Trang chủ Right arrow Văn hóa Right arrow Nhân vật anh hùng thiên cổ

Thiên cổ nhất Đế - Hán Vũ Đế (5): An định biên cương, tấn công Hung Nô phương Bắc

16-03-2026

Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5.000 năm

[ChanhKien.org]

Hán Vũ Đế là bậc thiên cổ nhất Đế, trên cùng Tần Thủy Hoàng được xưng “Tần Hoàng Hán Vũ”, dưới cùng Đường Thái Tông khai mở ra thời kỳ “Hán Đường Thịnh Thế”. (Ảnh: Dữu Tử/The Epoch Times)

Hán Vũ Đế Lưu Triệt, Vũ Đế là thụy hiệu của ông, thụy hiệu chính thức là “Hiếu Vũ Hoàng Đế”, sau này người ta giản lược chữ “Hiếu”, gọi ông là “Hán Vũ Đế”, đây cũng là thể hiện sự sùng kính và kỷ niệm thành tựu quân sự hiển hách của Hán Vũ Đế. Thời cổ đại, phép đặt thụy hiệu cho rằng: người có công khắc chế quân địch, bình định họa loạn, mở mang bờ cõi, thì được dùng thụy hiệu là “Vũ” (Võ). Những quân vương có thụy hiệu “Vũ” trong lịch sử có: Chu Vũ Vương, Ngụy Vũ Đế, họ phần lớn là hoàng đế khai quốc, trên lưng ngựa mà giành được thiên hạ, suất lĩnh tinh binh mãnh tướng mở rộng biên cương, kiến lập nên công tích huy hoàng trong lịch sử quân sự.

Hán Vũ Đế là vị hoàng đế thứ 7 thời Tây Hán, nhưng biên cương triều Hán luôn bị uy hiếp từ khi lập quốc, mãi chưa giải quyết được. Với lý niệm chấp chính vô vi mà trị thời kỳ đầu nhà Hán, các triều vua tôi lúc đó đối với vấn đề biên cương thì dùng thái độ thỏa hiệp, buông xuôi. Đến thời Hán Vũ Đế, kế thừa tài phú cự đại tích lũy từ thời đầu nhà Hán, ôm hùng tâm tráng chí thu phục giang sơn, thông qua hàng loạt biện pháp quân sự và ngoại giao với các quốc gia vùng biên, ông đã thực hiện được mục tiêu chỉnh đốn lại biên cương, mở mang cương vực, kiến lập lên một đế quốc đa dân tộc, hiển dương vinh diệu và quyền uy của đế quốc Đại Hán ra bốn biển.

Do vậy, một chữ “Vũ” dùng khái quát thành tựu một đời của Hán Vũ Đế là phù hợp nhất. Trong phần trước, chúng ta đã biết về hai đại danh tướng của Hán Vũ Đế là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh. Chính là do Hán Vũ Đế có huệ nhãn trọng dụng hai vị này mà vương triều Tây Hán đã bình định được biên cương, giải quyết mối lo từ thời lập quốc, cũng thành tựu nên công tích to lớn của Hán Vũ Đế rực rỡ lịch sử ngàn năm. Đó là đánh bại Hung Nô, kẻ thường quấy nhiễu biên cương phía Bắc, an định toàn bộ vùng biên giới phía Bắc.

Để chuẩn bị chiến đấu với Hung Nô, Hán Vũ Đế cải cách chế độ quân đội, phát triển kỵ binh. Đây là một phần bức tranh “Xuất cảnh đồ” do người thời nhà Minh vẽ, hiện lưu giữ tại bảo tàng Cố Cung Đài Bắc (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Họa Hung Nô

Bắt đầu từ phần này, chúng tôi sẽ nói về quá trình trước và sau khi bình định Hung Nô của Hán Vũ Đế. Hung Nô là một dân tộc thiểu số phía Bắc, trước thời Hán cũng gọi là tộc Hồ, Quỷ Phương, Sơn Nhung, Hiểm Doãn, trong “Sử ký” nói tổ tiên người Hung Nô là hậu duệ của Hạ Hậu thị, có quan hệ huyết thống với dân tộc Hoa Hạ. Thời nhà Tần, có dạo Hung Nô đã bị đại tướng Mông Điềm đánh bại, chạy dạt về sa mạc phía Bắc, hơn 10 năm không dám xuống phía Nam.

Sau khi nhà Tần diệt vong, Hung Nô nhân lúc Hán, Sở đánh nhau, lại một lần nữa quật khởi, quay lại khống chế vùng đất rộng lớn Tây Bắc Bộ, Bắc Bộ và Đông Bắc Bộ. Sau khi nhà Hán kiến lập vương triều, Hung Nô tham lam tàn bạo liên tục uy hiếp biên cảnh Tây Hán. Trong “Ngôn binh sự sớ” của Trào Thác có viết: “Hồ lỗ sổ nhập biên địa, tiểu nhập tắc tiểu lợi, đại nhập tắc đại lợi” “Công thành đồ ấp, ẩu lược súc sản” “Sát lại tốt, đại khấu đạo.” Tạm dịch là: Hung Nô nhiều lần xâm phạm biên cảnh, quy mô nhỏ cướp ít, quy mô lớn cướp nhiều, cướp thành cướp ấp, sát hại quan lại và dân chúng, tàn bạo vô cùng.

Để an định phương Bắc, năm 201 TCN, Hán Cao Tổ Lưu Bang đã từng thống lĩnh đại quân thân chinh Hung Nô, nhưng cuối cùng thất bại, bị vây khốn ở núi Bạch Đăng 7 ngày 7 đêm, sau cùng phải hối lộ hoàng hậu của Thiền Vu – vua Hung Nô (người Hung Nô gọi là Yên Thị), mới thoát hiểm. Sau đó, Hán Cao Tổ đành phải dùng chính sách kết thân, tặng cho tơ lụa, lương thực vật phẩm, nhằm giảm thiểu can nhiễu của Hung Nô. Những vua nhà Hán về sau cũng theo chính sách này mà duy trì, không giải quyết được gốc rễ vấn đề, Hung Nô thường xuyên vi phạm hiệp ước hòa hiếu kết giao, xâm phạm biên cương, sát nhân cướp của.

Nhưng hiệp ước kết giao cũng mang lại cho triều Hán cơ hội nghỉ ngơi dưỡng sức. Đến thời Hán Vũ Đế, quốc gia hưng thịnh, quốc khố đầy ắp, bách tính sung túc, đặt ra cơ sở vật chất vững chắc hùng hậu cho việc chinh phạt Hung Nô của Hán Vũ Đế.

Hán Vũ Đế trước khi tại vị đã nghe nhiều chuyện bạo ngược của Hung Nô, nên sau khi lên ngôi là tích lũy lực lượng chờ thời, chuẩn bị đánh Hung Nô. Về quân sự, Hán Vũ Đế cải cách chế độ quân đội, phát triển đội kỵ binh. Quân đội Tây Hán gồm các binh chủng: Xa binh, Bộ binh, Cung nỏ binh, Kỵ binh, Thủy sư binh, nhưng Hung Nô uy hiếp quân Hán chủ yếu là kỵ binh. Hán Vũ Đế nhận ra, muốn đánh bại Hung Nô, phải dùng kỵ binh mà đối kháng, muốn vậy phải có ngựa tốt, kỵ sĩ dũng mãnh, vũ khí sắc bén, huấn luyện bài bản, tướng lĩnh kiệt xuất.

Tất cả những điều đó Hán Vũ Đế đều làm được. Đầu tiên ông đưa số lượng ngựa nuôi dưỡng lên 45 vạn con, đồng thời tuyển chọn những dũng sĩ trung thành dũng cảm, võ nghệ cao cường, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, tổ chức thành hai đội quân thị vệ tinh nhuệ, một gọi là “Kỳ môn lang”, một là “Vũ lâm kỵ”. Ông là vị Hoàng đế đầu tiên tạo ra tiền lệ Thiên tử có thân quân (đội quân bên cạnh nhà vua) trong lịch sử Trung Hoa.

Hán Vũ Đế còn bổ sung mở rộng lực lượng thường trực là “Bắc quân”, đặt chức “Bát hiệu úy”, gồm Đồn kỵ, Bộ binh, Việt kỵ, Trường thủy, Hồ kỵ, Xạ thanh, Hổ bôn, Trung lũy, trong đó hầu hết là Kỵ binh. Để kỵ binh được trang bị vũ khí sắc bén, ông còn lệnh cho kho binh khí của hoàng cung sản xuất và cung cấp lượng lớn đao, kiếm, giáo, tên sắt, giáp sắt cùng cung nỏ, binh khí thông dụng được trang bị cho kỵ binh là nỏ cứng, giáo dài và đao.

Nỏ cứng tức là “Nỏ bằng đồng”, giống như nỏ thời Tần, là binh khí bắn xa có uy lực lớn. Còn một loại Nỏ nữa là “Đại hoàng” rất lợi hại, vị danh tướng trong lịch sử là Lý Quảng đã từng dùng nó bắn hạ nhiều tướng lĩnh Hung Nô. Giáo dài (trường kích) là vũ khí chủ yếu nhất của quân sĩ nhà Hán.

Hán Vũ Đế nhanh chóng thiết lập xong quân đoàn kỵ binh uy mãnh hùng tráng, chỉ cần thời cơ thích hợp là vị thiên tử Đại Hán có thể phát động chinh phạt Hung Nô.

Hán Vũ Đế thường triển khai thảo luận quyết sách hòa hay đánh với Hung Nô trên triều đình. Trong hình là một phần bức tranh “Phúc thọ tề thiên sách. Gia hựu tứ chân”, không rõ tác giả. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng).

Đêm trước đại chiến

Thời Hán Vũ Đế, quan hệ Hán, Hung có thể phân làm ba thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ chuẩn bị, lấy hòa mà chiến. Khi mới lên ngôi, Hán Vũ Đế rất căm giận Hung Nô bội tín bất nghĩa, muốn động binh thảo phạt, nhưng suy xét: thứ nhất là thiên tử vừa mất, chính quyền chưa ổn định; thứ hai là trong triều đình còn nhiều vị muốn thủ hòa; thứ ba là động binh lại vi phạm lý niệm vô vi của tiền nhân, Hán Vũ Đế vẫn bị Đậu Thái Hậu kiềm chế.

Ví dụ năm Kiến Nguyên thứ sáu (năm 135 TCN), Hung Nô cầu hòa, Hán Vũ Đế triệu tập đại thần thương nghị, triều đình đã bắt đầu có tiếng nói chủ chiến. Vương Khôi đảm nhiệm vị trí “Đại Hành Lệnh”, phụ trách ngoại giao quốc gia, ông cho rằng Hung Nô phản phúc khó lường, tính tình hung tàn, cần hưng binh thảo phạt. Nhưng Ngự sử đại phu Hàn An Quốc lại cực lực phản đối, ông nói: Hung Nô là dân du mục, nếu quân Hán bôn ba ngàn dặm tiến đánh, người ngựa mỏi mệt, quá nguy hiểm, chi bằng kết thân sẽ ổn thỏa hơn. Các đại thần khác cũng đồng ý kết thân.

Trong “Sử ký – Hung Nô liệt truyện” có viết, Hán Vũ Đế tiếp tục kéo dài hòa ước kết minh, hậu đãi Hung Nô, trao đổi mậu dịch, cung cấp đủ đầy; Hung Nô từ Thiền Vu trở xuống đều nguyện ý thân cận Hán triều, thường xuyên lui tới Trường Thành. Nhưng đây chỉ là bề ngoài, Hán Vũ Đế chỉ là ẩn nhẫn tạm thời, trên thực tế đang tích cực chuẩn bị phản công Hung Nô. Ví dụ như phát triển quân đội như nói ở trên, còn phái Trương Khiên đi sứ Tây Vực.

2 năm sau, cũng chính là năm Nguyên Quang thứ hai (năm 133 TCN), ở huyện Mã Ấp (nay là Sóc Châu tỉnh Sơn Tây), một thương gia giàu có tên là Nhiếp Ông Nhất rất lo lắng về nạn cướp bóc của Hung Nô ở biên giới, thông qua Vương Khôi, ông đã kiến nghị lên Hoàng Đế rằng, sau khi kết thân, Hán triều đã giữ chữ tín làm Hung Nô tin tưởng, nay chỉ cần lấy lợi mà dụ dỗ, là có thể đánh bại chúng. Hán Vũ Đế lại cho triển khai thương nghị trong triều, trong “Tư trị thông giám” ghi chép rằng hai phái đại thần tranh luận kịch liệt.

Hàn An Quốc chủ hòa, nói: “Hán Cao Tổ bị vây khốn, cạn lương thực 7 ngày, sau khi giải vây, lấy thiên hạ làm trọng, cầu hòa với Hung Nô, tiếp theo 5 đời đế vương, quốc gia đều có lợi ích từ việc hòa hoãn đó”. Vương Khôi phản bác: “Cao Tổ không phục thù, là vì sự an định của thiên hạ. Nhưng bây giờ thiên hạ đã an định, biên thùy nhiều lần cảnh báo, binh sĩ cùng dân chúng bị thương vong thảm trọng”. Hàn An Quốc nói: “Quân Hán đường xa mỏi mệt, thâm nhập xứ địch, vật tư vận chuyển khó khăn, tác chiến rất khó, không xuất binh là hơn”. Vương Khôi cũng nói thẳng: “Đánh Hung Nô có thể dụ địch đến biên cương, đặt kỵ binh phục kích, nhất định thắng”. Sau cùng bên chủ hòa không nói được gì, Hán Vũ Đế quyết định chính thức cải biến chính sách đối với Hung Nô, từ hòa sang chiến.

Cùng năm ấy, Hán Vũ Đế sắp đặt 6 vị tướng như Hộ quân Tướng quân Hàn An Quốc, Tướng đồn Tướng quân Vương Khôi, Kiêu kỵ Tướng quân Lý Quảng và những người khác, dẫn 30 vạn quân thực hiện kế hoạch dụ địch vào phục kích, Nhiếp Nhất làm nội ứng lừa Thiền Vu Quân Thần, đây là mưu kế nổi danh trong lịch sử gọi là “Mã Ấp chi mưu”. Nhiếp Nhất nói, ông sẽ giết Lệnh Thừa của Mã Ấp, dâng thành đầu hàng Hung Nô, tất cả tài vật trong thành đều thuộc về Hung Nô. Thiền Vu đều tin là thật, hẹn thời gian hành động. Đến ngày ấy, Nhiếp Nhất cho treo vài đầu lâu lên thành, phía Bắc thành cho thả rông một đàn gia súc, đồng thời cho 30 vạn quân Hán mai phục ngoài thành.Thiền Vu dẫn 10 vạn kỵ binh lao đến Mã Ấp, nhìn thấy gia súc nên sinh nghi hoặc, liền bắt một viên quan úy vùng lân cận tra hỏi, biết được quân Hán đang mai phục. Quân Hung Nô kinh hoàng rút chạy, khi quân Hán biết tin truy đuổi, thì Hung Nô đã cao chạy xa bay, “Mã Ấp chi mưu” đã thất bại. Vương Khôi nguyên được giao cho tấn công đoàn xe chở quân nhu của Hung Nô, nhưng khi lâm trận không dám xuất kích, sau đó sợ tội mà tự sát.

Từ đây, quan hệ hòa bình giữa Hán – Hung mấy chục năm đã hoàn toàn tan vỡ, đoạn tuyệt bang giao. Hung Nô nhiều lần quấy nhiễu xâm phạm biên ải, nhưng Hán Vũ Đế đã có chuẩn bị kỹ càng, quân Hung Nô bị nhận đòn đau, bắt đầu cuộc chiến Hán – Hung kéo dài mười mấy năm.

Tranh vẽ Vệ Thanh trong “Bảng một trăm vị anh hùng” của Vương Song Khoan. (Vương Song Khoan cung cấp).

Tài năng mới lộ

Khoảng 4 năm sau, tức năm Nguyên Quang thứ sáu (năm 129 TCN), Hung Nô lại cử đại quân xâm phạm quấy nhiễu nhà Hán, một mạch tiến sâu vào Trương Gia Khẩu, Hà Bắc ngày nay, dọc đường chúng đốt nhà cướp của, bách tính lầm than khổ không thể tả. Một bản tấu chương cấp báo dày đã tới tay Hán Vũ Đế. Long nhan đại nộ, Hán Vũ Đế nói với cận thần: “Trẫm đang chuẩn bị thảo phạt Hung Nô, thì chúng lại tự dẫn xác đến!” Hán Vũ Đế chờ đợi thời cơ đã lâu, nay là lúc cùng Hung Nô quyết phân cao thấp. Thêm nữa, ông đã có một vị tướng quân sự kỳ tài – Vệ Thanh, người sẽ giúp ông thực hiện việc chế ngự Hung Nô.

Phần trước chúng ta đã biết, Vệ Thanh là nô lệ dắt ngựa cho công chúa Bình Dương, chị của ông là Vệ Tử Phu nhập cung được sủng ái, nhờ vậy ông được Hán Vũ Đế để mắt tới mà trở thành cận thần. Nhưng Hán Vũ Đế không vì vậy mà đề bạt Vệ Thanh, mà do ông có thực tài bắn cung cưỡi ngựa, là người cẩn thận khiêm tốn, hành sự quả cảm. Trước đại chiến, Vệ Thanh đã đảm nhiệm những chức vụ: Kiến Chương Giám, Thị Trung, Thái Trung Đại Phu, học tập công vụ bên cạnh Hán Vũ Đế, rất được tín nhiệm.

Để chinh phạt Hung Nô, Hán Vũ Đế lập tức triệu kiến Vệ Thanh, Công Tôn Hạ, Công Tôn Ngao, Lý Quảng, lệnh cho họ làm tướng quân xuất chinh Hung Nô, đồng thời nói rõ ý đồ chiến lược lần này, tức dùng sách lược chia quân đột kích, cho người Hung Nô một bài học, để họ lĩnh giáo uy lực quân đội Đại Hán. Nhưng quân Hán không cần thâm nhập sâu vào đất địch, đợi chuẩn bị xong xuôi mới tấn công lớn. 4 vị tướng quân mỗi vị cầm vạn binh mã nhanh chóng tới biên ải, đây là lần đầu tiên quân Hán tổ chức phản công trên quy mô lớn.

Trong 4 vị tướng quân, Vệ Thanh và Công Tôn Ngao là được đặc cách đề bạt, không có kinh nghiệm thực chiến trước đây. Công Tôn Ngao lúc đầu là quan coi ngựa của Hán Vũ Đế, do cứu Vệ Thanh mà được Hán Vũ Đế trọng dụng. Đối với hai vị này, các quan còn có những nghi ngờ. Nhưng Hán Vũ Đế vẫn tin chắc rằng Vệ Thanh trong chiến dịch này sẽ có công tích không kém gì tướng quân Lý Quảng. Quả không sai, Vệ Thanh dẫn đầu kỵ binh từ Thượng Cổ (nay là Hoài Lai, Hà Bắc) xuất phát, không câu nệ theo sách lược ban đầu, tấn công thẳng Long Thành (nay là vùng Xilingol, Nội Mông Cổ), trung tâm chính trị, văn hóa, tế tự của Hung nô, bắt làm tù binh hơn 700 người Hung Nô.

3 lộ đại quân còn lại, Công Tôn Hạ không tấn công mà rút lui; Công Tôn Ngao giao chiến với Hung Nô, làm 7 nghìn kỵ binh tử trận, cho nên bị phán tội chết, sau nộp vàng chuộc tội, bị biếm chức làm thường dân. Tướng quân được coi là uy dũng nhất – Lý Quảng, thì bị Hung Nô phục kích, bắt làm tù binh, sau may mắn trốn thoát quay về, bị biếm chức làm dân thường.

Kết quả này, một mặt làm Hán Vũ Đế rất đau lòng, nhưng mặt khác, thắng lợi của Vệ Thanh – người được ông đề bạt, cũng an ủi Hán Vũ Đế rất nhiều, ông lập tức phong Vệ Thanh làm Quan Nội Hầu. Vệ Thanh uy dũng ba quân, một trận thành danh.

Năm sau (năm 128 TCN), người Hung Nô điên cuồng phục thù, cướp phá biên cương, sát hại Thái Thú Liêu Tây, đồng thời xâm phạm Ngư Dương (nay là Mật Vân, tây nam Bắc Kinh). Hán Vũ Đế quyết định phát động chiến tranh lần nữa. Lần này ông càng trọng dụng Vệ Thanh, giao cho cầm 3 vạn kỵ binh tinh nhuệ, tiến lên Nhạn Môn phía Bắc, tập trung binh lực, tiêu diệt quân đội Hung Nô. Đồng thời phái tướng quân Lý Tức dẫn quân tác chiến phối hợp với Vệ Thanh. Hai vị này không phụ mong đợi, diệt mấy nghìn quân Hung Nô, giành được đại thắng. Trận chiến Nhạn Môn là thắng lợi chính thức đầu tiên của Hán Vũ Đế trước Hung Nô, cổ vũ sĩ khí cả triều đình.

Trong thời gian này, Lý Quảng cũng làm quân Hung Nô nghe danh mà run sợ. Ông được phục chức Thái Thú Hữu Bắc Bình (nay là Lăng Nguyên, tây nam Liêu Ninh), ông từng cướp cung bắn ngã kỵ binh Hung Nô, trăm phát trăm trúng. Hung Nô kính sợ gọi ông là “Phi tướng quân”, mấy năm không dám xâm phạm địa giới cai quản của ông.

Thắng lợi Mạc Nam càng làm cho vùng đất hiểm yếu Sóc Phương thêm vững chắc, triệt để tiêu trừ uy hiếp của Hung Nô đối với kinh đô Trường An. Trong hình là một phần bức “Xuất Cảnh Đồ” do họa sĩ đời Minh vẽ, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Thu phục Hà Nam

Sau khi giáo huấn xong Hung Nô, Hán Vũ Đế muốn tiến hành cải cách chính trị, nhưng năm Nguyên Sóc thứ hai (năm 127 TCN), Hung Nô xâm nhập mấy vùng như Thượng Cốc (nay là đông nam Hoài Lai, Hà Bắc) và Ngư Dương, sát hại hơn nghìn quân dân. Hán Vũ Đế quyết định phát động chiến tranh quy mô lớn, phản kích Hung Nô, tiêu diệt mối họa biên cương.

Xét đặc điểm Hung Nô di chuyển mau lẹ, Hán Vũ Đế lựa chọn sách lược tránh đối đầu trực diện, né mạnh đánh yếu. Ông phái Vệ Thanh, Lý Tức lần thứ hai cầm quân phản kích, tiến công vùng Hà Sáo là nơi Hung Nô chiếm cứ. Nơi đây thời cổ gọi là “Hà Nam địa”, gần với quốc đô Trường An, kỵ binh Hung Nô hai ngày là tới, uy hiếp cực lớn đến Hán triều.

Vệ Thanh dẫn đại quân men theo Hoàng Hà đi về phía tây, tập kích vào vùng mà quân của Lâu Phiền Vương và Bạch Dương Vương của Hung Nô đang chiếm cứ, tiêu diệt 5 nghìn quân Hung Nô, thu về hàng trăm vạn dê, bò, cuối cùng thu phục được “Hà Nam địa”. Hán Vũ Đế nghe theo kiến nghị của quan đại thần Chủ Phụ Yển, cho lập Sóc Phương quận và Ngũ Nguyên quận, đồng thời cho xây thành Sóc Phương, di dân hơn 10 vạn đến sinh sống trồng trọt. Ngoài ra còn cho tu sửa thành trì của Mông Điềm ngày trước, khôi phục biên cương một dải Âm Sơn.

Việc thu phục “Hà Nam địa” của Hán Vũ Đế có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, không chỉ tăng cường biên phòng dọc Hoàng Hà, trừ bỏ sự uy hiếp đối với Trường An, mà còn lập nên cơ sở phản kích Hung Nô. Trên thực tế, hành động này của Hán Vũ Đế đã làm Hung Nô tổn thương trầm trọng, Thiền Vu Quân Thần nghe tin lăn ra ốm, 2 năm sau (năm 126 TCN) thì qua đời, em trai là Y Trĩ Gia kế vị. Thiền Vu mới lên (vua Hung Nô gọi là Thiền Vu) không cam tâm để mất vị trí chiến lược này, nhiều lần tập kích một dải Sóc Phương, Nhạn Môn, Định Tương nhằm chiếm lại vùng Hà Nam.

Hán Vũ Đế vốn định phản kích, nhưng vừa lúc Hoàng Thái Hậu qua đời. Để thủ hiếu nên Hán Vũ Đế nén giận trong lòng, không xuất binh. Điều này làm Thiền Vu Y Trĩ Gia nhầm tưởng rằng Hán triều binh lực không đủ để tác chiến, nên xuất binh đánh chiếm phía Bắc Sơn Tây và phía Nam Nội Mông, đồng thời ấp ủ tấn công quy mô lớn. Năm Nguyên Sóc thứ tư (năm 125 TCN), vua Hung Nô Y Trĩ Gia xuất 9 vạn kỵ binh chia 3 đường tấn công Đại Quận (nay thuộc Hà Bắc), Định Tương (nay nằm trong Mông Cổ), Thượng Quận (nay là Thiểm Tây), Hung Nô Hữu Hiền Vương cũng nhân cơ hội tấn công thành Sóc Phương, biên giới phía Bắc nhiều nơi cấp báo. Tuy quân Hán ra sức chống đỡ, nhưng vẫn bị tổn thất nặng nề, mấy nghìn người bị bắt.

Nhận được tin báo liên tiếp, Hán Vũ Đế nhẫn vô khả nhẫn, tại hội nghị triều đình đề xuất ngay mục tiêu chiến lược “từ phòng Hồ sang diệt Hồ”. Hán Vũ Đế nhận định, phòng vệ đơn thuần, không trừ được gốc của họa, không diệt được Hung Nô, di hại trăm năm, mà trừ bỏ họa căn sẽ tạo phúc muôn đời, có dốc toàn lực quốc gia cũng phải làm. Khí phách của Hán Vũ Đế đã cổ vũ sĩ khí của triều đình và tướng sĩ.

Mùa xuân năm sau (năm 124 TCN), Hán Vũ Đế phát động chiến tranh ở Mạc Nam. Vệ Thanh được phong làm Thống Soái, cầm 6 vị tướng quân cùng 10 vạn kỵ binh tinh nhuệ tiến về phía Bắc tấn công Hung Nô. Một đạo quân do tướng quân Lý Tức, xuất quân ở Hữu Bắc Bình (nay là tây nam Ninh Thành, Nội Mông Cổ), áp chế Thiền Vu và Tả Hiền Vương, phối hợp hành động với quân chủ lực Vệ Thanh, giành được nhiều thắng lợi. Vệ Thanh dẫn một đạo quân rời Sóc Phương, tiến thẳng Mạc Nam, tập kích căn cứ của Hung Nô Hữu Hiền Vương. Hữu Hiền Vương có mơ cũng không tưởng tượng được quân Hán như từ trên trời rơi xuống, cuống cuồng cùng vài trăm hộ vệ chạy thoát, còn hơn 10 Bì vương (tiểu vương Hung Nô), 10 vạn 5 nghìn người Hung Nô, cùng trên 100 vạn gia súc, đều trở thành chiến lợi phẩm của Vệ Thanh.

Tin báo thắng trận Mạc Nam truyền tới kinh thành, Hán Vũ Đế rất đỗi vui mừng, ngoài việc phong Vệ Thanh làm Đại Tướng, lại phong thêm 8 nghìn hộ dân cho ấp cũ, ba con trai đều được phong hầu. Phong thưởng hậu đãi như vậy, từ khi Hán triều lập quốc cho đến nay, chỉ có Tiêu Hà thời đầu nhà Hán là được như thế. Vệ Thanh khiêm tốn không nhận, nói đó là công lao của các tướng sĩ đã vào sinh ra tử mà thành.

Kỳ thực, Vệ Thanh có tài có đức, xứng đáng với sự phong thưởng đó. Sử sách còn ghi chép rằng Vệ Thanh quản quân hiệu lệnh nghiêm minh, thương xót cấp dưới. Khi lâm trận, ông tiên phong như sĩ tốt; khi có thưởng thì chia hết cho thủ hạ, không giữ riêng mình; dọc đường hành quân, dừng chân cắm trại, binh sĩ nghỉ ngơi trước, ông nghỉ ngơi sau; gặp sông sâu suối xiết, để binh sĩ qua sông an toàn hết, ông mới sang sau. Cho nên tướng sĩ đều nguyện ý cùng ông xuất chinh tác chiến. Có thể nói Vệ Thanh là vị tướng lĩnh trung nghĩa mà Trời ban cho Hán Vũ Đế, cũng là chỗ sáng suốt trong việc nhìn người, dùng người của Hán Vũ Đế.

Thắng lợi trong trận chiến Mạc Nam làm vững chắc thêm vùng đất quan trọng Sóc Phương, triệt để tiêu trừ mối nguy uy hiếp đến kinh đô Trường An, chia cắt Hung Nô làm hai, thuận tiện cho quân đội nhà Hán chia để trị.

(Còn tiếp)

Phụ trách biên tập bản tiếng Trung: Lý Tịnh Thành

Dịch và chỉnh lý từ:

https://www.epochtimes.com/gb/19/8/10/n11444677.htm

https://minhchantuong.com/anh-hung-thien-co/han-vu-de-chuong-5-tran-dinh-bien-cuong-tan-cong-hung-no/

« Bài trước

Ban Biên Tập Chánh Kiến

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.

Loạt bài