đông dấy binh thảo phạt gian tà.
Buổi đầu hội quân ở Mạnh Tân mà lòng lại hướng về Hàm Dương.
Quân liên minh sức không đủ, chần chừ không hành động.
Quyền lợi khiến người người tranh đấu, giết hại lẫn nhau.
Em ở Hoài Nam tự xưng hiệu, khắc ngọc tỷ cho người ở phương Bắc.
Giáp trụ sinh ra lũ chấy rận, vạn dân phải chết.
Xương trắng phơi đầy đồng, nghìn dặm không một tiếng gà kêu.
Trăm người còn sót một, nghĩ đến mà đau đứt ruột gan”.
Nỗi lòng tha thiết của nhà Ân (ý chỉ lời văn tha thiết), tràn đầy trung nghĩa trên từng trang giấy. Tào Tháo trong lòng mang nỗi lo dân chúng trong thiên hạ chịu đau khổ, bi thương khi các chư hầu vì lợi ích riêng mà tranh đoạt lẫn nhau, bỏ mặc đại nghĩa. Tuy không hợp với số đông, bị cô lập trong thời bấy giờ, ông vẫn một lòng trung thành phò tá ấu chúa Hán Hiến Đế.
Tào Tháo nói: “Tội của Đổng Trác, tàn bạo khắp bốn bể. Nay chúng ta tập hợp đại quân, dấy nghĩa binh, xa gần đều hưởng ứng, đó là vì lấy nghĩa mà cảm động lòng người. Nay ấu chúa thế yếu, bị gian thần khống chế, chưa hề có họa mất nước như thời Xương Ấp, mà lại vội vàng thay đổi, thì thiên hạ còn ai yên ổn được? Chư quân hướng về phương Bắc, còn ta sẽ tiến về hướng Tây.”
Tào Tháo nhiều lần khuyên can mà không được nghe theo, nghĩa quân vì thế mà bỏ lỡ thời cơ tốt, nỗi thất vọng của ông sâu nặng biết bao! Nhìn cảnh “muôn dân chết chóc, trăm họ sống sót chưa được một”, ông “nghĩ đến mà đứt ruột”. Ông hiểu rõ các chư hầu chỉ biết tự bảo toàn, mưu cầu tư lợi, nên không thể trông cậy vào người khác; còn bản thân lực yếu không địch nổi, suýt nữa mất mạng, trong lòng đau buồn biết bao!
Nhưng một khi đã quyết “chư quân hướng Bắc, ta đi về hướng Tây” (tức là các chư hầu quay về phương Bắc quy phục Lưu Ngu ở U Châu, còn ông tự mình đi Tây chinh Đổng Trác), ông quyết tâm phò vua, hưng quốc, cứu dân khỏi cảnh sinh tử. Một mình gánh vác đại nghĩa, dẫu đối mặt với muôn người, ta vẫn tiến bước!
Hình vẽ Đổng Trác kèm lời đề tựa, trích từ bản hiệu ấn của Quảng Bách Tống Trai vào tháng Chạp năm Canh Dần, niên hiệu Quang Tự triều Thanh (1890). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
III. Phò Đạo giáo, tụ Tào môn, ứng vận hưng
Năm Kiến Sơ thứ tư thời Đông Hán (năm 79), Hán Chương Đế từng mời tập hợp các bậc danh nho và chư vương tại Bạch Hổ Quán để thống nhất các học phái Nho học, từ đó soạn thành bộ “Bạch Hổ Thông Nghĩa”, giúp Nho giáo ngày càng hưng thịnh.
Đến cuối thời Đông Hán, thiên triều đại Đại Hán đã dần đi đến hồi kết. Hệ thống văn hóa truyền thống “Trong Đạo ngoài Nho” do Hán Vũ Đế thiết lập đến lúc này đã bị đám hủ nho cắt xén phá hoại. Cùng lúc đó, Phật giáo từ Ấn Độ cũng bắt đầu truyền sang phương Đông, tất cả đều muốn diễn xướng và kết duyên tại vùng đất Thần Châu, hy vọng có thể lưu lại dấu ấn huy hoàng trong dòng chảy 5000 năm lịch sử của nền văn hóa Thần truyền. Do đó, việc tu luyện Đạo gia cũng thay đổi phương thức “đơn truyền độc tu” trước kia, bắt đầu hình thành nên Đạo giáo để thuận tiện cho việc phổ truyền rộng rãi. Bối cảnh thiên tượng này cũng dẫn đến cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo trong suốt mấy trăm năm sau đó.
Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế đều dốc sức thúc đẩy thuật dưỡng sinh Đạo gia và con đường tu luyện thành Tiên. Các phương sĩ (những người cầu Tiên học Đạo) và phương thuật (các nghề chiêm tinh, xem tướng…) lưu truyền từ thời Tiên Tần đến Đông Hán chính là một bộ phận cấu thành nên Đạo giáo thời kỳ đầu.
Khi Đạo giáo mới hưng khởi, có 3 bộ phận là Thiên Sư đạo, Thái Bình đạo và các phương thuật, họ truyền rộng thuyết “vận khí nhà Hán đã hết, họ Hoàng sẽ thay thế”, nhân danh thiên mệnh mà nói.
Thiên Sư đạo còn gọi là Ngũ Đấu Mễ đạo, do Trương Đạo Lăng sáng lập vào thời Hán Thuận Đế. Trương Đạo Lăng, tự Phụ Hán, người Phong thuộc Bái quốc, Từ Châu; từng là học sinh Thái học, uyên thâm Ngũ Kinh, tinh thông kinh sử, là hậu duệ của Lưu Hầu. Thời Hán Hòa Đế từng ban vàng lụa và xe tứ mã, phong ông làm “Thiên Phó”, nhưng ông không nhận. Về sau, ông cùng đệ tử vào đất Thục, tu đạo tại núi Hộc Minh. Ông thu nhận đông đảo môn đồ; người nhập đạo phải nộp năm đấu gạo, dùng “phù thủy” (bùa chú và nước phép) để chữa bệnh cho người, lại dạy môn đồ tụng đọc sách Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Sau khi Trương Đạo Lăng qua đời, con ông là Trương Hành tiếp tục truyền đạo; khi Trương Hành mất, Trương Lỗ lại kế tục và phát triển phái này.
Chân dung Trương Đạo Lăng. (The Epoch Times chế tác)
Trương Giác người Cự Lộc, Ký Châu, vào thời Hán Linh Đế đã sáng lập Thái Bình đạo. Thái Bình đạo tôn thờ “Hoàng Lão đạo”, còn gọi là “Trung ương Hoàng Lão” hoặc “Trung Hoàng Thái Nhất”, chủ trương “lấy đạo thiện để giáo hóa thiên hạ”, tín đồ lên đến 360.000 người. “Hoàng Lão” ở đây không phải là Hoàng Đế hay Lão Tử, mà là danh xưng của thần linh trong Đạo gia. Thái Bình đạo lấy “Trung Hoàng Thái Nhất” làm vị thiên thần tối cao để thờ phụng, phản đối việc tế tự dâm loạn các thần khác. Trương Giác tự xưng là “Đại Hiền Lương Sư”, truyền bá lời rằng: “Trời Xanh đã chết, trời Vàng sẽ lên; năm Giáp Tý, thiên hạ thái bình”. Năm đầu Trung Bình (năm 184), Trương Giác lấy Thái Bình đạo làm cơ sở khởi sự, lấy khăn vàng quấn đầu làm dấu hiệu, nên được gọi là quân Hoàng Cân. Trương Giác tự xưng “Thiên Công tướng quân”, em là Trương Bảo tự xưng “Địa Công tướng quân”, Trương Lương xưng “Nhân Công tướng quân”. Tám châu hưởng ứng, thanh thế rất lớn, khiến Hán Linh Đế phải “phát động tinh binh khắp thiên hạ” để thảo phạt.
Lúc này, quân Hoàng Cân ở Thanh Châu lên tới hàng triệu người tràn vào Duyện Châu. Thứ sử Duyện Châu là Lưu Đại đem quân nghênh chiến nhưng bị giết. Trần Cung hiến kế để Tào Tháo tự mình nắm chức Duyện Châu mục; Tế Bắc tướng là Bào Tín cũng đón Tào Tháo tới tiếp quản Duyện Châu. Tào Tháo tiến quân đánh Hoàng Cân. Ông thân chinh tuần tra khích lệ quân sĩ, thưởng phạt nghiêm minh, thừa cơ bố trí kỳ binh, ngày đêm giao chiến, lại nhiều lần mở đường chiêu hàng. Mỗi trận đều bắt được địch, khiến quân Hoàng Cân dần rút lui. Tháng Chạp năm 192, Tào Tháo dẫn hơn một vạn quân truy kích đến Tế Bắc, quân Hoàng Cân xin hàng. Ông tiếp nhận hơn ba mươi vạn binh sĩ Hoàng Cân cùng hơn một triệu dân nam nữ, chọn lọc tinh nhuệ lập thành “Thanh Châu binh”.
Quân Hoàng Cân Thanh Châu chiến đấu cực kỳ dũng mãnh, “binh đều điêu luyện”. Chỉ với hơn một vạn quân, vì sao Tào Tháo có thể thu phục hơn 30 vạn quân Hoàng Cân? Một nguyên nhân quan trọng là quân Hoàng Cân theo Thái Bình đạo nên cùng một tín ngưỡng “Đạo”, dễ chấp nhận quy phục. Quân Hoàng Cân từng gửi thư cho Tào Tháo: “Trước kia ở Tế Nam, ông phá hủy thần đàn, nhưng đạo của ông lại tương đồng với Trung Hoàng Thái Ất, dường như hiểu đạo, nay lại mê hoặc. Vận nhà Hán đã hết, họ Hoàng sẽ thay. Đại vận của trời, không phải sức người như ông có thể giữ được”. Thanh Châu binh hàng Tào Tháo chứ không hàng nhà Hán, chỉ vì cùng “đồng Đạo” mà ra sức giúp ông. Đến khi Tào Tháo qua đời, Thanh Châu binh tự ý đánh trống rồi rút đi. “Hội Thái Tổ (Tào Tháo) băng, phách sở bộ cập thanh châu binh, dĩ vi thiên hạ tương loạn, giai minh cổ thiện khứ.” (“Tam quốc chí – Ngụy thư”) Tam dịch là: Đến khi Thái Tổ (Tào Tháo) băng hà, quân của Bá và Thanh Châu binh cho rằng thiên hạ sắp loạn, đều đánh trống tự ý bỏ đi.
Tào Tháo sau khi thu nhận và sử dụng quân Hoàng Cân của Thái Bình đạo, lại tiếp tục chiêu nạp Trương Lỗ thuộc Ngũ Đấu Mễ đạo (Thiên Sư đạo). Ông dời dân Hán Trung để làm sung túc vùng Trường An và Tam Phụ, khiến Thiên Sư đạo dần di chuyển ra phương Bắc, từ đó truyền bá rộng rãi, rồi lại lan xuống Giang Nam. Sau khi trở thành Ngụy vương, Tào Tháo triệu tập các phương sĩ khắp nơi về Nghiệp Thành, “Thế hữu phương sĩ, ngô vương tất sở chiêu trí” (Tào thực – “Biện đạo luận”). Tạm dịch là: Trên đời có phương sĩ nào, vua ta đều chiêu nạp cả. Nghiệp Thành khi ấy trở thành trung tâm văn hóa phương thuật. Trong nước Ngụy, trên dưới đều chuộng Đạo, góp phần thúc đẩy sự hưng thịnh và phát triển của Đạo giáo. Trương Lỗ của Ngũ Đấu Mễ đạo với tâm thế “thà làm tôi tớ của Ngụy công”, giương cờ “người áo vàng sẽ xưng vương” mà quy thuận Tào Tháo; các phương sĩ các nơi cũng bằng nhiều hình thức tụ hội dưới trướng họ Tào. Sự thừa nhận của Đạo giáo đối với Tào Tháo có thể cũng là một lời tuyên bố với thế gian: đức “Hoàng” thuộc về Tào.
Năm Sơ Bình thứ tư (năm 193), mùa xuân, Tào Tháo đóng quân ở Quyên Thành, giao chiến lớn với Viên Thuật. Viên Thuật thua chạy về Phong Khâu, Tào Tháo truy kích vây đánh; chưa kịp hợp vây thì Viên Thuật lại chạy sang Tương Ấp. Tào Tháo tiếp tục truy đuổi đến Thái Thọ, Viên Thuật chạy sang Ninh Lăng, rồi lại chạy đến Cửu Giang. Tào Tháo giành thắng lợi, đến mùa hạ thì rút quân về Định Đào.
Cũng vào đầu năm ấy, tại Hạ Bì, Khuyết Tuyên tụ tập mấy nghìn người, tự xưng thiên tử. Từ Châu mục là Đào Khiêm cùng Khuyết Tuyên khởi binh, chiếm các nơi như Hoa, Phí thuộc Thái Sơn, rồi đánh chiếm Nhậm Thành. Mùa thu, Tào Tháo đem quân đánh Đào Khiêm, hạ hơn 10 thành; Đào Khiêm cố thủ trong thành không dám ra đánh.
Năm Hưng Bình thứ hai (năm 195), mùa hè, Lữ Bố sai tướng Tiết Lan và Lý Phong đóng quân ở Cự Dã. Tào Tháo đem quân tấn công, Lữ Bố kéo quân đến cứu nhưng thất bại phải rút lui, Tào Tháo liền chém Tiết Lan cùng Lý Phong.
Sau đó, Lữ Bố lại từ Đông Mân cùng Trần Cung dẫn hơn một vạn quân đến giao chiến. Lúc này quân Tào phần lớn đang ra ngoài gặt lúa, quân giữ trại chưa tới nghìn người, doanh trại lại không vững. Tào Tháo bèn cho phụ nữ lên giữ thành, còn mình dốc toàn bộ binh lực ra chống địch.
Phía tây doanh trại có một con đê lớn, phía nam cây cối rậm rạp. Lữ Bố nghi có phục binh nên nói với tướng sĩ: “Tào Tháo nhiều mưu trá, chớ sa vào ổ phục kích.” Rồi dẫn quân đóng cách đó hơn 10 dặm về phía nam. Hôm sau lại tiến quân. Lần này, Tào Tháo giấu quân trong đê, chỉ cho một nửa quân xuất hiện bên ngoài. Lữ Bố tiến sâu hơn, Tào Tháo sai quân mang trang bị nhẹ ra khiêu chiến. Khi hai bên giao chiến, phục binh đồng loạt xông ra, bộ kỵ cùng tiến, đại phá quân Lữ Bố, thu được cả xe trống trận, truy kích đến tận doanh trại rồi mới quay về. Ban đêm Lữ Bố bỏ chạy. Tào Tháo lại tiến công chiếm Định Đào, chia quân bình định các huyện khác. Cuối cùng, Tào Tháo thu phục lại toàn bộ các thành trì, đánh bại Lữ Bố tại Cự Dã. Lữ Bố chạy về phía đông nương nhờ Lưu Bị. Trương Mạo theo Lữ Bố, sai em là Trương Siêu đưa gia quyến giữ Ung Khâu.
Tháng tám mùa thu Tào Tháo vây đánh Ung Khâu suốt mấy tháng. Đến mùa đông, tháng mười, thiên tử ban chức cho Tào Tháo làm Duyện Châu mục. Tháng mười hai, Tào Tháo công chiếm Ung Khâu, Duyện Châu được bình định, rồi tiến quân về phía đông đánh chiếm vùng đất Trần. Tào Tháo chiêu tập hào kiệt, tuyển mộ người tài người dũng, dùng cả văn lẫn võ, quy tụ đông đảo nhân tài. Từ đó ông hùng cứ một phương, bắt đầu tranh hùng ở Trung Nguyên. Danh tiếng vang khắp thiên hạ, thuận theo thời thế mà trỗi dậy.
(Còn tiếp)
(Theo The Epoch Times)
Dịch từ:

